home Truyện Dài Cánh Đồng Nước Nổi (11)

Cánh Đồng Nước Nổi (11)

Ngồi nói chuyện với thằng nhỏ giữ lái, Nguyệt Nga cảm thấy thư thả trong người đôi chút. Còn một đoạn đường sông đến chiều nay nàng sẽ đến Sài Gòn. Đất phồn hoa đô hội nức tiếng từ nào đến giờ, Hải đã cho biết đất rộng mênh mông nhà cửa, đường sá dập dìu, xe cộ đan như mắc cưởi chớ không đồng không mông quạnh nhu ở làng quê, nếu không khéo thì đi lạc không biết đường về. Nghe nói mà bắt sợ. Nguyệt Nga tấn thối lưỡng nan, đôi đường khó nghĩ. Tư Triệu bỏ đi đâu tự nãy đến giờ, trong lòng nàng đã chớm nở một chút hạnh phúc để xây dựng với Tư Triệu, bây giờ không biết y đi đâu mà Hải gặp nàng rủ về nhà ở chung. Trời ơi là trời! Hổng lẽ đời con khổ quá như vầy. Lời nói ngon ngọt của Tư Triệu vẫn còn như văng vẳng đâu đây chưa ra khỏi tai nàng mà sao y đi trốn đâu mất để cho tên Hải ra mặt với nàng. Không lẻ nào lòng con người thay đổi còn lẹ hơn con nước! Càng nghĩ Nguyệt Nga càng sợ. Thằng nhỏ vẫn ngồi im giữ lái, ngó ra ngoài cảnh vật hai bên bờ càng lúc càng nhộn nhịp hơn. Một vài ghe chở khẳm dưa hấu đang ì ạch hướng về Sài Gòn. Mọi cảnh vật đều mới lạ đối vói nàng. Nắng ấm ám của buổi chiều chiếu xiên xiên trên mặt nước lấp lánh, Nguyệt Nga ngồi bất động. Là một người con gái ở chốn quê mùa, ít học, nhưng Nguyệt Nga sống trong nghịch cảnh, vừa mới lớn đã bị tiếng oan khiên, lăn xả ra đời đụng chạm nhiều cho nên chỉ có vài năm sau nàng đã kinh nghiệm nhiều, nhiều hơn Tư Nhân Hậu, một cô gái có học hơn nàng. Tư Nhân Hậu biết qua sách vở, nàng biết cuộc đời qua cuộc sống ngoài đời. Ông Sáu già không dạy cho nàng biết thế nào là sự đời thế mà nàng còn biết nhiều hơn những chuyện mà tía má nàng chỉ dạy khi còn tuổi ấu thơ. Nguyệt Nga đâm ra nghi ngờ cuộc sống nó không đẹp như cha mẹ nói kể từ ngày nàng ôm cái bụng đi trốn. Chưa một lần nào có tình yêu trai gái. Chưa có lần nào ân ái với đàn ông con trai bằng tất cả những xúc cảm của yêu thương. Aên nằm với Tư Triệu đêm hôm qua cho nàng cảm giác hồi hộp, nồng nàn…tất cả bây giờ thấy Hải xuất hiện, bao nhiêu yêu thương biến mất để sự nghi ngờ nổi dậy. Nguyệt Nga muốn khóc thật lớn cho vơi đi nỗi buồn. Nàng như người bịnh mới dậy, buổi sáng vui vẻ ươm mơ, bây giờ buồn bả ủ dột. Nàng không giữ được tiếng thở dài não ruột phát ra làm thằng nhỏ cầm lái nhìn nàng chăm bẳm. Nó hỏi:
– Ủa, đương không sao chị xìu như cọng bún thiu vậy?
Nguyệt Nga cố nở một nụ cười trả lời:
– Ừ, chị nhớ nhà.
Thằng nhỏ cười hăng hắc:
– Í cha, nhớ gì mà nhớ. Mới đi có ngày đường mà nhớ.
– Hổng phải đâu em…Chị nhớ là nhớ cái ngày Tết mà mình không được ở nhà. Rồi giao thừa, ngày tư ngày tết mình tha phương …buồn quá chớ em.
– Úi hơi sức đâu mà buồn. Chị mới đi xa chị thấy vậy chớ đâu có gì đâu. Gần xịt đó mà, chừng vài giờ xe đò là chị về đến nhà rồi. Tại mình đi đường sông nên lâu lắc đó chị.
Nguyệt Nga biết thằng nhỏ không chia xẻ được với nàng những điều sâu nặng nàng đang mang. Nàng nói xuôi theo:
– Chắc vậy đó em.
Chiếc ghe chao nghiêng khi đụng nhằm một về lục bình trôi trước mũi. Nguyệt Nga ngả nhào vô vách thuyền. Nàng la lên.
– Chuyện gì vậy em.
– Đâu có gì, ghe nó đụng lục bình.
Đám lục bình dềnh dàng bị gạt qua một bên, cặp theo be thuyền xuôi cùng chiều, những cánh hoa màu tím quẹo quặt vì sự đụng chạm đang ngất ngư trong ánh náng chiều đỏ quạch. Nguyệt Nga thò tay ngắt một cái mân mê trong bàn tay.
– Ủa, chị thích nó hả. Mèn ơi! Hổng biết sao lục bình ở đâu mà nó nhảy mau thiệt. Chỗ nào cũng có.
Nguyệt Nga cười với cánh hoa tím trong tay không nói, thằng nhỏ nói tiếp:
– Tụi em đi ghe ghét cái thứ nầy lắm nè. Chị biết hông, ban đêm, ban hôm mình đang ngủ lở mà gặp con nước ngược đụng nó muốn hất mình xuống nước luôn. Thiệt cái thứ nầy hổng có lợi gì hết trơn mà nó nhảy lẹ lắm chị. Ở quê em nhiều lắm.
Nguyệt Nga như cố quên đi nỗi buồn trong lòng. Nàng tìm sự bình yên qua câu chuyện :
– Ừ, nó nhảy lẹ lắm. Em ghét nó nhưng nó cũng có lợi lắm đó em.
Nó cãi:
– Lợi cái con khỉ. Vô vàm, vô kinh có nhiều khi nó lấp mất đường nước nó quấn vô chưn vịt gở mệt thấy mồ luôn chớ lợi khỉ gì.
Nguyệt Nga thấy thương cái chất phát thiệt thà của thằng nhỏ. Nó như đứa em út của nàng ở nhà. Nàng mân mê cánh hoa màu tím đang héo trong tay.
– Em hổng biết đó chớ, như chỗ em người ta làm mương vô vườn, cái lục bình nầy nó giữ bùn cho mương đó em.
– Í cha..chị nói sai bét. Người ta ghét nó lắm đó. Chị biết sao hông. Cứ vài ba năm là phải vét mương một lần vì nó nhảy lẹ lắm nó bít đường nước. Người ta phải vớt nó tấp vô gốc cây đó.
Nguyệt Nga nhìn mặt thằng nhỏ thấy được nét vô tư vẫn còn trên làn da đen vì dang nắng của nó.
– Nè, chị quên hỏi, em thứ mấy? Nói chuyện với em tự nãy giờ mà chị chưa biết tên em.
Nó cười ngây thơ. Giọng nói xởi lởi:
– Đâu có gì đâu. Em tên Vinh.
– À, Vinh nè. Để chị nói em nghe, mấy cái về lục bình nầy nó giữ phân trời cho để bón ruộng đó em. Nếu mà không có nó giữ lại thì bùn non đâu có ở trong mương mà nó trôi tuột ra sông ra biển ráo trọi đó em.
Thằng Vinh nhăn mặt biểu lộ không đồng ý:
– Giữ bùn làm gì.
Nguyệt Nga không biết nói sao với nó. Coi bộ vó của nó cũng lớn khôn mà sao còn khờ quá, chưa biết làm vườn, làm ruộng ngày hay sao chớ. Nàng cười theo nó:
– Mà thôi, trời sanh ra cái gì cũng có lợi hết đó em. Quê mình không có bùn non đó chắc không ngon lành như bây giờ đâu em.
Vinh xì một tiếng:
– Ngon lành. Chị nói ngon lành làm sao?
– Chị hổng biết nói nhưng chị biết trong lòng.
– Thôi đi, nói gì đâu không à. Để em kể chị nghe nha..có lợi, cái lợi của ông già em. Ông già tía của em, ổng đi nhờ người ta-Mà khoan cái đã, cái nầy là do ổng kể lại cho tụi em nghe đó nghen. Chuyện thiệt đó.
– Ừ, mà chuyện gì.
Thằng Vinh cười vui vẻ:
– Oång nói, khi mà ổng có con, ổng nghe người ta nói cái tên con nó quan trọng cho đời người ta…đăït tên con phải cúng cơm, làm lễ để cho con cái sung sướng sau nầy.
Nguyệt Nga xen vô:
– Ừ, đúng chớ sao không.
Nó lại xì một tiếng:
– Khỉ khô họ. Chị để im em kể cho nghe. Nhà em có mấy anh em, lúc đầu thì ổng đạt tên xấu cho dễ nuôi, sau đó cũng đâu có dễ nuôi. Một thằng anh của em chết vì bịnh, rồi tới em…ổng đi cầu cho người ta đăït tên. Em là Vinh nha, thằng em của em là Hiển nha, trước đó là Phú, Quí…Mà nhà em đâu có phú quí vinh hiển đâu à. Khổ cực thấy mồ luôn như chị thấy đó.
Nguyệt Nga chỉ biết cười ngồi nghe. Vinh kể tiếp:
– Em hổng biết vinh hoa phú quí là cái gì, nhưng lớn lên biết là người ta giàu sang sung sướng…và nhiều thứ lắm…Nhưng tụi em cứ cực thấy mồ luôn. Đó, đúng đâu mà đúng. Em ghét như ghét mấy cái về lục bình.
Nguyệt Nga biểu đồng tình bằng nụ cười hiền. Nàng ừ cho thằng Vinh nó vui. Nghĩ lại đời nàng. Ông Sáu già giải nghĩa cho nàng nghe: “Nhà mình có con là đưọc nhứt, tía má mới đặït tên con là Nguyệt Nga. Mà con biết tên con là ý nghĩa ra làm sao không? Là chị Hằng trên cung quảng đó con. Cái tên của con có trong tích xưa…” Ông sáu còn nói nhiều chuyện mà nàng chưa bao giờ để ý nhớ. Khi bước vào đời, Nguyệt Nga toàn gặp chuyện trái ngang…bao nhiêu ước mơ của trôi theo con nước. Có thiệt là cái tên con người ta nó làm cho mình tốt đẹp hay không? Có thiệt là lục bình trời sanh …Càng nghĩ, càng nhớ chừng nào thì hình ảnh cũ lại hiện ra. Hình ảnh cuối cùng là Tư Triệu…Nàng chán nản lắc đầu. Thằng Vinh thấy nàng im miệng , nó ca ư ử một câu vọng cổ . Nguyệt Nga đứng dậy đi vô trong.
– Chị nè. Thằng Vinh kêu giựt ngược. Anh Tư Triệu kêu chị ở trước kia kìa.
Nguyetä Nga day mặt lại. Tư Triệu đang đi từ trước mũi ra sau lái. Nàng đứng đợi với ánh mát u buồn. Tư Triệu hỏi:
– Sáu ngủ được chút nào hông?
– Đâu có ngủ đâu, sáng bảnh mắt rồi mà ngủ?
– Sắp tới rồi. Chiều nay cặp vô bến, em Sáu cứ ở dưới ghe đợi anh chuyển hết số hàng lên vựa rồi anh đưa em sáu về nhà nhé.
– Từ nãy giờ cậu Tư đi đâu vậy?
– Đâu có đi đâu, ra đàng trước kia tính toán sổ sách với mấy người đó mà.
Nguyệt Nga chưa biết tính sao, nàng chỉ biết gật đầu nhắm mắt đưa chưn.
– Thằng Hải nó có nói là em sáu muốn đi về nhà nó hả?
– Hổng có đâu. Mà…cũng hổng biết tính sao nữa.
Tư Triệu lầu bầu:
– Cái thằng kỳ cục ghê. Nó lại nói em…mà thôi, em Sáu cứ ở đây. Ghe cặp vô bến anh bận lắm. Cứ ở đây có gì kêu thằng nhỏ nó lo cho.
Trư Triệu quay đi. Nguyệt Nga chun vô khoang thuyền.
Buồi chiều khi nắng sắp tắt, chiếc ghe bầu đã cập vô bến. Cái bến tấp nập người và ghe xuồng chen chúc. Nước sông đen kịt và bốc mùi hôi khó ngửi. Nguyệt Nga xém ói mấy lần. Trên bờ nhà cửa san sát, nhà gạch, nhà tole chen chúc nhau. Xe cộ chệt cứng, người buôn kẻ bán kêu nhau ơi ới. Lần đầu tiên thấy cảnh tấp nập, Nguyệt Nga choá con mắt. Những chiếc xe hàng lớn, xe đò chất đầy giỏ cà ràng chạy qua chạy lại. Mọi người hối hả. Thằng Vinh đã tắt mắy tàu, chiếc cầu ván bắt ngang lên bờ. Phu khuân vát lên xuống liên tục làm chiếc ghe lắc lư không đứng yên. Nguyệt Nga nằm không được đành phải ra sau lái ngồi bó gối ngó lên bờ. Tất cả đếu mới lạ đối với nàng.
Trời chập choạng tối, đèn đường bật sáng, những ngọn đèn đường sáng rực ở xa xa, trên bến đèn không nhiều, những ngọn đèn vàng vọt yếu ớt xen lẫn những ngọn đèn trong những căn nhà chung quanh hắt ra leo lắt đong đưa càng làm cho cảnh vật thêm u ám buồn tẻ. Mới buổi chiều nhộn nhịp là vậy, mà đến tối lại im vắng khắp nơi. Mấy chiếc ghe xuồng đậâu san sát bên nhau, cặp chung be, ánh sánh từ trong ghe thuyền trên bến nhấp nhô chập chờn. Hàng quán trên bến bày ra một cảnh khác. Bến xe trở thành những quán ăn lộ thiên. Những chiếc bàn tròn, bàn vuông; các xe mì, hủ tíu, bày hàng bán ăn. Ở đưới ghe nàng có thể nghe tiếng cải cọ om sòm. Cái cảnh nhôïn nhịp về đêm khác một trời một vưc với cảnh tất bật khuân vát buổi chiều. Một khung cảnh hai cuộc sống, Nguyệt Nga vẫn ngồi im từ chiều không thiết gì đến ăn uống. Thằng Vinh đã nhảy lên bờ đi đâu mất sau khi chỉ cho nàng nơi nào để cơm canh và thức ăn. Tư Triệu vẫn chưa trở lại.
Ngồi riết mõi chưn, Nguyệt Nga đứng lên đi lần ra cầu ván bắt lên bờ. Ngó quanh ngó quất một hồi, nhưng chiếc ghe chung quanh như chìm vô một cuộc sống riêng. Tiếng trẻ nít khóc, tiếng máy hát, tiếng la rầy con cái, tiếng cải lộ của vợ chồng…Trên bờ và dưới bến, tất cả đều không dính dáng gì đến cuộc sống của Nguyệt Nga. Nàng có cảm giác như bị ném vô một đống rơm với mùi ẩm mốc, mùi rơm, mùi hăng hắc của những đống phân, mùi trái cây rục…Nhưng in tuồng là không phải. Cái mùi ỏ đây lạ lắm, nó khó diễn tả làm sao.
Nguyệt lò dò từng bước qua chiếc cầu ván để lên bờ. Mặt đất đen kịt, nhầy nhụa ẩm ướt. Những đống cần xé, bao đệm, thùng gỗ đựng trái cây, và rất nhiều thứ hổn độn chất đống chung quanh bến. Các quán ăn lộ thiên xa xa trên lề đường, Nguyệt Nga hướng về đó và bước. Nàng cố ghi nhớ chiếc ghe của mình. Nàng quyết định trong khi chờ đợi Tư Triệu trở lại, nàng sẽ đi một vòng quanh đây coi cho biết.
Lần đầu tiên lạc bước trên những con đường phẳng phiu trải nhựa, Nguyệt Nga có cảm giác lạ lùngï. Những bước đi của nàng hơi vướng víu dưới những ngón chưn. Bộ áo bà ba bông trắng nổi rõ dưới ánh sáng của những ngọn đèn đường. Đôi guốc bằng gỗ vông nem đẻo thiệt khéo có sơn vẽ bông hoa, nó là một món đồ chưng diện làm nàng nở mày nở mặt ở chốn quê, bây giờ nó trở nên thô thiển, quê mùa trước những cái nhìn của những người chung quanh. Đôi guốc và bộ áo bà ba dễ thương của nàng đã trở nên chiếc thẻ căn cước tố cáo thân phận của nàng làm nàng ngượng nghịu mắùc cở. Nàng hơi khớp, bước đi bỗng rụt rè. Mỗi bước đi là một cái ngó quanh. Nàng có cảm giác như mình đang đi giữa hai hàng người đang đứng ngồi đâu đó dòm ra theo dõi nàng. Ở thành phố nó khác thiệt là khác, tiếng guốc gỗ khua vang trên mặt đường càng lộ rõ hơn, nó như vang vang trong đầu Nguyệt Nga càng làm cho nhiều người chú ý. Hồi hộp, phập phồng như người đi ăn trộm vịt sợ bị bắt quả tang. Nguyệt Nga ngó trước dòm sau liên hồi kỳ trận. Đi ngang qua một góc đường, bên cây cột đèn, một đám thanh niên đang vây quanh một chiếc bàn lẻ loi dựa chưn tường, họ cũng đang ngất ngưỡng trong cơn say. Bọn họ nói cái gì đó hướng về nàng, có tiếng la hét trửng giỡn nhưng Nguyệt Nga ù tai không muốn nghe. Đối với Nguyệt Nga, hình như toàn thể cái khu phố to lớn đang ngồi tất cả ở ngoài đường và mọi người đếu ăn nhậu nói cười . Ở quê, chuyện thanh niên trai tráng tá điền tùng tam tụ ngũ nhậu nhẹt là chuyện rất thường. Thanh niên tá điền làm gì cho hết những ngày sau mùa gặt? Những ngày lúa đã trổ đòng đòng ngậm sửa? Dạo xóm và ăn nhậu đá gà cờ bạc là những món giải trí dễ tìm, dễ có. Còn ở đây, Nguyệt Nga nhìn thấy người ta nhậu mà nàng sợ, nhậu ở thành ở chợ có khác. Nó làm sao đó Nguyệt Nga không thể nào giải thích, nhưng chắc chắn là nó không gần gủi thân thương với nàng. Một chuyện khác cũng làm Nguyệt Nga chú ý để tâm. Những căn nhà xây, nhà gỗ đều có người ngồi trước sân, và có điểm đăïc biệt gây chú ý tò mò cho Nàng. Những người đàn ông ngồi trước hiên nhà đều cởi trần và cầm quạt phe phẩy. Quần tà lỏn màu trắng, hoặc màu cháo lòng, chiếc quần tây cắt ống làm quần đùi của mấy người đàn ông ngồi trước hiên nhà, tay phe phẩy quạt đuổi muỗi hơn là quạt mát, còn đôi mắt lơ đảng ngó mông ra đường là một hình ảnh lạ đối với Nguyệt Nga. Chưa thấy bao giờ. Nàng lẩm bẩm:
– Ngô ghê. Trời lạnh như vầy mà chịu được.
Mà lạnh thiệt. Gió dưới sông thổi lên mang theo mùi hôi của dòng nước đen ngòm. Gió thổi luồng trong các con đường nhỏ, không biết những con đường đó dẫn tới đâu. Một vài đóm lửa lập lòe, ngó kỷ lại hóa ra những bàn thờ nho nhỏ bên cửa trước mỗi căn nhà. Lại thêm một chuyện lạ đối với cô gái quê Nguyệt Nga lần đầu đến chốn đô thành. Chợ Mỹ Tho so sánh với đất Sài Thành vào những năm đầu thập kỷ 60 đối với Nguyệt Nga không khác gì đèn dầu so với đèn điện, đóm lửa đầu cây nhang và mặt trăng tròn vành vạnh. Cái gì cũng lạ, cái gì cũng hay. Sài Gòn là một nơi đô hội không khác thiên đường. Rộng mênh mông. Sài Gòn có nhiều nhà lầu hơn, và nhà cửa ở đây tân tiến mỹ thuật và ngó sang hơn trong đôi mắt của nàng. Dưới bến ghe tấp nập ghe xuồng và nhà ở. Dưới nước và trên bến ghe đông vui hơn và bốc mùi hôi khó chịu hơn. Đèn xanh đỏ chớp sáng trong các hàng quán, các tiệm ăn của người Tàu treo lồng đèn đỏ, chữ chạy lên xuống bằng đèn điện đỏ chớp nháy liên hồi coi vui con mắt. Ngó một hồi, Nguyệt Nga quên mất sợ hải lúc đầu. Nàng bước dọc theo con phố và định bụng đi một lát sẽ quay trở lại lối cũ. Con đường nàng đang đi nhỏ hơn bên kia dãy nhà lầu nàng mới vừa rời khỏi, nhưng phố xá đông vui hơn và người đi lại nhiều hơn. Nguyệt Nga bước chậm cố không kéo đôi guốc khua vàng trên đường phố. Trước mắt nàng là một tiệm ăn, cửa mở rộng, đèn điện sáng choang như ban ngày. Ở sâu bên trong một căn phòng rộng, bàn ghế kê la liệt, người ngồi ăn đông chật cứng. Bên ngoài có hai người bận đồ trắng đứng gát cửa. Có hai cánh cửa lớn bằng gỗ, một cánh mở và một cánh đóng. Vách tường làm bằng gương không tráng thủy cho nên trong và ngoài quán nhìn nhau rõ mặt. Nguyệt Nga tò mò bước gần để coi cho rõ bên trong họ đang làm gì nhốn nháo đông vui như ngày hội cúng Kỳ Yên. Vừa nhìn vô bên trong, vừa được nghỉ chưn, nàng vừa trầm trồ chắc lưỡi ngạc nhiên thì từ bên trong có đôi mắt nhìn ra, một người đàn ông nháy mắt đưa tay chỉ chỏ và nói điều gì đó cho một người ngồi bên. Nguyệt Nga hoảng hồn thụt lui vài bước tránh ra xa và tiếp tục đi tới. Đến một ngả tư có đèn xanh đèn đỏ và một người bận đồng phục màu trắng, đội nón cát-kết trắng mang súng bên hông đang đứng làm nhiệm vụ bật đèn chỉ đường cho xe chạy. Nguyệt Nga quay lưng bước trở lại con đường cũ. Khi quay lui nàng mới biết con phố nàng vừa đi qua đã khác rồi, nó không phải là con đường nằm dọc bến sông. Vì mải vui với cảnh mới, nàng đã quên nên quanh quẹo qua hết mấy con đường lạ hoắc lạ huơ. Hoảng hồn, xanh nét mặt. Tim đập liên hồi trong lồng ngực.
– Chết cha rồi làm sao bây giờ.
Nguyệt Nga muốn khóc. Đành nhắm mắt bước liều về hướng mà nàng nghĩ là lối cũ vừa đi qua.
Nguyệt Nga cúi đầu ngó xuống đất và bước. Trong ý định nàng muốn dạo một vòng cho biết, bây giờ lạc lối về nên hoảng sợ và lo lắng nên cúi mặt bước mau. Đến một ngã tư đường, Nguyệt Nga đứùng lại nhìn dòng xe cộ chạy qua , và cuối cùng nàng quyết định vượt qua con đường nầy để về ghe. Đang lầm lủi bước đi…bỗng nghe RẦM!!!…như trời giáng hạ, như thiên lôi búa. Nàng đâm sầm vào một người đang bước ra từ một chiếc và đi băng ngang lề đường. Đang bấn xúc xích lí nhí trong miệng, người đàn ông, áo quần sang trọng, tay xách cặp đã lên tiếng trước:
– Aáy chết! Xin lỗi! Cô có bị sao không?
Đưa tay chận lên ngực, Nguyệt Nga hoảng hồn, mặt tái xanh, miệng lí nhí những lời vô nghĩa. Người đàn ông nói tiếp:
– Thành thật xin lỗi, tại tôi vội quá.
Nguyệt Nga đỏ mặt lắc đầu và bước mau không kịp nhìn mặt người đàn ông. Đi mấy bước, nàng len lén quay đầu lại nhìn, người đàn ông vẫn còn đang đứng ngó theo. Quá lo lắng, Nguyệt Nga bẻ quẹo bước chưn lánh vô trong một con hẻm nhỏ và gấp gấp nhấn bước đi nhanh. Con hẻm ăn luồng qua con đường bên cạnh sát mé sông. Ngơ ngác đứng nhìn một đổi, Nguyệt Nga còn nghe tiếng văng vẳng ồn ào của các quán nhậu trong cái chợ chồm hổm buổi chiều. Nàng định bụng sẽ đi đến đó. Nghe rất gần, nhưng các căn phố lầu san sát đã che khuất tầm mắt của nàng không thấy chợ. Nguyệt Nga thở phào mừng như được sống lại. Cố gáng bình tỉnh, Nguyệt Nga vuốt lại mái tóc bị gió thổi rối mù, kéo vạt áo và bước về hướng có tiếng ồn ào. Lần nầy nàng không còn lòng dạ nào mà ngắm nghía những hàng quán hai bên đường, những dảy đèn nhấp nháy của các gian hàng bán Tết. Những chồng dưa hấu xanh mơn mởn, những giỏ cần xé vú sửa tim tím xanh xanh, trái cây…Ôi, biết cơ man nào mànói. Đó là chưa kể đến các gian hàng che vội vàng trên lề đường với quần áo trẻ em, người lớn, bình bông, lồng, giỏ, dù, song nồi…và nhiều nhứt bánh mứt đựng trong hộp gói giấy hồng điều. Chợ Tết nhộn nhịp đến giờ nầy vẫn còn thức. Nguyệt Nga đánh bạo nhập vô giòng người đang dạo chợ. Tiếng động ồn ào mà nàng nghe được không phải là bến sông có những quán nhậu ngoài trời. Tiếng ồn ào là của các gian hàng chợ Tết nàng đang đi qua. Nguyệt Nga luôn miệng kêu Trời, trong bụng đánh lô tô, đầu thì thầm van vái thần hoàng thổ địa.
Lầm lủi chen lấn trong dòng người đông đúc, Nguyệt Nga đi xuyên qua khu phố biến thành cái chợ trưng bày hàng Tết. Đến bên kia chợ là một cảnh khác. Bây giờ không còn là ngã tư dễ nhìn và nhỏ đứng bên nầy ngó thấy bên kia mà nó là một cái bùng binh rộng gấp mấy lần cái đìa nuôi cá. Xe chạy vòng quanh bùng binh. Chính giữa bùng binh là một cây cột cao gấp ba con nguời, bên trên có nắm sáu ngọn đèn chụp xuống sáng choang. Đau khổ nhứt cho Nguyệt Nga là năm cái ngõ đường dẫn về nơi đâu nàng không biết. Thần hồn thoát khỏi xác, mồ hồi hột lạnh ngắt rơm rớm ở hai màng tang đang chảy dài theo chưn tóc đẩm ướt mấy cộng tóc mai. Nguyệt Nga không biết làm gì trong cảnh nầy. Nàng đứng chết lặng bên một cột đèn đường, thân mình bỗng dưng nặng trịch như muốn ngả xuống đất, hai bàn chưn tê cứng dở không muốn lên. Nàng liên tục kêu “Trời ơi, trời hỡi” Trong cổ họng khô khốc, nuốt nước miếng hoài mà không hết khô. Nước mắt tự nhiên ứa ra hai bên khóe. Nàng đi lạc thiệt rồi. Nguyệt Nga đứng một hồi lâu mõi cẳng, nàng lê đôi guốc lẹt quẹt đến bên một chiếc ghế đá đăït ở bên đường ngồi phịch xuống như gốc cây đổ.
– Làm sao bây giờ. Má ơi là má ơi! Tía ơi là tía ơi!
Không biết là bao lâu, đường phố thưa vắng lần. Ngôi chợ tết đã bắt đầu dọn dẹp. Nguyệt Nga đứng dậy mon men bước đến gần một khu vực bày hàng trăm chiếc lồng bằng tre, khu vực bán gà vịt. Nàng lân la đến bên cạnh một người đàn bà đang ngồi chàng hảng dưới đất đếm tiền. Thấy nàng đến gần với dáng vẻ rụt rè, người đàn bà ngừng tay ngước mắt nhìn lên. Bà hỏi:
– Cô mua gà?
Nguyet Nga lí nhí:
– Dạ không Dì hai ơi.
Và nàng đứng im hai tay kẹp trước bụng run rẩy. Người đàn bà nhìn nàng soi mói ngạc nhiên:
– Ủa, cô làm sao vậy?
Nguyệt Nga làm thinh, ánh mắt cầu cứu.
– Trông cái dáng của cô hình như không phải người ở đây? Cô bị trúng gió hả?
Nguyệ Nga vẫn trả lời gọi lỏn:
– Dạ không.
Không dấu vẽ ngạc nhiên xen lẫn nghi ngờ. Người đàn bà giở vạt áo phía trên kéo vạt áo thứ hai bên dưới và bà nhận mớ tiền đang đếm lỡ dở vô tuí áo trong, mở một cây kim tây gài chặt, cuối cùng bà đứng lên bước đến gần Nguyệt Nga:
– Cô làm sao vậy? Bịnh hả?
– Dạ hông.
Bây giờ người đàn bà giọng nói trở nên nhỏ nhẹ và mềm mõng hơn:
– Trông cái bộ tịch nầy chắc mới ở quê lên?
Nguyệt Nga sáng con mắt:
– Dạ phải. Làm sao Dì biết?
Người đàn bà rành rọt:
– Có gì mà hông biết. Coi cái bộ tịch thì biết chớ gì. Mà còn ăn bận khác với mấy cô gái ở đây. Mà ở đâu lên vậy? Bây giờ đi đâu đây? Đến mua gà hay sao? À, hay là đi ở đợ cho ai rồi họ sai đi mua đồ?
Bà nói một hơi dài làm Nguyệt Nga đứng yên không biết trả lời sao. Im lặng một lúc trước cặp mắt bây giờ trở nên thương hại của người đàn bà. Nguyệt Nga nhỏ nhẹ:
– Dạ hổng phải đi ở đợ mà cũng hổng phải đi mua gà về cúng.
– Ủa, chớ làm gì mà lại chỗ tui làm chi?
– Dì ơi…
– Chuyện gì đó?
– Nói thiệt dì thương. Cháu đi lạc đường.
Người đàn bà nhanh nhẩu:
– À, thì ra vậy hả. Mới lên sài Gòn lần đầu rồi đi lạc chớ gì? Mà ở đâu lạc đến đây? Đây là Chợ Lớn.
Nguyệt Nga lí nhí:
– Con hổng biết…
Người đàn bà bấy giờ kéo Nguyệt Nga ngồi xuống chiếc đòn và hỏi rõ đầu đuôi. Nguyệt Nga không giấu giếm đem tình thiệt khai ra tất cả. Người đàn bà tên Tư, người trong khu chợ kêu là bà Tư gà (bà Tư bán gà) Bà Tư gà kéo cái tuí đệm bàng lôi ra một cái bình bàng thiết, lấy cái ly bằng thủy tinh rót ra một ly nước đưa cho Nguyệt Nga:
– Thôi Dì Tư biết rồi. Bây giờ cháu uống miếng nước cho tỉnh rồi dì sẽ tìm cách giúp cho. Mà nè, đã ăn uống gì chưa? Có đói bụng muốn ăn dì kêu cho tô mì bò viên hai vắt…Đói hông? Mì ngon lắm đó con. Mầy ăn hông dì kêu? Đừng làm khách với tao nghen. Cái cảnh mầy tao biết mà…khó lắm con ơi. An hông?
Bà Tư gà nài ép hoài cho nên Nguyệt Nga đành gật đầu chớ trong bụng nàng đầy ứ lo âu thì còn bụng dạ nào mà ăn. Bà Tư kêu lơn:
– Hê, cho tao một tô mì hai vắt coi thằng nhỏ.
Một thằng nhỏ ngồi ngắp vặt bên chiếc xe mì bán rong, nghe tiếng kêu, vụt mình tỉnh ngủ.
– Có ngay dì Tư.
Thằng nhỏ nói với ông chủ xe mì, một người đàn ông Tàu bụng bự.
– Nị cho một tô hai vắt cho bà Tư gà kìa nị.
Thì ra thằng nhỏ Việt đi làm công cho anh chủ có xe mì đẩy bán rong. Tô mì trước mặt nghi ngút khói, bốc mùi thơm lừng; những cọng mì vàng đục láng mỡ nằm dưới lơp nước trong sóng sánh trên một lá cải màu xanh, chen lẫn trong đó có mấy cục bò viên màu xám tro được cắt ra làm tư. Hành lá xắt nhỏ điểm thêm trên mặt gây cảm giác đói bụng cồn cào. Nguyệt Nga thấy đói muốn ăn mà trong cổ họng cứ ơn ớn mệt mõi. Đói cái bụng nhưng cái đầu không đói. Bà Tư gà nhìn nàng với ánh mắt xót thương. Bà nài ép:
– Nè, cháu. Dì tư coi mầy như con gái của tao, tao mới mua hủ tíu cho mầy ăn. Mầy rán ăn đi rồi tao mới nói chuyện. Ráng đi con.
Nguyệt Nga ngước đôi mắt lo buồn ngó bà Tư . Giọng nàng chùng xuồng rè rè:
– Cảm ơn dì Tư thiệt nhiều. Con cũng coi dì Tư như má của con…nhưng con no quá dì Tư ơi, con nuốt hông muốn nổi. Kỳ ghê đó dì Tư, cái bụng thì muốn ăn mà cái cổ nó không muốn nuốt.
Bà Tư gà cười xề xòa:
– Chuyện đó có gì lạ đâu. Mầy no hơi đó con. Thôi kệ, ráng nuốt vô chút xíu cho nó đỡ.
Nguyệt Nga nghe lới bà Tư gà, cầm đủa bưng tô mì lên ăn. Vừa ăn nàng vừa nghe ba Tư nói chuyện.
– Nói hổng phải dì Tư kể công nghen con. Mầy gặp dì Tư là đời mầy còn may lắm đó. Giá mà mầy gặp người khác thì đời con tàn tạ nát tan liền đó nghen con. Dì Tư mầy không nói khoe đâu. Đất Sài Gòn mà mầy, cái đất nầy coi vậy mà mạnh ai nấy ở nghen con, đèn nhà ai nấy sáng nghen con. Nói cho mầy nghe, ở trong xóm lao động còn đở, chớ ở ngoài mặt tiền có khi hàng xóm đi về không ai thèm hỏi, thậm chí đến cái tên họ cũng hổng biết nữa là. Hổng tin hả, đâu mầy thử lại ngoài đường kia coi mầy hỏi nhà thử có ai chỉ cho mầy được hông. Nó vậy đó con…Nhưng mà hổng sao, sống riết rồi nó quen con ơi.
Nguyệt Nga vừa ăn vừa dạ nhịp cầm chừng.
Sáu Nguyệt Nga ngồi im nghe Dì Tư gà nói một thôi dài, càng nghe nàng càng lùng bùng hai cái lỗ tai.
Hú vía!
Trong khi nói chuyện Dì Tư đứng dậy đi gom những đống giỏ tre đựng gà vô một đống, Sáu Nguyệt Nga cũng vừa ăn xong. Nàng đứng lên cho đở tê chưn. Ngó quanh quất, thành phố đã sập tối từ lâu, ánh đèn đường đã thay ánh nắng ban chiều tự bao giờ. Nguyệt Nga xớ rớ chưa biết làm gì, Dì Từ quay trở lại chiếc ghế xếp đan bằng dây mũ nhiều màu xanh đỏ đã có đôi chỗ đứt dây. Dì ngồi xuống thở hắt ra, dì than thở một mình:
– Mệt ghê, tết nhứt sắp tới rồi mà bán buôn sao ế ẩm.
Nguyệt Nga ngó Dì, sau một hồi đắn đo, nàng rụt rè lên tiếng:
– Dì Tư cũng ở gần đây?
Dì Tư day qua, Dì như nhớ trực lại là còn có con nhỏ ngồi một bên:
– Í! Dì thiệt là đoann hậu. Đang nói chuyện với mầy mà Dì nghĩ ngợi đâu đâu. Ừ, nhà dì ở trong xóm trên kia, cháu biết Phú Lâm hông?
Nguyệt Nga nhích sát lại bên chiếc ghế, hai tay co ro cóm róm hỏi tiếp:
– Dì Tư ơi, cháu đội ơn Dì Tư cho ăn…nhưng mà bây giờ dì chỉ cho cháu đi trỏ lại bến ghe được hông dì.
– À…dì cũng tính hỏi con ở đâu để dì đưa về…mà quên phứt…đợi chút xíu nữa được không. Chút xíu nữa dì Tư dẫn con đi.
Nguyệt Nga ngồi im không nói nữa, lặng lẽ đưa mắt ngó mông ra đường. Trên đường xe cô dập dìu người qua kẻ lại nhộn nhịp. Từ đây nàng phóng tầm mắt ra xa, những con đường hun hút chạy về đâu nàng không biết. Lòng rộn ràng những mối cảm xúc, những xúc cảm háo hức đến vùng đất lạ nhìn những điều mới, thấy cuộc sống khác quê nhà. Những con người ở đây sao đẹp đẻ, áo quần sang trọng, mặt mũi tươi vui hớn hở. Trên lề đường hàng quán bày bán đủû các thứ đồ ăn thức uống. Một ý nghĩ so sánh chợt hiện lên trong trí của nàng. Hai cảnh đời đập vô mắt, dì Tư tuy ăn bận sach sẽ nhưng lam lủ, bên ngoài đường kia, cách có mấy bước chưn mà sao khác quá chừng. Trai gái dập dìu, có kẻ đi bộ có người chạy xe máy đạp. Chiếc xe máy đạp láng o óng ánh dưới ánh đèn làm nàng chóa mắt, rồi những chiếc xe hơi sơn xanh, đỏ, trắng có cái đuôi cong dãnh lên như đuôi con cá. Nhiều cửa hàng bán đồ chơi, bánh kẹo, quần áo…tất cả đều mới lạ đối với Nguyệt Nga. Nàng như quên đi hoàn cảnh của mình
Ngó hoài ngó miết khôngchán mắt. Tiếng kêu của dì Tư đưa nàng trở về thực tế của nàng.
– Mầy ngó chán chưa cháu. Dì sắp đi về đây.
Nguyệt Nga day lại trả lời dì:
– Dạ! Khi nào dì tư đi thì cháu đi theo.
– Ừ, cũng gần xong rồi. Ngồi đó chơi chút nữa, dì nhắc chừng vậy thôi. Cầu 8 giờ Dì Tư mới về.
Nguyệt Nga tiếp tục ngó ra đường, rồi nàng nhìn lại mình. Lo quá là lo…nàng lầu bầu trong miệng:
“Mới đi có chút xíu mà đã lạc đường…rồi ngay mai ngày mốt làm sao đây…” Một cô gái trạc tuổi NguyệtNga vừa đi qua, trông dáng cô nhí nhảnh vui tươi đi với đám bạn vừa trai vừa gái vài ba đứa. Họ đi ngang vô tư trò chuyện không cần nhìn đường mà bước nào bước nấy vững chải tự tin, in hệt như nàng bước trên bờ mẩu vai gánh đôi thúng đầy ắp lúa. Họ vừa đi vừa nói chuyện, những tiếng nói dập vô tai nàng reo vui như chim hót, như tiếng lửa tí tách trong bếp, như tiếng cơm sồi trong nồi…
– Ê, phim này hay lắm đó tụi bay…phim Xạc Lô là hết xẩy.
– Ê! Ê! Băng qua đường đi chớ, rạp hát bên kia rồi. Tới rồi mà còn đi đâu nữa vậy…
Tiếng hai người con trai đối đáp, và họ băng qua đường. Nguyệt Nga sắp la lên khi thấy một chiếc xe hơi con cá ào ào phóng tới cùng với mấy chiếc xe xích lô máy nổ phành phạch ào áo chen lân giành đường và nhóm thanh niên thiếu vẫn bước qua đường như thể họ không thấy. Tiếng bánh xe ken két trên mặt đường, hai chiếc xich lô máy quẻ quặt tay lái lạng qua. Ông chạy xe xích lô máy văng tiếng chửi thề ỏm tỏi:
– Đ.M tụi bay muốn tự tử hả.
Nguyệt Nga bỏ hai tay đang bụm mặt ra, mọi chuyện như không có gì xảy ra, đường phố vẫn nhộn nhịp, nhứt là trước rạt hát bóng.
Nguyệt Nga chưa hết hồi hộp, nàng đưa tay chận lên ngực.
– Hú vía!
Người dân ở đây sao mà họ tự do nói cười, đi lại thoải mái. Trong cái quanh cảnh nhộn nhịp đó ai lo phần nấy, hối hả ngược xuôi, ồn ào vô trật tự; nhưng đâu vô đó không có chuyện gì xảy ra.
Không khí sắp tết ở Sài Gòn có khác. Những vưạ dưa hấu xanh rờn, những trái dưa to tròn ú na ú nần bày ra từng đống, mỗi vưạ dưa đều cắt ra một trái bày cái ruột đỏ au chắc nịch điểm xuyết những hột dưa đen nhánh trên cái nền láng nước như nhem thèm những người khách lại qua. Những trái dưa từ quê nàng chở lên, những trái dưa nằm trong ruộng không thấy gì đẹp đẻ, nhưng nó nằm ngay đây, trên những đống rạ màu vàng nhạt, bốc muì thơm lạ lùng khác hẳn những trái dưa còn nằm trong ruộng. Dưa hấu đối với Nguyệt Nga đâu có xa lạ gì. Trên vai nàng có thể gánh chừng sáu trái trên hai đầu giỏ đi thoăn thoát trên bờ ruộng nhỏ nhảy qua mấy con muơng dễ như ăn cháo…nàng đâu nó ngửi thấy mùi thơm. Bây giờ. Lạ thiệt. Thấy dưa nhớ tết, nhớ nhà…Nguyệt đâm ra bồn chồn, giờ nầy không biết tía má đang làm gì, bạn bè như con Tư Nhân Hậu, con Ba Lụa đang làm gì. Sau khi ruộng dưa bán hết tụi nó sẽ rủ mình đi bắt ốc gạo chớ chẳng chơi. Những con ốc gạo nhỏ nhoi câm nín nhưng luộc lên ăn hoài không biết chán. Nguyệt Nga nhớ nhà thở ra hiu hắt. Từ nay, nàng sẽ xa luôn vùng quê của nàng chưa biết ngày nào sẽ trở về. Kỷ niệm chợt ùa lên như con nước tràn bờ len lõi vô tận những ngõ ngách sâu kín nhứt của làng quê. Kỷ niệm tuôn chảy trong đầu Nguyệt Nga làm cho nàng nhức nhối. Chỉ biết thở dài.
Hết ngó vựa dưa, nàng dưa mắt ngó qua hàng bánh kẹo.
Tiếng dì tư hỏi làm nàng giựt mình:
– Sao rồi, ngó đã chưa. Đi về.
Nguyệt Nga đứng dậy. Dì Tư hỏi tiếp:
– Hồi nãy mầy nói mầy từ bến ghe lên phải hông Sáu?
– Dạ phải dì Tư.
Dì Tư xách cái đệm bàng, tay ôm chiếc ghế đẩy vô giữa hai vách tường của căn nhà sau lưng. Dì nói:
– Ừ, vậy thì tao biết rồi. Bây giờ như vầy nghen. Tao kêu chiếc xe xích lô máy, tao với mầy ngồi lên rồi chạy rề rề qua bến khi nào mầy thấy đúng chỗ thì xuống. Còn tao đi dzìa. Nhớ được hông cháu?
Nguyệt Nga bối rối:
– Dạ cháu ráng nhớ. Hồi chiều đi trời còn sáng trưng, bây giờ chập choạng con hổng chắc lắm.
Dì Tư nhìn Nguyện Nga với ánh mắt thương cảm. Dì nắm tay nàng
– Thôi được. Để dì tính như vầy cháu nghe có được hông nhen. Tao cứ cho xe xích lô máy nó rề rề qua bến, tao đổ đường từ đầu cầu Nhị Thiên Đường cho tuốt tới cầu Phú Lâm…nếu mà cháu hổng nhìn ra chỗ ghe đậu thì theo dì về nhà ngủ đỡ một đêm rồi mai tính. Được hông?
Nguyệt Nga chưa biết định liệu thế nào thì dì tư bỗng kêu lên:
– Xích lô! Xích lô!
Một chiếc xích lô máy trờ tới bẻ quặt tay lái xà vô sát lề đường, sau vài ba tiếng nổ phành phành đinh tai nhức óc, nó đậu lại. Người tài xế to con nhảy phóc xuống bước vô:
– Về đâu đây dì Hai?
– Hai cái mã mẹ mầy. Tao là dì Tư. Tao về Phú Lâm.
Người tài xế cười nhe răng, tay gải đầu:
– Bà già giết giặc. Thì Dì Tư , Hai hay Tư gì cũng vậy mà. Phú Lâm hả? Có chở gì nhiều hông. Đi mấy người. Hai mẹ con bà hả?
– Ừ, tao với con tao…với mấy cái giỏ gà đó.
– Được thôi bà leo lên đi, tui bỏ giỏ lên là dọt liền.
Dì Tư kéo tay Nguyệt Nga bước ra leo lên chiếc xích lô. Lòng chiếc xe rộng bề ngang, và chổng ngược lên trời. Mới vừa đặt mông xuống, Nguyệt Nga tưởng đâu mình bị té ngửa ra sau. Ngồi lọt thỏm vô chiếc xe mà tim của nàng còn đập thình thịch. Lần đầu ngồi trên chiếc xe nàng thấy lạ. Nó khó ngồi, Nguyệt Nga cứ có cảm giác sắp té, nàng gượng ngồi chồm ra phía trước. Dì Tư ngồi kế một bên, Dì nói:
– Dựa lưng vô cái nệm đó chớ, gượng lại làm gì cho nó mõi hả cháu.
Nghe lời, Nguyệt Nga cho lưng dựa vào nệm xe phía sau. Hơi thoải mái một chút, đỡ mõi nhưng khó nhìn ra đằng trước. Có lẽ chưa quen.
Người tài xế chất đống giỏ gà cao lêu nghêu lên đàng trước cảng xe và ràng lại sơ sài bằng giây thun. Chiếc xe nhún xuống một cái khi ông tài xế ngồi lên. Ông tài nói:
– Tui chạy đó nghen. Ngồi yên chưa, nhớ giữ mấy cái giỏ đàng trước giùm tui.
Không cần đợi câu trả lời, chiếc xe rú lên mấy tiếng, phun khói mù mịt và phóng ra đường nhập và dòng xe cộ. Nguyệt Nga sắp hét lên khi có cảm giác như là chiếc xe đang đun cái mặt nàng vô những chiếc xe chạy phía trước. Xe xích lô máy chạy bạt mạng, chạy kinh hồn. Nó luồn qua lách lại, rú ra, phun khói…làm cho Nguyệt Nga nhốn nháo muốn ói ra ngoài. Có khi nó đi sát đuôi những chiếc xe tải bự, thấy nó thấp lè tè dưới gầm xe vậy mà nó luồn lách và chạy qua mặt mấy chiếc xe tải làm cho Nguyệt Nga mấy lần sắp đứng tim.
Di Tư ngồi bên cạnh nhắc nhở tài xế:
– Ê, chú cho tui ra bến một chút trước khi về phú lâm nghen hông.
– Cho thêm tiền nghen dì Tư.
– Ừ, mà chú chạy từ Cầu Xóm Củi chạy rề rề lên nha. Cho con cháu tui nó xuống.
Người tài xế ngạc nhiên:
– Ủa, nhà cổ ở đâu nói đi tui chạy tới luôn cho đỡ mắc công.
– Chú hổng biết. Nó đi lạc đường nên chưa nhớ số nhà. À mà…đâu có số nhà…nó ở dưới ghe.
Ông tài xế kêu trời:
– Trời đất quỷ thần ơi. Vậy biết bao giờ kiếm cho ra?
– Thì bởi vậy cho nên tui mới nói với chú là rề từ cầu dưới đến tận lên trên chỗ hảøng Dầu Kuynh Diệp là được rồi. Tui về Phú Lâm mà.
Người tài xế càm ràm:
– Phải cho thêm tiền nha dì. Chạy như vầy nó hao dầu lắm đó.
– Được mà. Sao chú hay nói quá hà. Bao nhiêu tui cũng trả hết. Chắc chú hổng chở tui nên chú hổng biết đó thôi. Tui là bà Tư gà ở Chợ Lớn mới ai mà hổng biết. Tui có ăn giựt để thiệt cho ai bao giờ đâu mà chú lo.
Người taì xế phân bua:
– Dạ hổng phải dì Tư ui. Tui hổng phải là ham tiền ham bạc gì đâu. Nhưng mà dì nghĩ coi…mẹ họ…dân chạy xe như tui vầy đâu có ngán ai…vậy mà có lúc cũng phải thua mấy con mụ đàn bà, hổng lẽ hoánh nó trừ tiền ha? Cho nên mấy mối lạ như vầy, tui sợ lắm nói trước cho chắc ăn.
– Chú nói cũng phải. Chỗ đất nầy là dân tứ chiến mà, đâu biết ai ngay ai gian phải hông chú.
– Dạ phải đó dì. Mà nè, hổng phải tui nhiều chuyện…cô hai đây làm sao mà đi lạc? Mới ở quê lên hả?
Dì Tư cà kê:
– Hổng nói giấu gì chú. Nó đâu phải con cháu gì của tui đâu. Hồi chiều nầy nè, lúc mới đỏ đèn, nó tấp vô chỗ tui bán nó nói nó đi lạc. Nó đói, tui cho nó ăn bây giờ tui mướn xe đưa nó về.
– Chèn ơi, dì Tư làm phước được phườc dì Tư. Mà cổ ở đâu.
– Chú hỏi mới là cắc cớ. Tui mới nói với chú là mình rà từ đầu bến tới cuối bến cho nó tìm…chớ tui đâu có biết nó ở đâu.
Ông taì xế la hoảng:
– Má ơi, vậy biết ở đâu mà tìm trời. Nghe nói sao coi bộ phiêu quá.
– Thì chú cứ chịu khó rà thiệt chậm cho tui.
Ông taì xế và dì Tư im tiếng. Nguyệt Nga nghe rõ hết câu chuyện giữa hai người. Nàng lặng thinh, trong bụng rầu rỉ muốn chết.
Chết xe queo vô ngã Chợ Xóm Củi, bắt đầu đi rẻ xuống con đường dọc theo bến. Khu vực nầy tối tăm hơn, ít đèn hơn nên đèn đóm leo lắt treo tòng teng trên cột đèn như ánh ma trơi. Nhà cửa khu vực nầy làm bằng tôn vách ván, nghèo nàn. Aùnh đèn không đủ sáng cho Nguyệt Nga nhìn. Nàng đâm bối rối.
– Nó tối hù cháu đâu có thấy gì đâu Dì Tư.
– Ráng coi cái cảnh thôi…bây giờ dưới ghe họ tắt đèn hết rồi…coi có giống chỗ hồi chiều hông thì nói cho dì ngừng xe.
Nguyệt Nga căng banh muốn rách hai con mắt mà không thấy chỗ nào quen thuộc hết. Mà nào có quen cho được? Mới đến chưa đầy tiếng đồng hồ nàng đã lạc đường rồi, nhà nào cũng như nhà nấy, đường nào cũng như đường nấy biết đâu mà tìm.
Dì Tư đề nghị:
– Thôi Dì nói như vầy. Hồi chiều chỗ đó ra làm sao mầy nói đi để dì đoán thử coi.
Nguyệt Nga cố bóp trán nhớ lại:
– Dạ nó cái bải đất trống, có nhiều ghe đậu, có cái chợ gần bên…hình như vậy đó. Mà nó sáng sủa hơn ở đây.
– Chỗ nào vậy cà?
Ông tài nhanh nhẹn nói:
– Tui thì nói như vầy nghen. Nếu mà tui rề như vầy thì tui được tiền nhiều…nhưng tội nghiệp cho cô Hai đây. Tui nghĩ là nó sau lưng Chợ Lớn đó chớ chảng có đi đâu xa. Bây giờ tui phóng tuốt lên đó cho cô Hai nhìn nghen.
Dì Tư nghe nói hợp lý, dì gật đầu:
– Ừ, chú cho tui lên đó đi.
Chiếc xe trở đầu chạy đường lớn. Đèn trên phố sáng choang, Nguyệt Nga cố nhướng to mắt nhìn. Chiếc xe sau khi quanh quẹo vài ba lần nó đã đưa nàng và dì Tư đến một ngôi chợ kế bên bến cảng to lớn đôngvui. Nguyệt Nga ngờ ngợ…nàng lẩm bẫm:
– Chỗ nầy có ghe nè…chỗ này là cái chợ…còn chỗ này là chiếc ghe của nàng đậu hồi chiều nè…à mà chiếc ghe của mình số mấy cà….bây giờ nhìn ghe nào cũng giống cái nào…
Dì Tư lên tiếng hỏi:
– Cháu nói gì đó cháu? Thấy chưa? Chiếc nào đâu chỉ đại một chiếc rồi mình tấp vô hỏi coi.
Chiếc xe cứ chạy rề theo bến sông, Nguyệt Nga lầu bầu trong miệng, nhìn chiếc nào cũng giống như chiếc nấy, lòng nàng rối bời. Dì Tư ngó nàng chăm bẳm, im lặng một lát dì thở ra:
– Coi cái bộ tịch của cháu dì chắc mẫm là cháu không nhìn ra chiếc ghe nào phải hông?
Nguyệt Nga lí nhí trong cổ họng:
– Làm sao bây giờ hả dì?
Bà Tư thở hắt ra:
– Làm sao hả? Có trời mà biết. Thôi dì nói như vầy, bây giờ coi như vô phương, thôi thì đã lỡ làm ơn thì dì làm ơn cho trót, con sáu mầy tối nay về nhà dì ngủ đở rồi mai tính tới chớ biết sao giờ?
Nguyệt Nga im lặng buồn rầu, lưng nàng dính chặt vô chiếc nệm xe dịu nhơ dịu nhớt. Ông tài xế xe xích lô máy rú ga mấy cái, khói đen phụt ra tùm lum. Ông hỏi nhóng:
– Bây giờ có đi tìm nữa hay không tui chạy à?
Dì Từ nhìn Nguyệt Nga thương hại:
– Thôi coi như xong đi cháu. Đêm nay mầy về nhà dì ngủ tạm nghen cháu.
Nguyệt Nga đành gật đầu, nước mắt sắp ứa ra:
– Dạ. Dì tính sao cháu chịu vậy.
Dì Tư gà ra dấu, chiếc xe rú ga vọt thẳng tới rồi bẻ quặt ra đường lộ chính phóng một mạch về hướng Phú Lâm. Hai bên đường sá đèn đuốt sáng choang như ban ngày, người đi lên đi xuống, kẻ đi bộ người phóng xe nhộn nhịp, Nguyệt Nga không còn bụng dạ nào để mà ngắm cảnh lạ. Nàng dán chặt lưng vô chiếc nệm xe phó mặc cho nó đi đâu thì đi.
Chiếc xe qua khỏi cầu đến ngã tư Phú Lâm Bà Hom. Dì tư kêu quẹo vô con đường nhỏ.
– Chú cho tui về đường bà Hom, dừng sau cái đình thần đó.
Chiếc xe bớt tốc độ đi vô con đường nhỏ, hai bên nhà cửa san sát, tiếng máy thâu thanh từ những căn nhà hai bên đường vang dội càng làm cho khung cảnh xóm lao động nhộn nhịp hơn. Xe qua chợ bà Hom một đổi, Dì Tư ra hiệu biểu ngừng xe.
Nguyệt Nga bước xuống trước, dì Tư móc túi trả tiền, ông tài xế ôm đống giỏ gà bỏ xuống bên lề đường rồi im lặng đếm tiền bỏ vô tuí áo trên và lên xe rồ máy phóng đi không nhìn lại. Nguyệt Nga đứng xớ rớ chưa biết đi đâu, dì Tư lôi xềnh xệt đống giỏ tre dưới đất bước vô con hẻm nhỏ. Vừa đi dì vừa nói:
– Xóm nầy kêu bằng chợ Bà Hom, nhà dì ở tuốt trong kia. Bữa nay gặp mầy nên dì về trể, mọi bữa dì về tới nhà là vừa đỏ đèn. Thôi đừng rầu rỉ nữa, cứ vô nhà ăn cơm rồi tính sau.
Nguyệt Nga lếch thếch đi theo dì Tư gà.
Căn nhà dì Tư ở cách mặt lộ hơn 100 thước, lợp tôn vách ván, nền tráng xi măng. Đến trước nhà dì Tư bỏ đống giỏ trước hàng ba phủi tay rồi kêu lớn:
– Có đứa nào trong nhà hông bay. Ra xếp đống giỏ cho tao coi.
Không có tiếng trả lời. Trong nhà ánh đèn điện hắt ra sáng rực, có bóng người đi lại trong nhà. Dì Tư theo thói quen dậm chưn trên hàng ba rồi đẩy cửa bước vô. Vừa qua khỏi nghạch cửa dì đã oang oang:
– Mấy đứa đâu hết rồi. Tụi bay làm gì mà hổng ra phụ cho tao một tay?
Nguyệt Nga nhấp nháy đôi mắt trước khi làm quen với ánh sáng trong nhà. Nàng nhìn thấy một người đàn ông đang ngồi cẳng co cẳng duỗi ở cái bàn giữa nhà. Ông bận bộ đồ bà ba trắng, đối diện là một người khách. Hai người đang ăn uống. Dưới nền nhà có mấy đứa trẻ đang chơi.
– Bà làm cái gì mà la oang oát như quạ vậy bà.
Dì Tư gà ngước mát nhìn chồng, rồi quay sang nhìn người khách. Dì xởi lởi:
– Ủa! Anh Năm…anh đến hồi nào vậy…tui tưởng trong nhà tụi nhỏ nó giỡn không nghe tiếng tui nên tui kều tụi nó.
Ông Năm gật đầu chào:
– Chào chị Tư. Bữa nay đi bán về tối dữ ha. Chợ tết có khấm khá gì hông chị.
– Úi, khá gì mà khá anh. Bữa nay về tối là tại có chuyện…có con cháu nó đến thăm chơi.
Đến lúc đó mọi người mới nhìn thấy Nguyệt Nga đang ké né đi sau lưng dì Tư. Ông Tư bỏ chưn xuống, ông khề khà:
– Ủa, vậy sao. Có khách tới mà tui hổng biết.
– Ông đang nhậu với anh Năm mà còn biết cái gì. Cái gì mà ông nói tui la oang oát, làm như tui là gà hổng bằng.
Ông Tư cười khà khà:
– Thì bà là bà Tư gà, hổng gà thì bà là vịt hay sao?
Bà Tư vùng vằng:
– Ông sao cứ hay cà rỡn. Mấy đứa nó đã ăn cơm tối hết chưa?
– Còn đọi bà về. Tui sẵn gặp anh Năm làm sương sương chút xíu đọi bà về ăn luôn.
– Ông thiệt tình.
Đến lúc đó Nguyệt Nga vẫn còn đứng khép nép sau lưng bà Tư. Ông Tư ngó nàng, rồi day qua bà Tư hỏi:
– Ủa, con cháu nầy nó là con ai ở dưới? Nó lên bằng gì? Lâu mau rồi?
Bà Tư bỏ bao cà ròn xuống nền nhà, bà bước lại bộ ván kê bên góc nhà ngồi xuống, ngoắc Nguyệt Nga đến gầnchỉ chỗ cho nàng ngồi:
– Ngồi đây đi Sáu. Nè tui đố ông nhìn ra nó là con ai tui mới phục ông đó.
Ông Tư day qua ngò thẳng vô mặt Nguyệt Nga chăm bẳm, làm nàng mắc cở ngượng ngập cúi mặt xuống. Ông Tư lắc đầu:
– Tui chịu thua bà. In tuồng nó như là con anh Hai Hẳng…mà hổng phải. Anh Hai có đứa con gái nào mà lớn dữ athần vậy mà tui hổng biết!
Bà Tư cưòi bí mật:
– Thì như vậy tui mới đố chớ. Nè, ngồi xích vô đây đi cháu. Nghĩ chút xíu rồi ăn cơm.
Ông Tư ngó vợ:
– Vậy chớ nó là con ai vậy bà?
Bà Tư đúng dậy, vừa bưóc đi xuống bếp vừa tra û lời:
– Thì ông ráng nhơ lại coi. Tui đi dọn cơm đây. Ủa, mà con Ba đầu rồi?
Bà Tư đi thẳng xuống bếp không nghe câu trả lời của chồng.
– Thôi, bà muốn nói thì nói không nói thì thôi, hơi sức đâu mà đi đố cho nó mệt.
Ông Tư dayqua ông bạn:
– Thôi kệ bả anh Năm. Anh với tui nói chuyện đến đâu rồi.
Nguyệt Nga không thể ngồi yên một chỗ, chưn tay táy máy không yên, hình nhu nó dư ra không biết để chỗ nào. Nàng đứng lên đi theo bà Tư gà vô trong bếp.
Căn nhà bếp nhỏ gọn, để bề bộn đủ thứ vật dụng choán nhiều chỗ. Bên góc phòng có một cái giường đi văn nhỏ. Bà Tư thấy nàng đi theo vẫn để yên không nói. Nàng phụ một tay với bà Tư dọn cơm.
Bữa cơm tối dọn lên ở nhà trên, tất cả ngồi chung quanh trên nần nhà bằng xi măng. Hai người đàn ông vẫn cứ ngồi trên bàn ăn nhậu lai rai.
Kgi mọi người đã yên vị, ông Tư mới lên tiếng:
– Nè bà. Tui hỏi thiệt con cháu nầy nó là con ai ở dưới mà tự nãy giờ tui nghĩ hoài chưa ra vậy bà.
Bà Tư chống đủa nhìn chồng nở một nụ cười, trả lời:
– Tui nói giỡn với ông thôi. Con Sáu đây không có bà con gì với mình. Thiệt ra tui cũng hổng biết nó.
Bà Tư lúc đó mới đem tất cả chuyện bà Nguyệt Nga kể lại cho mọi người nghe. Ông Tư hít hà:
– Ý trời đất ơi! Thiệt vậy sao. Thôi thì cũng may phước rồi. Rồi ngày mai bà đưa nó ra chợ cho nó gặp lại gia đình nó chớ.
Bà Tư trợn mắt:
– Chớ gì nữa. Đã làm ơn thì làm ơn cho trót.
Nguyệt Nga ngồi im ăn cơm nghe mọi người nói chuyện của mình. Lâu lâi nàng len lén thơ dài. Đứa con gái bà Tư chừng độ mười mấy tuổi, ngó được gái, cứ lâu lâu nhìn nàng với vẽ mặt ái ngại xót thương càng làm cho nàng thêm áy náy, buồn tủi.
Sau bữa ăn, hầu như mọi người trong nhà đều có cảm tinh với nàng, và câu chuyện đi lạc của nàng trở thành đề tài cho mọi người kể ra hàng trăm cảnh đời, trường hợp đi lạc tại đất Sài Gòn. Nghe nh::6Ầ10:: câu chuyện, Nguyệt càng thấy xốn xang. Nàng loa lắng hơn tất cả đó là chuyện các cô gái quê bị ngưòi xấu dụ về Sài Gòn bán cho mấy động điếm. Có cô muốn trốn nhưng bị bọn canh cửa đánh đập dày vò.
Đêm đó Nguyệt Nga ngủ chung giường với con gái bà Dì Tư trong căn buồng nhỏ ở phía sau , căn buồng nằm trên một cái ao rau muống nối liền với con lạch nhỏ chảy gần sau lưng nhà. Đếm nàm trằn trọc không ngủ được, phần vì lạ cảnh lạ nhà, phần vì trong lòng canh cánh những mối sầu lo. Nước dưới ao trồi sụt lên xuống theo con nước, đến nửa đêm nước xuống mùi sình hôi thúi bốc lên càng làm cho nàng khó ngủ. Nguyệt Nga nhẹ nhàng ngồi dậy, bó gối ngồi im trong mùng. Đầu óc nàng quay về quê nhớ mẹ, nhù cha, nhớ đứa con vừa mới mất. Tiếng thở dài áo nảo của nàng làm cho con nhỏ ngũ chung trở mình mấy lượt và nó thức giấc. Nó nhìn thấy nàng ngồi thu lu một đống. Con bé hỏi:
– Ủa chị thức chi mà sớm vậy?
– Chị ngủ hông được. Em ngủ đi.
Con bé tên Nhung, cũng trở mình ngồi dậy trong mùng:
– Sao vậy chị? Lạ nhà khó ngủ hay chị lo.
Nguyệt Nga nhìn con thấy thương. Nó vừa trạc tuổi em nàng nhưng nét mặt lanh lẹ, giọng nói vững chải tự tin rành đời như người lớn. Nhung xô vai nàng nói tiếp:
– Thì nằm xuống đi. Mới có 3 giờ chù mấy.
Nguyệt Nga ngạc nhiên:
– Ủa tối hù mà sao em biết giờ.
Nhung cười nhẹ, chỉ tay lên bức cánh ván. Một chiếc đồng hồ treo trên vánh có những con số và cây kim sáng rực trong bóng tôi. Nguyệt Nga cười theo , nàng cưòi cho sự quê mùa của mình. Nhung kéo nàng nằm xuống. Nhung nói:
– Thiệt tình nghe chuyện của chị em thương cho chị lắm. Ngày mai trở lại với gia đình lâu lâu ghé lại thăm ba ma với em nhen.
Nguyệt Nga không biết Nhung nói thiệt hay nói cho qua đường. Hồi tối trước khi đi ngủ, hai chị em nằm nói chuyện với nhau một hồi, nàng đã buột miệng kể cho Nhung nghe con nàng vừa mới mất. Nàng không nhắc đến người cha của nó. Nhung thắc mắc, nàng im lặng đáng trống lãng. Nhung ăn nói như một cô thiếu nữ từng trải, nó kể cho nàng nghe nhiều câu chuyện thương tâm đã xảy ra cho số phận của những cô gái quê lên Sài Gòn bị lừa vô trong những động mãi dâm. Nguyệt Nga chỉ biếtthở dài thườn thược. Nàng còn dấu chuyện Triều chở nàng lên đây không phải là bà con như nàng đã nói. Hai thanh niên nầy chỉ mời gặp nàng lần đầu dưới quê. Chập những câu chuyện nghe , đem chuyện của đời mình ra để so đo hơn thiệt. Nguyệt Nga thấy rằng câu chuyện nàng bỏ quê lên Sài Gòn có đôi chút giông giống. Nàng đâm ra lo lắng và ngại ngùng. Nàng dùng dằng nửa muốn tìm đường vế quê nửa muốn đi tìm Triều vào sáng ngày mai. Thở vắn than dài hoài không ngủ được. Nàng kêu con nhỏ:
– Nhung nè, em ngủ chưa?
Có tiếng Nhung rè rè ngái ngủ:
– Sắp rồi. Chi vậy chị.
Nguyệt Nga ấp úng:
– Tưởng còn thức nói chuyện chơi.
– Chị vẫn không ngủ được hả.
– Khó ngủ quá em ơi. Chị sao lo quá.
Nhung trở mình, ngó nàng:
– Ủa lo chuyện gì? Chị có bà con ở đây,lên đây ở mướn cũng đâu có sao đâu. Lâu ngày chầy tháng quen nước quen cái sẽ biết nhiều rồi khi hết hạn đi tìm chuyện buôn bán. Như má em bán gà ngoài chợ Bình Tây đó.
Nguyệt Nga nghe Nhung nói sao coi bộ dễ dàng quá. Nàng không dấu diếm:
– Thiệt ra chị lo lắm. Hồi chiều chị chưa nói hết với dì Tư. Hai cái người ở dưới ghe đó không phải là bà con.
– Ủa, vậy sao. Họ là gì của chị?
Nhung tò mò chờ đợi. Nguyệt Nga lấn cấn một hồi mới nói:
– Họ hông là gì hết. Chỉ là bạn của mộtngười trong xóm.
Nhung la lên:
– Ủa. Vậy sao chị đi theo lên đây làm gì? Có ai thân thích họ hàng trên nầy hông.
Nguyệt Nga lại ngồi dậy trong mùng. Nàng thú thiệt:
– Hông. Chị hông có ai quen biết hết. Nghe anh Triều đó nói có chuyện làm và sẽ giúp đỡ cho chị. Đang có chuyện buồn ở nhà nên chị nghe theo.
Nhung la to:
– Í đâu có được. Thôi rồi, chị bị người ta dụ rồi.
Nguyệt Nga đã đề như vậy nhưng chua dám nói ra, nay Nhung đã nói toạc ra suy nghĩ thầm kín của nàng cho nên nàng biểu đồng tình:
– Chị cũng nghĩ như vậy nên chị lo quá.
Nhung ngồi lên theo. Nó ôm vai nàng noi nhỏ:
– Mà bây giờ em nói hỏi thiệt chị. Nha. Chị đừng giấu em.
Nguyệt Nga gật đầu:
– Chị mời quen họ phải hông? Rồi trên đường đi họ có hứa hẹn gì với chị hông?
Nhung nói một vài điều khác, nhưng tai Nguyệt Nga đã ù, nàng buộc miệng:
– Thôi chết rồi!
– Chuyện gì?
– Chắc là mấy người đó dụ chi lên trên nầy để bán cho động đỉ quá em ơi. Chị chắc chắn là như vậy.
Nhung bây giớ lại nghi ngờ. No hỏi:
– sao chị biết?
Nguyệt Nga nghe hỏi, nàng ngớ ra ú ớ:
– Thì tron đầu chỉ nghĩ vậy thôi. Hông biết.
Nhung lại đẩy nàng nằm xuống trở lại.
– Nằm xuống ngủ chút nữa đi. Em híp mắt rồi . Chuyện của chi để mai em nói với má tính giúp cho. Cùng lắm nếu chị đồng ý, em sẽ chỉ cho chị một chỗ cần thuê người làm.
– Nguyệt Nga nhắm mát cố dỗ giấc ngủ nhưng hai con mắt nhám để đó, cái đầu lung tung đủ chuyện. Trằn trọc không biết bao lâu….khi nàng mới thiu thiu mơ màng muốn ngủ thì bên ngoài tiềng xe xích lô máy nỗ phành phành đánh thức nàng dậy. Nhung vẫn ngáy đều đều bên cạnh. Se sẽ bỏ chưn xuống giường tìm đôi dép, Nguyệt Nga lò mò đi vô trong bếp. Vô trong nhà bếp xong rồi nàng chẳng biết làm gì. loay hoay một hồi nàng vô buồng tắm rửa sơ qua cái mặt, bước ra ngồi im trên chiếc đi văng trong góc nhà. Có tiếng dép lẹp quẹp xuống nhà bếp. Tiếng bà Tư caùu nhàu.
– Í mẹ ơi. Ai ngồi đó….Trời ơi, mầy làm tao hết hồn. Sau dậy sớm quá vậy cháu? Khó ngủ hả.
Nguyệt Nga chỉ biết dạ nho nhỏ. Trời bên ngoài sáng dần, tiếng người đi lại nói chuyện nghe râm rang. Thành phố thức giấc sớm hơn ở quê.
Bà Tư lẳng lặng bước xuống bếp bắt ấm nước, bà lục đục gì đó trong nhà bếp hồi lâu bà quay trở ra kêu Nguyệt Nga:
– Nè, cháu ra đằng nhà tắm rửa mặt đi cho nó khỏe. Hồi tối lạ nhà khó ngủ chắc bây giờ mẹt lắm. Nhà Dì dậy sớm để chuẩn bị đi bán. Oång thì ngủ tới trưa trờ trưa trật mới dậy lận. Con Nhung nó đi học nửa buổi còn nửa buổi ra phụ Dì…để lát nữa dì kêu nó nghỉ buổi bán đưa cháu đi tìm chiếc ghe hồi hop6m qua đó nghen.
Nguyệt Nga lặngthinh không nói, trong lòng nàng đang nổi sóng ba đào, cái ý tưởng muốn quay trở về quê nặng hơn…nhưng nàng thầm nghjĩ lấy tiền ở đâu ra mà đi xe đò về quê bây giờ, còn đi trở lại bến ghe tìm Triệu với Hải thì không dám. Nhung đã tỉ tê cho nàng nghe đã đủ làm cho nàng hoảng sợ, những lời nói đẩy đưa hay thiệt tình của cậu hai Triệu có phải như lời cậu nói hay không? Cái đất nầy người đông như kiến cỏ, ai cũng bương bả tât bật…còn cậu hai Triệu có vợ con gia đình thế nào nàng chưa hề biết. Gửi thân vô đó biết có yên cùng không. Nguyệt Nga bối rối chắc lưỡi hoài.
Bên ngoài cánh cửa gổ nhà dì Tư, tiếng rao hàng nghe văng vẳng. Tiếng rao hàng nghe lạ tai đối với Nguyệt Nga. Tiếng rao lảnh lót ném vô lòng con ngỏ nhỏ, hắt mạnh vô màng tai những người dân lao động nghèo trong xóm như nhũng điệu nhạc, những tiết tấu buồn bả cam chịu, câm nín. Nguyệt Nga có cảm giác như vậy. Buổi sáng tinh mơ, bầu trời đầu ắp tiếng động, những tiếng xe xích lô là nghe rõ nhứt, đến những tiếng rao luồn lách len lõi vang dội từ những vách nhà dựng đứng của các ngôi biệt hự, những căn nhà lầu cao ngoài con lộ chính đẩy dài vô các con hẻm cụt, hẻm sâu, những con hẻm ngoăøn ngèo nằm cạnh những nhà cao. Những tiếng ra nhiều lúc nghe buồn hiu hắt, nhưng cũng có lúc vút cao như reo vui hăm hở đầy sức sống để bát đầu cho một ngày. Những tiếng rao hàng càng ngaỳy càng rõ dần kèm theo những tiếng dép lẹp quẹp kéo lê trên con hẻm nhỏ Nguyệt Nga có cảm giác những những sự chịuđựng của kiếp sống cơ hàn. Nàng lại nghĩ đến mình, một đứa con gái quê gặp bao nhiêu nỗi truân chuyện để bây giờ ngồi đây lo lắng chưa biết đi về đâu và làm gì. Tiếng rao của những con người lao động bên ngoaiøi đường phố kia dầu sao cũng có một mái nhà, dù đó là những miếng tole cũ kỷ, heon rỉ, lủng nát vá chùm á đụp che không nổi căn nhà khi cơn mưa tới sụt sùi.
Nguyệt Nga lại thở dài, tiếng thở dài mang theo những tiếng rao bên ngoài kia càng làm nàng buồn thêm. Nghĩ cho cùng, ai cũng phải làm mói có ăn, nhưng người ở phố sao cơ cục quá dười cái nhìn của nàng. HỒi chiếu hôm qua, trời nhá nhem, ánh đèn màu xanh đỏ làm cho phố phường rực sáng, nhưng bây giờ không có gì dấu được dười ánh nắng mặt trời. Caí tìu tụy thảm hại của khu hẻm lao động lộ rõ dười mắt của nàng.
– Khổ quá mà sao họ vẫn cứ ở riết chỗ này làm gì? Sao hổng về quê mần ruộng kiếm cái ăn.
Vừa nghĩ như vậy, Nguyệt Nga bât chợt đỏ mặt mắc cở cho chính nàng. THì nàng đã nghe theo tiếng gọi vô hình naòo đó về một nơi chốn giàu sang của Sài Gòn hoa lệ nên đã bỏ quê lên đây để bây giờ tấn thối hai đường khó vẹn.
Bầu trời bên ngoài rõ lần, ánh náng ban mai đã xuyên qua kẻ vách ván nhà dì Tư. Trong cái không gian lặng tỉnh của ban mai đó, con hẻm ồn ào nhưng còn mát mẻ, vẫn còn nghe tiếng cục cục của mấy con gà nhốt đàng sau nhà, bên hè ở chái hông ..tiếng gáy te te của mấy chú gà tre, mấy anh gà trống chưa mọc cựa…tiếng gà gợi nhớ mảnh sân sau nhà mình, cái gì cũng làm cho Nguyệt Nga liên tưởng đến quê nhà.
Cp1 tiếng lộc cộc của bánh xe bằng gỗ lăn trên hè phố, nàng lắng tai nghe nó lộc cộc như tiếng bánh xe trâu kéo cô lụa về nàh trên đường quê.Tiếng lộc cũng một nhịp địu đó như nhẹ hơn, thanh cảnh hơn chớ không thô lỗ cộc cằn nhu bánh xe trâu trên bờ mẫu.
– …Ai…cháo….sườn hôôô….ônggggg!!!
Nguyệt Nga láng nghe. “Ngộ thiệt đó chớ” Nàng lẩn bẩm một mình. Di Tư quay lưng lại hỏi:
– Cháu nói cái gì đó Sáu?
Nguyệt Nga hỏi luôn:
– Dạ hông có nói gì…cháu nghe ngồ ngộ.
– Cái gì ngộ hả cháu?
Nguyệt Nga cười:
– Ai cáo sườn là cái gì vậy hả dì Tư?
Bà Tư gà dừng tay cột giỏ ngó ra cửa, trà lời:
– À, chaú nói cái bà cháo sườn hả. Họ bán cháo sườn đó cháu. Aên hông dì kêu?
– Chèn ơi, cháo sườn? Cái gánh đó chút xíu vậy sao.
Bà Tư bẻ mình đừng lên:
– Chút xíu mà bán cho hết cũng đủ rồi…nhiều bán hông hết nó lỗ.
– Bán cả ngày hay sao dì?
– Cái đó còn tùy.
Nguyệt Nga ngập ngừng:
– Cái xe đầy đó với mấy đồ nấu như vậy chừng nhiêu vốn dì Tư?
– Hổng biết chừng đâu…khoảng vài ngàn bạc chớ nhiêu.
Nguyệt Nga im lặng, dì Tư cất tiếng kêu con gái:
– Nhung ơi, dậy chưa mày. Ra tao nhờ chút chuyệnn coi bữa nay mày hổng đi học nướng dữ à nghen.
Nhung từ trong buồng đầu bù tóc rối chạy ra.
– Má kêu con?
– Ờ, mày nấu cơm đi chớ…sáng bảnh con mắt rồi mà còn ngủ.
Bà Tư nói nhưngmắt vẫn dán vô công chuyện đang làm. Bà nói tiếp:
– Bữa nay mầy dẫn chị Sáu mầy xuống chỗ bến Bình Đông cho chỉ kiếm bà con nghen. Mầy cầm vài chục đi xe rồi mày tạt qua chợ phụ cho tao. Bây giờ tao đi chợ đây. Ra ngoài đóncho tao chiếc xích lô.
Nhung vuốt thằng lại chiếc áo ngủ nhaùu nát, vuốt sơ qua mái tóc và đi ra cửa.
Nguyệt Nga vẫn ngồi im chưa biết định liệuthể nào. Trong nhà sáng rõ lần, mấyđứa con trai đã dậy, tiếng dép lẹp quẹn kéo từ trong buồng ra. Ông Tư bước lại bàn kéo bình rót nước, ông ngồi xuống ghế:
– Bà chưa đi chợ à?
– Chưa. Đi sao được mà đi. Có mấycon gà ông không cho uốngnước nó ngáp ngáp rồi. Tui nấu cơm rồi. Lát nữa ông đi qua bà Tám đòi nợ cho tui đi nghen. Đừng để qua Tết hổng đòi được đó.
Cái cảnh sinh hoạt trong nhà rất lạ đối vời Nguyệt Nga. Người ở thanønh phố sao mà khác quá. Ai làm thì làm tuí bụi còn ai chơi thì cứ ung dung nhàn nhã.
Con hẻm rộn ràng hơn với nhiều tiếngđộng hơn. Sinh khí của một ngày mới bát đầu:
– Ve chia…tập giấy, sách báo cũ, thau nhôm mũ bể bán hôngggggg.
– Aùo quần cũ mền cũ bán hông!
– Giày da, dây nịt, cặp táp, bóp túi …bán hông!
Đủ loại tiếng rao chen nhau trộn lộn vớinhau vang rền trongcon hẻm nhỏ.
Nguyệt Nga bỗng thấy mắc cười…cái hẻm có chút xíu, nhà cửa trồi sụt lungtung. Nhà ván bên nhà ngói, cách tôn bên tường xây…người người buôn bán tấp nập…mạnh ai nấy sống. Những người mua đồ cũ đủ loại, Họ nhà nhã ung dung gáng đôi giỏ tre từngbước vừa đi vừa rao. Có người đi hai tay không, có người đạp trên chiếc xe máy đạp cũ kỷ.
Họ rà từng nhà.
– Có gì bán hôngbác?
– Có gì bán bán hông Dì?
Nguyệt Nga vừa buồn vì nỗi nhớ nhà nhưng không thể không ở một nụ cười bất chợt khi nhìn thấy cảnh sinh hoạt lạ lùng đó. Lần đầu nàng mới thấy. Nàng cất tiếng hỏi bà Tư:
– Ủa, họ mua cái gì mà lạ vậy dì Tư?
Bà Tư ngừng tay:
– Lạ làm sao hà cháu?
– Caí gì họ cũng mua hết trơn hả dì?
– Chớ sao. Mua bán đồ cũ mà. Nghề nầy cực lắm…nhưng biết làm sao. Ai cũng phải sống mà.
Nguyệt Nga đáng tính nói thì một người đàn ông đạp chiếc xe rề tời trước cửa nhà dì Tư hỏi vô:
– Có gì bán hông dì?
Bà Tư cười cười:
– Có gà thịt, gà trống thiến, gà mái dầu mua hông.
– Có chiếc tủ búp phê giữa nhà đó dì bán hông?
– Tủ thờ của tui đó chú…đừng có trù ẻo mới sáng sớm đó nghen.
Anh ta cười và đạp xe đi, vừa đi anh ta vừa rao:
– Giường sắt, tủ sắt, bán ghế cũ, sa lông, tủ búp phê, tủ phấn, tủ thờ, tủ cẩn xà cừ, nệm mút…bán hông.
Nguyệt Nga bật cười theo như quên đi bao nỗi lo đang canh cánh bên lòng. Nàng chợt nghĩ , và lên tiếng nói với dì Tư:
– Họ mua nhiều thứ quá hả dì Tư. Có lẽ tất cả mọi thứ có trong nhà đều bán được.
– Chớ sao. Mấy chiếc dép Nhựt bằng mũ này nè, chiếc giỏ đi…lạng quạng để ngoaiøi cửa mà hổng coi có ngày đi chưn đất luôn đó cháu. Họ mua tứ hột sen, cái gì cũng mua. Cử ở đây đi rồi biết.
Nguyệt Nga thấy rằng những ngườimua bán đồ rong như muốn mua hếttát cả những gì có trong nhà. Có người đi nhỡn nhơ thành từng nhóm, tiếng rao của họ như thể kê khai tất cả những vậtdụng trong nhà. Có những ngưòi mua cũng có những người bán. Bán bánh tiêu, bánhbò, bán cháo bánh bún…họ bán và mua tất cả. Co ù tiếng rao ê a có vần có điệu như tiếng hò có tiếng rao lên bổng xuống trầm như câu hát. Mộtbà gánh đôi gánh bằng xai cái giỏ cần xé to tổ chảng nhưhai cái lu mái dầm, vừa đi bà vừa hát:
– Hỡi ai lẳng lặng mà nghe
Dữ răn việc trước lành dè thân sau
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gaí thời tiết hạnh làm câu trau mình…
Ngạc nhiên qua đổi, Nguyệt Nga láng nghe coi bà bán mua cái gì….nhưng bà không rao mà bà chỉ hát đi hát lại câu hát trên. Nàng hỏi bà Tư:
– Ủa, dì Tư…bà đó bả mua cái gì mà bả hổng rao làm sao mà biết Dì?
Dì Tư cười cười:
– Đố cháu đó…
– Cháu hổng biết được.
Bà Tư lại cười:
– Bả mua nổi niêu song nhôm đó.
– Tại sao vậy dì? Hổng rao làm sao biết mà bán mua?
– Ờ, ban đầu bả vô hẻm nầy…đâu chừng cũng hơn mấy năm rồi. Hổng ai biết bả mua bán cái gì…có người hỏi bả mua bán cái gì thì bà nói…nồi niêu song nhôm.
Nguyệt Nga lài càng ngạc nhiên:
– Kỳ hả. Mà tai sao lại hổng rao như người ta.
– Thì vậy mới làm cho bà con trong xóm hỏi chớ. Nghe đâu hồi trước bả làm cô giáo, nhưng bị tai nạn gì đó…bà thất nghiệpppphết tiền bả đi mua nồi song bằng nhôm về bán cho vựa. Bà nói “Nồi niêu song nhôm…là đồ nấu bếp…là công dung ngôn hạnh của người phụ nữ….bả rao như vậy đó.
Nguyệt Nga mờ màng:
– Ngộ thiệt. Tự vì bả có học cho nên bả mới đem tích ví von….mà bả sống được hông?
– Ai mà biết, ở cái đất nấy mạnh ai nấy sống chớ có ai hỏi chi…Ở đấy là đất hùm nằm cọp núp đo ù cháu, hổng biết ai vô ai đâu.
Đang nói chuyện Nguyệt Nga nhìn ra ngõ thấy một đám con nít đang bu quanh một ông chạy xe đạp, trên đầu ghi đông xe máy ông ta để một cây phướn cao có cái chong chóng gió thổi xoay tròn, lá phướn bay phấp phới…đám con nít vây quanh chen nhau mua. Nguyệt Nga để ý lắng nghe coi ông ta bán món gì. Khi đám trẻ nít giản ra ông mới bát đầu rao:
– Càng dài càng dẻ, càng dai
Béo bùi, thơm ngọt, lai rai nước trà.
Người nào chồng bỏ chồng chê
Aên vô một miếng chồng mê tới già.
Nguyệt bật cuời hòi:
– Caí ông đó bàn cái gì cho con nít mà rao chuyện người lớn vậy dì Tư.
Dì Tư bật cười theo:
– Cái thăng cha dó hả, thẳng ở xòm trên bên kia chợ chớ đâu. Thẳng bị con vợ nó bỏ đi theo trai, để lại cho thẳng đứa con nhỏ, thẳng đem về ông bà nội bên kia xóm nuôi dùm rồi thẳng đi bán kẹo kéo.
– Ý mèn ơi, vậy mà rao nghe gì đâu không.
– Ở đây vậy đó cháu. Mạnh ai nấy sống mà. Đừng làm gì phạm pháp là được làm hết.
– Cũng khổ quá phải hông dì.
– Ừ
Cuộc sống có nhiều điều đáng nói, và cuộc sống cũng có nhiều điều kỳ lạ. Nó diễn ra hàng ngày trước mắt con người ta. Con người tranh sống ở trong cái xã hội đó. Tình người, tình yêu là chất men là dậy lên chất sống của xã hội. Mỗi nơi mỗi khác, nhưng khôngđâu bằng quê hương. Nguyệt Nga mới đi xa nhà co một hai đêm mà đã nhớ quay nhóo quắt. Cô gaiùi quê thất học nhưng có sắc đã kinh qua nhiều nổi khổ đau. Chưa qua cái tuổi đôi mươi mà đời nàng đã gần như tan tác. Tuy vậy, mới buồn trước đó, mới lo canh cánh đó mà một ngaỳy mới băt đầu với nhiều hình ảnh rất đổi thân quen với dân nghèo xóm lao động đã là một điều kỳ diệu đối với nàng. Nỗi buồn tạm lắng qua bên. Nguyệt Nga đừng dây bước vô bếp kiếm ly rót nước uống. Ngườc nhì đồng hồ mới gần 8 giờ sáng mà nắng đã hục hở bên ngoài và cuộc sống của một ngaỳ mới nhử chừng đã qua rất lâu. Một ngày ở nơi xa lạ đã làm cho NguyệtNga tỉnh lần ra. Ở quê giác này đã xong một vài đám mạ, khi nắng xiên xiên vô tàng lá ô môi thì người làm ruộng đã nghĩ tay ăn nửa buổi. Một trái dừa tươi, một củ khoai lang, một chén chè đậu tráng nuớccốt dửa đã làm cho họ như tìm lại sức lực đã mất để hăng hái bắt tay vào công việc cho đến trưa. Một ngày của nhà quê bắt đầu rất sớm và chấm dứt cũng rất sớm, trừ mấy ngày gặt lúa và những đêm có trăng. Còn cuộc sống của người Sài Gòn bát đầu sớm và đi ngủ rất trể. Nó khác nhau chỗ đó.

Nguyệt Nga mong con Nhung trở về để cùng nó đi ra phố. Nàng muốn di ra phố cho thỏa mãn nổi háo hức trước khi lía bỏ chốn quê. Phải đi cho biết trước khi quay lại vườn xưa. Nàng có chủ ý sẽ trở về nhà cùng sống với tía má và bạn bè. Giờ naỳ chắc tụi con Nhân hậu, con Lụa…đã chuẩn bị nghĩ nửa buổi.

82. Trong khi Sáu Nguyệt Nga đang nói chuyện với bà Tư gà tại căn nhà nhỏ tại Bà Hom, Phú lâm thì Tu Nhân Hậu và Ba Lụa đang ngồi nghỉ mát trên con đường đi lên rẩy. Nắng buổi sớm không lấy gì làm nóng lắêm, con đường từ nhà dẫn lên rẩy rợm bóng mù u. Những hàng cây mù u đứng đó từ khi nào Nhân Hậu với Ba Lụa cũng chẳng biết, chắc một điều là nó mọc ở hơn vài chục năm qua nếu cứ tính theo tuổi của hai cô gái. Những cây mù u bông trắng chìm khuất trong những chòm lá dày xanh đậm rậm rịt, những trái mù u tròn như mát trâu xanh thẩm đong đưa từng chùm ắt lẻo trên đầu cành. Gió sớm thổi nhè nhẹ qua thôm xóm, náng vàng nhẹ rắc những sợi tơ vàng óng ả xuống cánh đồng, loang lỗ trên con đường làng. Tiết cuối đông hơi se lạnh.
Nhân Hậu kéo cái nón để xuống đất lót chỗ ngồi vừa kéo Lụa ngồi xuống một bên. Lụa nhăn mặt càm ràm:
– Mới đi có chút mà đòi nghỉ rồi…đi cho sớm còn về cho sớm.
Nhân Hậu cười bí mật:
– Sao ham qua vậy có gì ở nhà mà nóng nước đỏ gọng như thể cháy đồng?
Lụa miệng thì nói nhưng cũng xà xuống một bên bạn. Nang đưa tay vuốt tóc và bẻ ngón tay rôm rốp:
– Nóng đâu mà nóng bằng được mầy…chiều nay có cái đám cưới ở Mỹ Thạnh làm sao mà hông có mặt thằng Sáu chớ?
Nhân Hậu cười nhéo bạn:
– Ừ, tao nóng mà tao đâu có hối đi cho mau như mầy! Nè, nói thiệt nghe coi, mầy có hẹn với thằng Năm Trực trưa nay song ca cải lương chuyện tình Lan và Điệp phải hông? Nói thiệt đi tao phụ cho…mà mầy có hẹn với nó lát nữa tập trước phải hông nè?
Lụa cười ngỏn ngẻn:
– Sao mầy biết hay vậy? Caí thằng cha Năm Trực bép xép cái miệng..chưa ra tuồng mà người ta biết ráo trọi rồi còn đâu
– Biết thì có mất mát gì đâu mà mầy sợ?
– Hổng phải tao sợ, nhưng mà tao hổng thích…mấy đứa nó đồn bậy cắp đôi tao với chả, tao ghét.
Nhân Hậu trề môi xí một tiếng dài thậm thượt:
– Xí…! Có thiệt hông đó, có thiệt là tụi nó đồn bậy bạ hông? Tao xin keo à nha.
Lụa chồm tới đấm vô vai bạn thùm thụp. Vừa đấm vừa la:
– Cái con quỷ sứ! Mầy mà còn chọc tao nữa hả. Cái thằng cha năm Trực thấy mà ghét…cứ theo tao tò tò hoài à..
Nhân Hậu nhìn bạn cười vui vẻ. Nàng nói:
– Tao thiệt là thương cho mầy, có gì đâu mà mầy sợ chớ. Anh Năm cũng tốt bụng qua trời, ảnh chiều chuộng mầy đủ lễ bộ chớ thua sút thiệt thòi gì đâu mà mầy hay chê.
Lụa ngắt một cọng cỏ bên lề đường đưa lên miệng nhai nhai cắn cắn. Mấy bông cỏ may dính trên làn mội đỏ mọng láng mướt như bông hoa buổi sáng. Lụa phun phèo phèo, vừa nói yếu xìu:
– Thiệt ra thì tao đâu có nói gì đâu cà…tao có giấu đút gì đâu cà.
Hai cô gái vừa nói chuyện vừa trêu chọc nhau cười râm rang, téng cười trong trẻ yêu đời vang vọng trên cánh đồng náng sớm bình yên.
Nhân hậu chợt nghĩ đến Nguyệt Nga, nàng day qua Lụa hỏi:
– Lụa nè, hông biết con Sáu nó đến chưa? Bây giờ nó đang làm gì?
Lụa đang cười, nghe bạn hỏi, nàng day lại:
– Ừ hén, hổng biết nó đang làm gì ở trển. Nghĩ cũng tội cho nó quá đi. Chuyến đi nầy của nó xa tít mù chớ hổng như năm ngoái năm kia lẩn quẩn ở gần đây.
Nhân Hậu buồn buồn trả lời:
– Ừ, nó cũng xui tận mạng, bây giờ nó lên trển tao cũng mong cho nó có việc gì đó để nó quên nỗi buồn.
Lụa tiếp lời:
– Thiệt ra theo ý của tao nó đi như vậy cũng phải…mà sao tao cứ lo cho nó.
Nhân hậu hỏi bạn:
– Lo là lo làm sao hả?
Lụa lượm một cục đất ném ra xa rớt xuống con mương nhỏ vang lên một tỏm cô đơn.
– Cũng hổng biết, nhưng tao nghĩ con gái tụi mình ở chốn quê mùa đi xa như vầy làm sao mà lo cho được. Tao nghe Năm Trực nói trên đó hổng có dễ sống như ở dưới mình đâu. Caí đất đó nó như là cánh đồng hoang mạnh ai nấy sống, cái con Sáu nó coi vậy nhưng mà dễ lạc lòng.
– Rồi sao?
Lụa bẻ mình, nàng hít vô một hơi dài, trả lời bạn:
– Mầy nghĩ coi, ở đây cái gì cũng dễ dàng, cái gì cũng có bà con chòm xóm với nhau…mầy thấy nhà ông Sáu già cũng đâu có cùng cực gì, hồi đó tao cũng nghĩ là xúi cho nó đi cho nó quên chuyện cũ, nhưng suy đi nghĩ lại tao lo cho nó. Mà tao cũng hông biết tao lo cái gì.
Nhân Hậu mơ màng ngó mông ra cánh đồng còn trơ cuống rạ, một vài cặp chim cu đất xà xuống mé rừng. Co hai chưn lên, vòng tay ôm đầu gối, Nhân hậu im lặng không trả lời, Lụa theo đuổi ý nghĩ mơ hồ của mình.
Nắng lên qua khỏi chòm cây mù u bên mé lạch, một vài đứa trẻ dắùt trâu ra đồng. Cánh đồng êm ắng trải dài trước mắt. Ở xa xa cánh rừng tràm nổi lên nền trời trong, có tiếng chim kêu đâu đó trong lùm tre bên cạnh. Nhân Hậu vỗ vai bạn:
– Nè, Lụa nè! Tụi mình chưa đứa nào đi xa như vậy thì làm sao mà biết chuyện gì xảy ra. Tao nghĩ mình có lo cũng hổng làm được gì đâu. Tao nhớ cái năm nẳm khi mà nó có mang, tao đưa nó đi Châu Đốc…chèn ơi, thấy mà tội nghiệp hết sức. Con gái tụi mình lúc naò cũng bị thiệt thòi hông à. Mầy nghĩ coi có đúng hông. Tao lại nhớ cái hồi nhỏ tao ở Tân An, tao cũng mơ ước nhiều chuyện, nhưng rồi từ ngày tao về đây với tía má tao thì tao lại thích ở đây hơn. Mầy biết sao hông. Ở chợ nó khác với ở quê mầy ơi. Ở chợ nó hổng có cái tình như ở mình…
Nhân Hậu ngưng ngang, Lụa day qua ngó bạn:
– Vậy sao?
Nhân Hậu gật đầu:
– Tại mầy hổng biết đó thôi, tao thì chưa đi Sài Gòn tao hổng biết, nhưng tao biết một chuyện là ở đây nó bình an lắm. Nói nào ngay, tao cũng có một thời đi học cho nên tao cũng mở mang chút ít…mà thiệt ra cái học đó nó hổng giúp gì được …
Lụa lắng tai nghe, bỗng Nhân Hậu ngừng nói, Lụa day lại:
– Ủa kỳ hông. Sao đang nói ngừng ngang vậy?
– Nói gì đâu…tao nói tầm phào thôi hà.
Lụa ngó bạn nghi ngờ:
– Mầy nói lạ…tao nghe in tuồng như là mầy có cái gì muốn dấu hả?
– Đâu có đâu.
Lụa lắc đầu:
– Mầy hổng muốn nói thời thôi. Nhưng mà theo tao…như tao nè hổng có chữ nghĩa, nhưng Năm Trực đó cũng như cục đất, nói năng thì bạt mạng mà cái đầu hổng có gì hết trơn. Còn tao thì cũng ngu thấy bà.
Nhân Hậu ngắt lời:
– Thiệt ra tao cũng hổng biết tao nói cái gì. Nhưng tao biết có một điều là sống ở đây tao có cảm giác bình yên. Từ cái ngày tao quen với Sáu Bảnh, nói thiệt ra thì anh Sáu ảnh hiền, cũng đâu có chữ nghĩa gì đâu nhưng cái tình của anh chơn chất.
Nhân Hậu bỏ lửng câu nói, Lụa ngạc nhiên ngó bạn hoài. Nàng nghĩ rằng bạn mình có tâm sự gì đó mà không nói ra. Lụa không hỏi tiếp. Nàng ngó ra cánh đồng, bên phải con mương nhỏ có lạch nước thông ra cánh đồng, ở đó bông sen mọc đầy. Đồng Tháp Mười có rất nhiều đầm sen, mọc hoang cũng có mà chủ trồng cũng nhiều. Mùa này sen tàn, đầm sen trơ trọi những ngó sen khăûng khiu không có bông, những gương sen cũng đã được hái từ lâu, một vài cái èo uột còn sót lại trên đồng, điểm xuyết một vài bông lẻ loi màu hồng nhạt nằm chung lộn tróng đám lá xanh lơ. Một vài con cò trắng nhàn nhả thả bước quanh đầm. Lụa hỏi bạn:
– Mầy thấy mấy cái bông sen còn sót lại trong đồng hông Hậu?
Nhân Hậu gật đầu:
– Thấy chớ. Mà sao?
– Đâu có sao đâu, mầy đang nói rồi lấp lửng im ru tao hông biết nói gì…
– Ừ, tao lóng rày sao kỳ ghê, muốn nói cái gì đó mà ấp a ấp úng tao cũng hông biết nữa. Thôi bỏ đi. Cũng tại mầy nhắc đến con Sáu Nguyệt Nga nên tao mới nói tùm lum tà la.
Lụa cười:
– Đó! Đó! Đổ thừa cho tao rồi. Thôi nha, bây giờ đi cho được việc.
Nhân Hậu, không nói chỉ gật cái đầu và đứng dậy theo lời bạn. Hai cô gái bước dọc theo mé vườn, một bên là cánh đồng một bên là con lạch nhỏ. Họ nhắm hướng rẩy trên cái giồng cao trước mặt bước tới. Đang đi, một trái mù u rớt xuống con mương vang lên một tiếng ngắn ngủn. Nhân Hậu bật cười khan, nàng kêu bạn:
– Lụa nè, tao thấy trái mù u rớt xuống nước kêu cái chủm, tao bỗng nhớ đến mấy câu hát.
Lụa đang đi bên, day qua ngó bạn, nhướng mắt:
– Lại nhớ cái gì?
Nhân Hậu cười:
– Ngộ thiệt.
Lụa nhăn mặt:
– Mầy hay có cái kiểu đâm hơi quá chừng. Ngộ, chèn ơi cái gì mà ngộ với hổng ngộ đây. Aên nói thiệt tình.
Nhân Hậu cười theo bạn, giọng cười vui vẻ:
– Ừ, tao tầm ruồng thiệt. Tao đã nói rồi, tao hổng biết sao lòng rày tao hay nói lấp la lấp lửng. Mà thôi, để tao nói cho nghe. Tao nói ngộ là tao nói tụi mình ngồ ngộ.
Lụa xì mộttiếng:
– Đó, thấy hông. Tao nói rồi mà…mầy cứ ba mớ tao hổng biết gì ráo trọi.
Như có niềm vui nào chợt đến trong lòng, Nhân Hậu không giận bạn mà nàng còn cười lớn hơn. Lụa phang liền:
– Ê! Mầy có nghe mấy ông già nói “Con người chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy…” là gì hông mậy?
Nhân Hậu ré lên:
– Í mẹ ơi, mầy chữi tao đó hả con quỷ sứ?
– Đâu có. Tại mầy rậm rà rậm rực cười hoài làm tao phát bực mình.
– Cũng hổng có gì, tao thấy cái trái mù u…tao nhớ có câu “Nhánh mù u con bướm vàng hông đậu, vì xa em nên thành điệu nhớ não lòng.”
Lụa gật đầu:
– Ừ, rồi sao?
– Thì tao thấy cái bông mù u đâu có bướm vàng nào đậu đâu cà?
– Sao mầy biết?
– Thì mầy coi đi…cái bông nhỏ rí, cái lo to sầm sầm dày cui thì con bướm naò mà thấy đâu mà đậu chớ.
Lụa ngó lên hàng cây mù u bên lề đường:
– Ừ, thì mầy nói vậy tao nghe vậy.
– Mầy biết sao hông?
Lụa mắc cười cho cái lối nói chuyện của bạn. Nàng cộc lốc:
– Hông.
Nhân Hậu mơ màng:
– Thiệt ra thì cái bông mù u nó hông thơm tho gì lắm, nhưng nếu mầy coi cho kỷ nhìn sát vô đưa lên mũi hửi coi…nó có mùi thơm đó mầy…cái mùi thơm rất ít nhưng đằm thắm.
Lụa gật đầu:
– Ừ, thì đằm thắm.
Nhân Hậu không để ý đến thái độ của bạn. Nàng nói tiếp.
– Caí đằm thắm của cái bông mù u nó như thể lá cái đằm thắm của người con gái ở quê. Nó khép nép, kín đáo và bình thường. Cái maù trắng muốt của nó chìm trong cái đám lá dày cui, như thể người con gái quê chìm trong cái mênh mông của ruộng lúa, vườn cây. Người con gaí quê nó thiệt thà, chơn chất như thể cái bông mù u …nó lớn lên mà hổng biết rồi sẽ đi về đâu, làm được cái gì, mơ ước ra làm sao…Nói chung, cây mù u hông ích lợi gì hết, chỉ được cái to xác, cái trái, cái bông…ái dà! Cũng hổng biết để làm gì…Vậy đó, mà cây mù u nó mọc đầy ở quê…Mầy thấy hông?
Lụa ngó bạn ngạc nhiên. Nàng không biết con bạn của nàng hôm nay có tâm sự gì khi nói ra những lời văn hoa như thể trong tuồng tích. Lụa đơn giản nghĩ rằng “Chắùc là tại thằng Sáu Bảnh.” Nghĩ vậy nàng buột miệng hỏi:
– Anh Sáu mấy lúc sau nầy tao ít găïp a mầy. Aûnh còn qua lại nhà mầy hông?
Nhân Hậu nghe bạn nhắc đến Sáu Bảnh đâm bối rối:
– Ủa, đương không sao mầy hỏi ảnh chi?
– Thì tại mầy nói chuyện gì tao nghe như thể là mầy có tâm sự.
– Tâm sự gì đâu?
– Sao hông. Hổng có sao nói toàn cái chuyện gì như là chuyện buồn…Nói thiệt cho tao nghe với Hậu?
Nhân Hậu cười chúm chím:
– Chèn ơi, mầy sao hay nghĩ xa dữ à nha. Mầy cũng mơ mộng ướt rượt đi chớ.
Lụa ngó bạn:
– Thôi, mầy hổng muốn nói thì thôi.
– Có gì đâu. Nói thiệt là tại vì tao thương con Sáu Nguyệt Nga qua đi. Hồi nãy mầy nhắc đến nó nên tao…nghĩ tới nó tao mới nói như vậy.
– Ô!!!
Nhân Hậu nhảy qua con mương nước vô vườn, Lụa nhảy theo. Hai cô gái đi sâu vô trong rẩy. Rẩy dưa đã hái từ đầu mùa chỉ còn trơ những đám giây không được chăm chút nên mọc tràn lan phủ lấp mấy con mương. Có những trái dưa đèo còn sót lại nằm trơ trọi trên đám lá khô. Nhân Hậu cúi xuống bợ lên một trái. Hai cô gái đi băng qua đám rẩy. Lụa nói tiếp suy nghĩ của nàng:
– Hậu à, tao hông được văn vẻ như mầy. Nhưng mà tao cũng nghĩ như mầy. Tao hông ví von được như mầy nhưng mà tao cũng thương con Sáu Nguyệt Nga y như vậy. Tao cầu mong cho bà độ nó tai qua nạn khỏi, cho nó có được vui vẻ.
Nhân Hậu đi một bên, vừa đi vừa đập trái dưa cho bể ra làm hai, bên trong ruột đỏ tươi, nàng đưa cho bạn một nửa:
– Aên chút cho đã khát. Dưa đèo mới ngọt.
Nhân Hậu ngồi im, những chuyện cũ hiẹn ra trong trí nhớ. Ông Năm Hương, cha nàng, chê “Thằng Sáu coi cũng được, nhung tao ngại con nhà tông hổng giống cũng giống cánh”nó làm biếng nhớt thây làm sao mà mần ăn để nuôi mầy.” Giọng nói Năm Hương đều đều, những suy nghĩ của cha không làm cho Nhân Hậu để ý, lưa tầm…Nàngcũng không hiểu sao nàng thương Sáu Bảnh, có lẽ bởi cái tánh hiền hòa, giọng nói dễ nghe, hay bởi tại vì Sáu Bảnh to con, cái mặt đẹp trai, thông minh lộ ra ánh mắt. Đã có lần nàng nghĩ về Sáu Bảnh như vầy “Caiùi mặt đó mà ở thành, ở chợ, được đi học thì phải biết. Không được đi học mà có những ý kiến dẫn nước vô mương vườn còn hay hơn mấy ông dẫn thủy nhập điền về từ chợ quận giúp dân lập vườn tháo nước ra mương vào những ngày nước nổi. Ở xóm nầy, vào mùa nước nổi, nước tràn vô trong mương vườn, con cái nó theo nước lớn ra sông, ra ruộng, ngưòi dân đăp bờ bao bằng đất và dùng thân cây dừa làm đòn kê giữ đất; ngặt một nổi con nước trà về lớn quá, bao nhiêu đất đắp, bao nhiêu cây dừa cũng không giữ được vì nước ứ bên trong không thoát ra ngoài bị xói mòn bờ bao làm lổ mọt lâyngày phá bể. Sáu Bảnh làm công cho chủ điền, anh bày cái kế dùng thân cây dừa lão khoét bộng ruột làm ống thông thủy, nước có có chỗ lưu thông nên không pháo vỡ bờ bao, làm co mực nước bên ngoài đồng và trong những mươngvườn thấp ở ngang nhau nó không phá. Cái kề của Sáu Bảnh chẳng mớ mẻ gì, nhưng mới ở chỗ là anh không đi học, chưa bao giờ biết nguyên tăc “Bình thông hau” qua kinh ngiệm anh đã nghĩ ra . Nhân hậu cũng không hiểuđược tiếng lòng của nàng. Nàng cảm được nhưng không nói ra được.
Năm Hương nói gì thì nói, Nhân Hậu một mực lặng thinh. Co ù một lần nàng cải lại với tía nàng. Một hôm ông Năm đi đâu về gặp Nhânhậu ngoài đầu ng, ông la lối om sòm “Cái thằng Sáu nó hổn, nói ăn nói không biết kẻ trên người dưới, nó …nó…mà mầy hổng được qua lạivới nó nữa…nghen mậy.”
Nhân hậu không biết chuyện gì, sau mới biết là trong bữa giổ, Sáu Bảnh “cá độ” uống rượu với ông Năm Hương. Và bữa dó Năm Hương thua xiển niển, giận cá chém thớt, giận lây luôn đến nàng.
Có nhiềuchuyện trong làng trong xóm nó xảy ra hàng ngày, và gâyra bao cảnh trớ trêu. Nhưng tấm lòng người nông dân cởi mở không để bụng. Dễ giận cũng dễ quên.
Bao nhiêu chuyện xưa hiệnvề trong trí nhớ, Nhân Hậu ngó cha:
– Năm ngoáiTía nói ảnh “nhà tông hổng giống lông cũng giống cánh mà” bây giờ con đâu có dám mà nói cái gì.
Năm Hương cười hề hề, day qua vợ:
– Bà coi nó đó. Mèn đét ơi, con bà nó thù dai mới là dữ thần đa nghen. Chuyện đâu hồi năm nẵm mà nó còn ghim tui đó bà.
Nhân Hậu cười với cah:
– Con nhà tông hổng giống lông cũng giốngcánh. Con nhiễm cáitánh thù dai của tía đó mà.
Ông Năm cười to hơn:
– Bà coi nó kia cà. Nó trả treo dzí tui đâu có thau chút nào đâu à.
Bà Năm vui vẻ nhìn chồng:
– Lâu lắm tui mới thấy hai cha con ông vui vẽ “trả treo” với nhau đó. Thì ông có giỏi ông ăn thua đủ với nó đi, tui vô can trong vụ này.
Ông Năm nhìn ra ngoaiøi trời, một đám mâytrắng kéo ngang nhà đi về phía đồng nước trong xa. Tiếng gió đập mấytàu dừa nước “ộch ạch”. Tiếng kêu của đám lá dừa ngập trong nước. Con nước đang lên. Năm Hương nhìn con với ánh mắt từ ái. Nhânhậu là đứa con gái ngoan, biết lễnghĩa, siêng năng và có hiếu. Ông không muốn concáiông kham khổ, nhứt là con gái nó [phảicó được tấm chồng xứng đáng để ăn đời ở kiếp. Như ông, có đến hơn chụcmặt con vớibà Năm mà tình ông đối với bà vẫn mặn nồng. Ông mong muốnnhững đứa con củaôngcũng đượcnhưvậy.Ông nghe câu “Con gaiùi nhờ đức cha” cho nên ông tutâm dưỡngtánh cầuphước cho mấy đứa con gái. Ông biết thân phận của đàn bà trong cái xã hội nông thôn chưa khai hóa.
Cuộc đời giòng họ của ông đã dính liuền với cánhđồng nước nổi nhiềuphèn nầy tưbao đời. Ông Namêm đã muốn thoát ra chợ, có mộtthờigian ông đã sống tạichợ Tân An trong 9 năm kháng chiến, nay hòa bình, đất nước được tiếp thu qua tay người quốc gia ông trở về. Lịch sử đất Long An ông nắm trong tay.
Cho đến cuối thế kỷ thứ XVI qua đến đầu XVII cái đất nầy vẫn còn là vùng đất hoang vu chưakhai phá. Ngày đó tổ tiên ông từ đáng ngoài theo đàngNam tiến lập nghiệp đi vô. Qua lịch sử đất Nam Bộ trong Gia Định ThànhThông Chí còn ghi “Ở cái phủ Gia Định-Đồng Nai, tÚu cửa biền Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm…” Như vậythì đất Long An (Tân An) vào cái thời đó là đấthoang rồi người Việt mới đến định cư nơi đây và khai phá. Bao nhiêu mồ hôicủa của đám người tay xáchnách mang, một manh chiếu rách, mộtcái rựa, cái ophàng phát quang trên tay đến đây. Cửa Soái Rạp ở biên địa con sông Vàm Cỏ nơi đón bao nhiêu người từ Gia Định hoặc đàng ngoài tràn về. Các cuộc đất cao ráo, những caiùi giồng nổu như những cục u trên thảm cỏ báng, lát, minh mông kia như CầnGiuộc, CầnĐước, TânTrụ, Vàm Cỏ Đông,Vàm Cỏ tây, Cái Yến…đã đón nhữngbước chưn đầu tiên của những lưu dân ít học đến đây. Những người nông dân, chưn đất đầu trần họ không có chữ nghĩa, không biết bonchen chỉ mangtrong lòng mộttrái tim biếtyêu thương. Ông Namêm suy nghĩ, tỉ như ông đây “Suy bụng ta ra bụng người” nếu ông không yêu thương vọ con thì ông đâu có lăn thân khẩn hoang, phục hóa cái cuộc đất cha ông để lại đầy phèn ngày nay đàn con hơn một chục. Tình thương gia đình, yêumái ấm, niềm hạnh phú đơn giản, cuộc sống điền viên là động lực cho nhữngngười đikhẩn đất hoang ở Nam Bộ phải không?
Trên vùng đất mà ngaỳy nay là Long An đã có những binh lính của chúa Nguyễn đánh Xiêm la, có quân binh của vua Quang Trung Đại Đế, có côngcủa LêVăn Duyệt, Nguyễn Hùynh Đức…vàcủa biết bao người dân chân lấm taybùn Vũng Gù là một vùng đất đi vào giòng lịch sử . Vũng Gù là một đoạn sông nốitừVàm Cỏ Tây chảyqua thị trấn Tân An, tức là sông Bảo Định. Năm Hương đã sống ở Tân An, và Long An là quê hương của ông. Ông hay kể cho đám con ông nghe về lịchsử của cuộc đát nầy.
Trong nửa đầu của thế kỷ thứ XVIII người đến Long An một nhiềuthêm, đã mở rộng ngược theo giòng Vàm Cỏ về khai phá đất phèn, ruộngnuớc, cánh đồng nước nổi Đồng Tháp Mười. Đã có thời ông Nguyễn CưTrinh có tên trong những ngườikhai hoang mở dất cho Đồng Tháp. Trong quyển Phú BiênTạp Lục, ông Lê Quý Đôn có ghi như vầy “Thập niên 70củathế kỷ XVIII huey65n Tân Bình (Gồm Long An và một số tổng chung quang) có hơn 150 thôn, làng, số dân là 15,000 dân đinh, . Nếu tính bình quân cứ 5 người có một dân đinh thì số dân ở Long An là 75,000 người và có số ruộng được khẩn hoang thành đất thuộc là 1,454 mẫu.”
Người Long An cần cù và có tinh thần chịu đựng khó khăn , nếu không chịu được khó khăn không thể sống được ở ĐồngThám Mười quanh năm nước nổi. Người lưu dân với tấm nóp cây phảng đã biến vùng đất phèn từ Rạch Cát đến Soài rạp, Cần Giuộc, cần Đước trởnên trù phú. Conngười và đất nước Long An không chỉ là cần cù nhẫn nại mà còn là sự ứng biến để sốngđược trong một vùng đất khắt nghiệt, vàngay nay đã xâydựng được một vùng đất trù phú có tiếng. Nước của Vàm Cỏ, CầnGiộc Cần Đước không phải lànước ngọt, ở dây là nước lợ hoặc làmột chất nước hơi lạt nhưng khi nấu sôi trở mặn không uống được, cho nên ngườita dùng ghe chởnước ngọt đi đến những vùng này để đổi lấy lúa gạo. Nghề đổi nước-không phải bán nước.
Năm Hương là mộttrong những gia đình lưu dân đến dây, nhìn lại cơ ngơi với căn nhà vách ván, Năm Hương thỏamãn với công sức bỏ ra. Nói chung dân đinh, tá điền trên cánh đồng Nam Bộ phần lớn la øngười nghèo, là đám dân phiêu bạt, phương tiện không có để đối phó với những ngày đầu tại cuộc đáất nầy. Long An còn có những địa danh Rạch Cát, Chợ Đệm, Bến Lức, Thủ Thừa, Rạch Chanh…từ đây có con đường sông dẫn về Sài Gòn, chốn phồn huê đô hội, trên đường nước nầy có những chỗ giáp nước trở nên trù phú, là nơi trao đổi sản vật của địa phương, là bén ghe của dân tứ chiến giang hồ…và bao nhiêu chuyện tình đã nẫy nở trên vùngđất mới khai hoang.
Trong khoảng thờigian hơn 2thế kỷ, những lớp người đàng ngoài đã Nam tiến, thế hệ nầytiếp nối thế hệ khác, bỏ sức cần cù, phátrẩy đàomương, xẻ kinh đáp bờ làm nên cuộc sống. Kếtquả đó đã nhìn thấy rõ ràngtrước mắt mọingười, làm sao Năm Hương không thấy? Trong cái cảnh gạo chợ nước ghe…người Long An đã càng ngaỳy càng bồi đáp cho giòng Vàm Cỏ, con kinh Bảo Định, cánhđồng năng lát Tháp Mười càng ngày càng đông vui, tìnhthường yêu quêcha đát tổ, gắn bó vói mương, vườn, đồng ruộng, yêu tiếng sáo buổi trưa, tiếng con bìmbịp nảonềkêunước l;ớn. Những con thuyền giang hồ qua lại và lại rồi qua đi…những tấm lòng, những cảnh ngộ đólàm sao quên được trong trí Năm Hương. Nghèomớithấy cái nghĩa, lúc cùng cực mới biết tình: Chuộng nghĩa, thủychung , sẵn sàngchi sớ ngọt bùi cay đắng lànhững đức tánh có trong huyếtquảnnhững kẻ ăn nói bạt mạng, chưn đất đầu trần….như Năm Hương, Sáu Bảnh. Năm Hương đã hiều thàng Sáu được đôi phần “Thằng Sáu nó cũng giông giống tao…”

Càng nghĩ Năm Hương càng thương yêu đám con củaông hơn. Tụinó phảisướng hơn đờimình bâygiờ. Ông bất chợt thở dài…khi nhìn đám con gái của ông đang ngày một lớn sởn sơ vô tư. Đầu xuôi thì đuôilọt. Con Tư dựng vợ gả chồng hạnh phúc thì đám em nó tiếp bước theo sau.
Năm Hương nhìn ra ngoài trời chiều vàsuy nghĩ miên man, bà Năm ngồikếmộtbên mà ông như không hề biết. Nhân Hậu ngó cha:
– Tía ngó cái gì ở ngoảimà ngó hoài…má ngủ gục kia cà.
Năm Hương giựt mình nhìn bà Năm:
– Bà đi xuống cho tui hớpnước nóngcoi bà. Nãygiờnước trànó nguộingắt mà tuicũng quên mất.
Bà Năm lặng lẽ đứng lên đi vô trong, Năm Hương co chưn lên ghế, vấn điếuthuốc, bập mấy hơithả khói mu ømịt…ông nhìn con qua màn khoiù:
– Hậu!
– Dạ!
– Mầybiếttía mầysuy nghĩ gì hông mậy?
Nhân hậu ngó sửng chanàng. Ngạc nhiên nàng hỏi:
– Ủa, chớ tía nghĩ cái gì vậy?
Năm Hương cườiha hả:
– Taođốmà mầyhỏi thì cũng nhu không. Đố mầytíasuynghĩcái chuyện gì nè.
Nhân Hậu mở lớn đôimát nhìn cha:
– Chèn ơi, bữa nay tía bàyđạt đố nữa. Tíasuy nghĩ cái gì trong đầu làm sao con biết được. Bộ tía tưởng tui là tề thiên hay bồ tát hả tía?
Năm Hương bập bậpmấyhơi thuốc, ông kho khan mấytiếng:
– Mẹ…thuốcgiồng năm nay hay làm mình ho quá, hổng biếttụinó phơi phong làm sao mà bập hoài hóp má mà hổng có khói.
Nhân hậu mắc cười, nhìncha:
– Thì tía dzụt nó đi…Tía đang nghĩ cáigì đó. Tui thấy cái mặttía lúc buồnlúc vui, lúc tuithấytía như cườimà có khi như là giận ai vậy. Đố mà tíanghĩchuyện gì….nhưng mà tíaơi….giậngì cũng được đừng giận con tộinghiệp nghen tía.
– Sao mầy lóng rày lẻo mép quá vậy Hậu. Lẽo lự trả treo mới là quá trố.
Hai cha con Năm Hương đang qua lại, bà Năm bước lên, tay bà bưng một bình ủ nước trà.

Bà Năm ngồi xuống ghế, tay rót nước vô ly, đẩy qua phía chồng. Bà nói:
– Ông ơi, chuyện con Hậu như vậy thì ông quyết định ra làm sao?
Năm Hương đưa tay nhẹ nhàng cầm ly nước bà vợ vừa đầy qua, nét mặt ông đam chiêu, nửa như suy nghĩ nửa như cười. Mặc cho bà vợ đang chăm chú ngó ông, Năm Hương cứ thủng thỉnh phà khói. Nhân hậu cũng ngườc mằt nhìn cha chờ đợi. Năm Hương đạt ly nước xuống bàn, trở thế ngồi, bấy giờ ông mới nhìn mặt bà Năm, chậm rải:
– Bà nghĩ sao? Chuyện con Tư tui đã nói như hồi nãy rồi đó. Chuyện của nó thì nó quyết định. Tui nghĩ, cái thời buổi nầy không phải như cái thời của tui với bà. Con cái nó văn miêng lắm rồi, với lại cái làng của mình cũng đâu có cổ lổ sỉ mà bà vơi tui quyết định chuyện vợ chồng cho tụi nó.
Ông Năm Hương ngừng lại ở đó. Bà Năm hết ngó chồng, day qua nhìn con gái. Nhân Hậu nhìn mẹ. Năm Hương nói tiếp.
– Tui nghĩ cái thằng Sáu cũng hổng có cái gì đáng chê đáng trách. Chuyện vợ chồng là chuyện trăm năm, mình cũng nên để cho tụi nó tự quyết định, tui với bà chỉ làm công việc cha mẹ đứng ra gả cười mà thôi. Bà nghĩ tui nói như vậy có được hông?
Bà Năm nói xuôi theo:
– Tui đã sống với ông có hàng chục mặt con, mà sao ông hổng biết ý tui, từ nào giờ tui có bao giờ phản đối ý kiến của ông bao giờ. Ông nói sao tui nghe vậy.
Bà day qua nhìn Nhân Hậu:
– Tía mầy đã nói như vậy, mầy lo mà chuẩn bị…chuyện của cha con mầy như vậy là xong. Mà tao cũng đỡ lo. Cứ nhìn mấy đứa con gái trong làng mà tao lo ngay ngáy.
Nhân Hậu không vui mà cũng không ngạc nhiên trước quyết định của ba má. Nàng từ tốn:
– Con hổng biết. Ba má đã nói vậy thì con nghe vậy.
Năm Hương bấy giờ mới mở miệng cười:
– Mẹ họ, con nầy nó khôn thấy bà. Trong bụng nó mở cờ mà ngoài mặt nó làm cái bộ tịch in tuồng như nó nghe lời mình vậy.
– Ông ăn nói nghe sao mà hổng thông. Con ông mà ông hổng biết tánh nó sao mà còn nói.
Năm Hương cười lớn hơn:
– Tui mà hổng biết nó thì còn ai biết vô đây. Mèn ơi, nó khôn quá mạng. Tui biết tỏng trong bụng nó là nó chịu thằng sáu từ lâu…có điều lần trước tui còn lấn cấn cái chuyện bên gia đình của nó, nên tui mới bàn ra.
Năm Hương ngừng một chút, suy nghĩ:
– Mà nói cho cùng, tui với bà có ngăn cản thì cũng là vì mình thương nó, mình muốn cho nó sung sướng về sau chớ có nào phải mà ngăn cấm để té vàng té bạc gì cho mình đâu cà. Chung quy cũng là vì nó mà thôi. Bà nghe tui nói có phải hông?
Bà Năm nhìn chồng:
– Ông nói phải lắm. Ông nói đúng lắm, từ nào tới giờ có bao giờ mà ông sai cái gì đâu.
Nhân hậu ngồi im nghe tía má đối đáp, lòng nàng chợt dâng lên nỗi cảm khái không nguôi. Một luồng hơi chạy ngược từ trong đáy lòng dội ngược lên cổ, nghèn nghẹn cảm xúc. Nàng thương tía má quá chừng. Từ ngày nàng có trí khôn, nàng biết ông Năm lo lắng đủ thứ chuyện. Ông cố gắng dẫn dắt đàn con hơn một chục cố gắng làm lụng, nhà cửa ngày càng khang trang, từ mấy công ruộng của ông nội bây giờ cơ ngơi cũng được hơn mười công thêm mấy công rẩy. Cái đìa nằm cạnh con rạch nhỏ hàng năm đem lại bao nhiêu nguồn lợi cho gia đình. Tánh tình ông Năm nửa tân nửa cổ. Nhân Hậu biết tánh ông, nàng thương tía má…Con cái thương yêu cha mẹ là một chuyện thường tình, chỉ có con cái ngổ nghịch không thương cha thương mẹ mới là nghịch lý. Biết vậy, nhưng với Nhân Hậu bây giờ, tình thương đó khó diễn tả bằng lời nó đã biến thành luồng hơi đưa lên cổ. Nhân Hậu nhìn tía chăm chú, nét mặt ông đã có nhiều vết nhăn hơn, tóc ông đã bạc hơn phân nửa mái đầu. Cái cười của ông không còn sang sảng như ngày mới dọn về làng. Cánh tay bây giờ gân guốc hơn. Nhớ ngày mới về quê, sau đình chiến không ai nghĩ ông Năm với một bầy con, một bà vợ chưa bao giờ quen với công việc đồng áng, nhìn cánh đồng nước nổi minh mông bà con hai bên đều ái ngại cho ông. Bây giờ nhìn lại, Nhân hậu thán phục cha quá thể.
Nàng cất tiếng:
– Tía à, tía biết con mà. Có bao giờ con dám cải lại tía đâu. Con nói thiệt chớ hổng phải con làm bộ làm tịch đâu ba ơi. Giả tỉ như bây giờ tía má không bằng lòng thì con cũng đâu dám cải.
Năm Hương để ly nước xuống bàn, trở bộ lần nữa:
– Bà nghe hông bà. Chà! chà, con của tui nó ăn nói mạch lạc ghê. Phải chi thời cuộc không đẩy gia đình mình về đây ở trên miếng vườn nầy thì bây giờ con tui nó có thể trở nên cô giáo được rồi. Còn bà nữa, bà đã theo tui từ ngày đó đến giờ…tui nghĩ tui cũng còn phước chán phải hông bà.
Bà Năm chưng hửng, ngơ ngác ngó chồng. Bà ấp úng:
– Ủa, ông nói cái gì tui hổng biết.
Năm Hương nhìn vợ, ông nở nụ cười hiền. Giọng ông đầy cảm xúc:
– Tui đâu có nói gì đâu. Tui đang nghĩ đến những ngày tui với bà còn ở Tân An…cái ngày con Tư nó ra đời, đứa con gái mà bà ẳm bà bồng bà vui mừng như thể bà được vàng. Bà còn nhớ hông?
Ông Năm dẫn bà Năm về khung trời cũ. Người đàn bà nhà quê kia bước theo ông:
– Dưng không ông nói cái chuyện gì đâu…ông nhắc chi đến cái ngày đó vậy. Mà nghĩ cũng mau qua há ông. Mới đó mà đã 20 năm rồi chớ ít ỏi gì…
Bà Năm day qua ngó con gái:
– Ừ, mình ở với nó nên mình đâu biết nó cũng đã lớn bộn rồi….ít nữa nó theo chồng nó ra riêng…
Giọng bà Năm đổi khác. Năm Hương nhìn vợ, ngó con. Ông nói với vợ:
– Tui biết cái ý của bà, không nói ra nhưng bà lo cho nó chớ gì? Bà buồn vì bà nghĩ đến cái ngày nó ra riêng ở với người ta, bà mất nó chớ gì. Hông có sao đâu bà ơi, nó ở bên kia xẻo chớ đi đâu mà xa xôi cách trở mà bà buồn.
Giọng bà Năm trở lại bình thường:
– Ông nói vậy thì tui hay vậy…
– Hồi bà theo tui bà có nghĩ là bà xa cha mẹ hông? Bà có lo có buồn như bây giờ hông? Con gái là phải theo chồng, xưa nay vẫn vậy có gì đâu.
Bà Năm cố giấu điều gì đó:
– Ừ, thì ngày tui theo ông về nhà ông, tui cũng buồn chớ sao hông.
– “Thuyền theo lái gái theo chồng” bà biết cái đạo lý đó mà. Có điều thời buổi bây giờ nó khác. Con cái nó không nghe mình mà thôi. Nhưng thôi bà ơi, nước mắt chảy xuống chớ chảy lên sao cho được.
Nhân Hậu ngồi im ru nghe, càng lúc cảm giác đầy ứ dồn lên tận cổ. Nàng không biết nói gì. Mở miệng hít một hơi dài và nàng thở ra nhè nhẹ. Nàng cố gắng giữ cho giọng bình thường:
– Tía má à…người ta nói “Má ơi đừng gả con xa, chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.” Con đâu có đi xa đâu mà má lo má buồn.
– Ừ, bà cũng ngộ ghê. Chưa cưới hỏi gì hết mà bà làm như lát nữa nó đi vậy.
Bà Năm ngó chồng:
– Cũng tại ông hết trơn hết trọi. Đương không ông nói chi ba cái chuyện đời xưa cố lỉ đó chi, bây giờ ông trách tui.
Bà Năm cười méo xệch không giấu nổi buồn lo trong lòng bà. Nhìn Nhân Hậu bà nói:
– Mầy lẻo lự quá Hậu à. Tía mầy nói đúng quá, phải chi mà ở thành ở chợ tao cho mầy đi học làm cô giáo.
Nhân Hậu nhìn mẹ cười:
– Làm gì mà được ở gần tía má là con vui rồi. Con không nói láo đâu…con biết má lo, nhưng con cũng lo vậy chớ. Cái thời của tía má không có cái chuyện yêu đương trai gái như bây giờ cho nên tía má đâu có biết cái cảm giác của tụi con phải hông?
Bà Năm nhìn chồng:
– Ông nói đúng quá mà. Con gái ông nó lẻo lự dữ thần. Mà cũng đúng quá đi chớ. Con gái nhờ đức cha. ..tui …tui…
Bà Năm nhìn chồng không nói tiếp:
– Tía má tình tứ mới là dữ thần đa. Tía á, má khen tía đó tía biết không? Con có được sung sướng, cuộc đòi con có vui vẻ cũng là nhờ cái đức của tía đó.
Năm Hương cười hệch hoạc, cái cười vô tư của mấy ông nhà quê:
– Ừ, tao biết chớ sao hông mậy. Nhưng bà hổng biết là “con hư tại mẹ cháu hư tại bà” Mầy được nên vóc nên hình như vầy là cũng nhờ bả đó.
Nhân Hậu cười tươi:
– Chèn đét ơi, bữa nay nhà mình vui quá, mấy đứa đâu rồi hổng vô đây coi nè.
Ông Năm nhìn bà Năm. Ông đứng lên:
– Thôi, tui phài ra ruộng coi tháo nước cho miếng đất tui mới gieo mấy liếp bông…hai mẹ con bà ở đó nói chuyện đi…trời cũng tối rồi đó.
Day qua Nhân Hậu, ông tiếp:
– Còn mầy, nghe đâu đi ăn đám nay mai phải hông? Caí thằng Sáu mấy bữa rày trốn biệt đâu mất tiêu tao hông thấy?
Nhân Hậu bước lại gần cha:
– Aûnh lu bu ba cái chuyện đắp đìa giữ nước gì đó. Aûnh đã phát được đâu mấy công trong bưng ra Tết ảnh vô trỏng xạ giống.
– Ừ, tao có nghe thằng Út giữa nó nói. Thôi tui đi nghen bà…lát tui về liền.

Ông Năm bước ra cửa, bà Năm chống tay đứng dậy, đầy bình ủ vô sát trong gót bàn, lấy miếng khăn trên cổ đập mấy cái lên bàn phủi bụi, xong bà bước xuống bếp.
– Nè, Hậu. Mầy coi cho má cái giò để ngày mai tao đi chợ nghen mầy.
– Dạ. Má để đó con…mai con cũng qua chợ nữa mà.

NHìn theo bước mẹ khuất sau cánh cửa, Nhân Hậu ngó lên nóc nhà, đưa tay gải gải đầu và lòng thì nôn nóng như có lửa đốt. Nàng đang nghĩ đến Sáu Bảnh. “Ước gì mà có ảønh bây giờ hén.” Không biết nếu như Sáu Bảnh xuất hiện ngay bây giờ Nhân Hậu sẽ làm gì, nói gì với người yêu. Nàng không biết…trong lòng vẫn đang nghĩ đến Sáu Bảnh. Hình ảnh của Sáu Bảnh chiếm trọn tâm trí của nàng. Nhân Hậu khép nhẹ đôi mi, trong nhà không một tiếng động chỉ còn nghe vẳng vẳng tiếng đập của trái tim trong lồng ngực Nhân Hậu. Nàng kêu lên nho nhỏ
– Anh Sáu ơi…

Trong khi đó Sáu Bảnh đang rướn mình đầy mái dầm cùng Út giữa xuôi trên con lạch nhỏ. Trời về chiều, bắt đầu nhá nhem.

Còn thieunên coi lai
Khi hai chị em Út Giữa, đi với ba Lụa về đến nhà thì trời đã chập choạng ngoài sân. Hàng cây ven bờ mương nhập nhòa cùng bóng tối. Gió nổi lên mạnh hơn, con nước đang lớn, mấy về lục bình mang bông tím dạt ra dập vô xập xình dưới mấy gốc dừa xiêm tàn xòe che lấp hơn phân nửa bề ngang chiếc mương nhỏ. Nhân Hậu nhảy qua con mương, thằng Út phóng qua theo, Lụa đi vòng qua chiếc cầu bắt ngang con mương bằng một miếng xi men cốt sắt đúc như tấm bê tông làm cây cầu. Con mương nhỏ nhưng chỗ hẹp nhứt cũng phải lấy trớn nhảy mới qua. Nhân hậu quen nên vọt một cái là qua, còn Lụa chưa nhảy cái mương nầy nên nàng ngán ngược. Lụa lầu bầu trong miệng
– Cái con coi vậy mà nhảy khá dữ a. Tao thì hổng dám rồi. Lỡ mà nó rớt xuống đó giác nầy có nước chết ngắt.
Nhân hậu đã đi khá xa, sắp bước vô vuông sân nhỏ trước nhà, thằng Út lẻn vô qua ngõ nhà bếp. Trước khi bước vô nhà, Út tạt ngang khạp nước múc một gáo, ngửa cổ tu ừng ực, đưa tay áo quẹt ngang miệng như gà quẹt mõ rồi mới bước vô nhà. Nhân Hậu day lui nhìn chư`ng Lụa rồi mới dậm cẳng trên hè và bưoơc vo â nhà. Bỏ chiếc khác vắt ngang thàn hdi văng, Nhân Hậu thấy tía má đã ngồi sẵn trên bàn rồi. Hai người đang uống nước.
Nhân hậu tằng hắng:
– Tía má kêu tui dzìa có chuyện gì hả?
Ông Năm Hương bỏ một chưn xuống đất, quơ quơ dưới chiếc ghế tìm đôi guốc và xỏ chưn đứng lên.
– Ủa, kêu kiếm mầy từ giác sáng đến trưa mà mầy giờ này mới dzìa? Mà mầy đi đâu biệt mù san dã không ai thấy mầy hết trơn hết trọi vậy con.
Nhân Hậu ghé mông ngồi xuống đi văng. Nàng chậm rải:
– Dạ, hồi sáng con đi con có nói dzí tía mà. Lúc đó tía đang xây chừng hổng biết có nghe con nói hông. Con đi ra rẩy đó mà.
Ông Năm Hương nhíu nhíu cặp chân mày:
– Ủa, vậy sao! Mầy có nói với tao hả. Tao đâu có nghe thấy gì đâu. Mà mầy lên giồng thuốc mần cái giống gì ở trển mà giác nầy ới dzìa hả con? Con gái hơ hớ đi đêm đi hôm phải coi chừng đó.
Năm Hương vừa nói vừa đi lộc cộc ra trước cửa, ngó nhóng ra cửa rồi day vô hỏi:
– Ủa, còn thằng Út lại chạy đâu mất rồi?
Tiếng thàng Út từ nhà bếp:
– Tui đây nè.
Năm Hương bước lại ngồi xuống ghế, ngó bà Năm.
– Bà nói gì với nó thì nói đi.
Bà Năm Hương, co một chưn lên ghế, vắt cái khăn qua vai, bà ề à:
– Thì ông nói cũng được chờ cần gì tui.
Năm Hương tắng hắng:
– Bà nói mới là ngộ đó, con gái bà thì bà nói đi chớ.
Bà Năm cự nự:
– Ua, ông mới là kỳ. Nó là con gaí tui chớ hổng phải con gaí ông ha?
Nhân Hậu nghe ba má nói chuyện, nàng thấy mắc cười. Chuyện gì mà kỳ cục như vầy. Nàng quay ra cửa ngó chừng coi Lụa đã bước vô chưa. Ngoài sân có tiếng Lụa:
– Lẹ quá chừng, nó phóng một cái qua cái mương rồi biến mất tiêu hà. Mầy có trong đó hông Hậu.
Tiếng nói vừa dứt, Lụa đã hiện ngay trước hè. Lụa bước vô:
– Chào chú tím năm.
– Ừa, chào cháu. Tìm con Tư hả?
Lụa đã thấy Nhân hậu ngồi trên mép ghế xa xa, nàng chưa biết chuyện gì, coi mòi cũng không có gì quan trọng, Lụa cười:
– Dạ cháu đi với con Tư lên rẩy, về một lượt với nó mà nó nghe kêu về phóng một cái chạy u về đây mất tiêu. Thôi để cháu đi về…giác chiếu còn đi công chuyện.
Bà Năm lau cổ trầu còn dính trên mép. Bà xỉa cục thuốc qua một bên mép. Bà nói:
– Về sớm vậy.
Nhân Hậu thấy Lụa dợm bước ra cửa, nàng đúng lên đi theo ra. Đến ngoài cửa nàng kê tai nói nhỏ:
– Thôi mầy về đi, tía má tao đang có chuyện muốn nói. In hình như là chuyện quan trọng lắm. Oång bả chưa nói.
– Ừa, thôi tao về. Nhớ kêu tao mộttiếng khi nào mầy đi nha. Tao về đi tập hát với Năm trực đây.
Nhân Hậu gục gật cái đầu:
– Ừa về đi, lát nữa tao chạy qua.
Trong nhà vợ chồng Năm Hương vẫn chưa nói tiếng nào. Nhân hậu quày quả trở vô ngồi xuống chỗ cũ.
– Ba má kêu con về muốn nói chuyện gì đó mà sao ba má chưa nói.
Ông Năm lên tiếng:
– Ừ, hổng gì, hồi trưa nầy má thằng Sáu có lại đây.
Nhân Hậu im lặng nhóng chừng. Năm Hương nói tiếp, ông cà kê:
– Má nó qua đây nói chuyện cười xin mầy đó. Con nghĩ sao cho ba má biết ý.
Bà Năm xen vô:
– Chuyện của hai đứa tụi nó cũng đã lâu rồi.
Họ cũng đã qua nhà mấy lần mấy lượt rồi chớ phải lần đầu đâu nà.
Năm Hương day qua vợ:
– Ừ thì qua lại mấy chặp rồi. Mà bà cũng kỳ
cục ghê. Bà biều tui nói mà tui mới mở miệng bà đã nhảy vô họng tui rồi. Thôi bà nói cho nó nghe đi.
Bà Năm nói một hơi:
– Thì ông nói tui cũng nói phụ cho ông chớ tui
nhảy vô bản họng ông hồi nào? Nè con, mầy cũng đã lớn bộn rồi đó nghe con, nếu mà mầy có phải lòng cái thằng Sáu thì nói cho tía má biết nha con dừng để lỡ dỡ coi hổng được à mầy.
Nhân Hậu nghe mấy lời nầy đã nhiều lần, nàng không mấy lưu tâm. Cha mẹ nào mà hổng thương con cái, nhứt là con gái đến tuổi cập kê. Nhân Hậu im lặng nghe cha mẹ nói tiếp. Bà Năm nói như vậy xong rồi bà im luôn không nói nữa. Nhân Hậu nghĩ đến Sáu Bảnh, nàng ngước nhìn ba má nhột nhạt. Mẹ nói “con gái lớn bộn rồi coi chừng.” Coi chừng là coi chừng cái gì, nàng với Sáu Bảnh đã có một lần rồi. Nghĩ tới đó NhânHậu nghe má nàng nóng rang như vô bếp lửa. Cái buổi chiều khó quên hôm đó, nàng đã trao thân con gái cho Sáu Bảnh, ba má nàng chưa hề hay biết. Đám bạn gái trong làng “đứa nào cũng qua một lần” Con Lụa nói như vậy.
– Mầy hổng biết sao. Chuyện đó đâu có gì
đâu cà. Chuyện trời đất xếp đăït mà. Lúc đó ai mà giữ cho được, cũng sướng thấy mồ chớ bộ.
Nhân Hậu nóng bừng cả mặt khi lần đầu Sáu Bảnh bất ngờ nắm lấy tay nàng. Tuy không phải là con gái ở thành ở chợ, Nhân Hậu cũng biết thế nào là “cái trong trắng” của đời con gái. Nàng không cầm lòng được khi bàn tay nhám nhám của Sáu Bảnh đụng đến tay nàng. Cái cảm giác nhột nhột rợn người chuyền đi khắp cơ thể đang tăng dần độ nóng. Và chuyện gì đã xảy ra. Từ đó Nhân Hậu bỏ bụng quyết một lòng chỉ lấy Sáu Bảnh làm chồng mà thôi. Nhà Sáu Bảnh không khá, có mấy công ruộng làm thuê, cuộc đời Sáu Bảnh đơn thuần như cây lúa ngoài đồng và tấm lòng của Nhân Hậu rực rở như bông Ô Môi ngày Tết. Cả hai cùng dặn lòng quyết giữ cho nhau.
Sáu Bảnh đã có lần thủ thỉ với nàng:
– Em Tư à, anh hổng giàu có, cũng chưa có
ruộng vườn để làm riêng. Một cái phảng phát bờ ba manh áo cũ…em có chịu làm vợ anh hông.
Ý trời đất quỷ thần thiên địa ơi. Nghe lời nói huỵïch toẹt của Sáu Bảnh nó không tình tứ thơ mộng một tí nào, nhưng sao Nhân Hậu lại nhớ. Sáu Bảnh nhìn sâu vô mắt Nhân Hậu thì thầm:
– Nói thiệt em thương. Anh hổng có biết nói
lời văn bóng bẩy. Cái bụng của anh nghĩ sao nói vậy em thương thì anh nhờ mà em ghét thì anh cũng chịu. Chớ thiệt lòng là anh thương em. Em có nhớ hông, đã bao mùa gặt qua, bao nhiêu cái tết…anh muốn nói mà còn sợ đó mà.
Nhân Hậu ngó mặt ngườithanh niên, Nơi đó nó toát lên vẽ chơn chất dễ thương. Cái mái tóc chờm bơm, cái trán hơi vồ chắc là lỳ lắm đây. Cái tai dài chắc sống thọ, còn cái miệng thì cười tươi thiệt là tươi. Nàng nói với Sáu Bảnh:
– Anh nói là anh thương tui à. Mèn đét ơi, thương cái gì mà nói ra cộc lốc vậy nè trời.
Giọng của Sáu Bảnh càng ngu ngơ thấy tội:
– Ủa vậy chớ nói sao?
Nhớ những lần đi với Năm Trực xuống chợ Thủ, thanh niên ở chợ nói năng trôi chảy, tệ như Năm Trực mà còn biết bóng bẩy lượn lờ khi tỏ tình với con gái. Sáu Bảnh biết mà anh làm không được. Gần Nhân Hậu lần nào y như lần nấy, trái tim trong lồng ngực nó đánh thùm thụp như thể trống chầu hát bội, đã ít lời mà khi đứng gần có bao nhiêu câu học mót nó bay đi đâu mất ráo.
Nhân Hậu càng nghĩ càng thương. Cái thân thì to đùng như con trâu cui, tay chưn vạm vỡ như cái bắp cày mà đầu óc thì non nớt quê mùa thấy tội. Nhân Hậu nói với Sáu Bảnh:
– Aùo mặc sao qua khỏi đầu anh sáu. Nếu anh
thiệt thương tui thì anh hãy nói với mẹ cha qua trầu cau cưới hỏi đàng hoàng.
Sáu Bảnh cười ngây ngô:
– Chớ sao nữa. Anh được em như con lân được pháo, như con cá gặp mưa. Thiệt cái lòng anh chỉ muốn lấy em về làm vợ ngay tức thì.
Nhân Hậu nghe thấy mắc cười nhưng cố nín. Nàng từ tốn:
– Anh di học đâu ba cái câu ví von nghe lạ ghê.
Sáu Bảnh cười:
– Học đâu mà học. Thì em hay hát đố hát ví chớ ai. Anh học em đó.
Càng nói, Sáu Bảnh càng tự nhiên hơn. Sau buổi chiều mây mưa đó, Nhân hậu đã cố dạy cho Sáu Bảnh biết thêm chữ nghĩa. Càng nghĩ càng thương cho sáu Bảnh và đám trai làng. Tình thương của Nhân Hậu nó không xuất phát từ tình yêu nam nữ, nó bắt nguồn từ những hiểu biết của nàng. Sự hiểu biết qua sách vở và qua những bài kinh của ông Thầy trụ trì ngôi chùa cổ bên kia sông.

Tiếng Năm Hương kéo nàng về thực tại.
– Tư, mầy có nghe má mầy nói gì hông con. Con muốn gì cho tía má biết để còn định liệu.
Nhân Hậu ngẩng mặt ngó lên, nhìn ông Năm:
– Dạ ba má tính sao thì tính. Con đâu biết nói làm sao.
Năm Hương uống một hớp nước:
– Nghe nói nè. Cái ngày xưa đó con, tao với
má mầy đây có biết nhau trước đâu hả con. Ngày đám cưới bả còn lấp ló trong buồng gói mà bây giờ cái nghĩa nó ra rít kể gì. Mầy với một đàn em ra đời là chứng tỏ tao dzí bả nồng thắm. Bây giờ tao biết nó khác rồi con à. Nên ba dzí má mới hỏi ý kiến của con. ..
Để tao nói hết. Nhà thằng Sáu tuy rằng nó nghèo nhưng tao coi bộ được. Được ở đây là cái tình cái đạo đức trong nhà. Nhà nó cũng đông anh em, nó cũng siêng năng giỏi dắn. Nếu mà thiệt lòng mầy muốn xây dựng với nó thì tía má cũng đâu có hẹp hòi. Tui nói như vậy nghe có phải hông bà?
Bà Năm vuốt theo:
– Phải phải! Ông nói đúng lắm, phải lắm. Tía má cũng hông hẹp hòi gì.
Nhân Hậu ngồi im…đã một lần vào năm ngoái, nhà Sáu Bảnh đã có đến xin hỏi cưới nhưng Năm Hương hổng chịu, lý do đơn sơ là “Tía của nó làm biếng nhớt thây, cái cục nhớt to bằng trái dừa xiêm thì còn mần ăn nổi gì.

Nhân Hậu ngồi im, những chuyện cũ hiẹn ra trong trí nhớ. Ông Năm Hương, cha nàng, chê “Thằng Sáu coi cũng được, nhung tao ngại con nhà tông hổng giống cũng giống cánh”nó làm biếng nhớt thây làm sao mà mần ăn để nuôi mầy.” Giọng nói Năm Hương đều đều, những suy nghĩ của cha không làm cho Nhân Hậu để ý, lưa tầm…Nàngcũng không hiểu sao nàng thương Sáu Bảnh, có lẽ bởi cái tánh hiền hòa, giọng nói dễ nghe, hay bởi tại vì Sáu Bảnh to con, cái mặt đẹp trai, thông minh lộ ra ánh mắt. Đã có lần nàng nghĩ về Sáu Bảnh như vầy “Caiùi mặt đó mà ở thành, ở chợ, được đi học thì phải biết. Không được đi học mà có những ý kiến dẫn nước vô mương vườn còn hay hơn mấy ông dẫn thủy nhập điền về từ chợ quận giúp dân lập vườn tháo nước ra mương vào những ngày nước nổi. Ở xóm nầy, vào mùa nước nổi, nước tràn vô trong mương vườn, con cái nó theo nước lớn ra sông, ra ruộng, ngưòi dân đăp bờ bao bằng đất và dùng thân cây dừa làm đòn kê giữ đất; ngặt một nổi con nước trà về lớn quá, bao nhiêu đất đắp, bao nhiêu cây dừa cũng không giữ được vì nước ứ bên trong không thoát ra ngoài bị xói mòn bờ bao làm lổ mọt lâyngày phá bể. Sáu Bảnh làm công cho chủ điền, anh bày cái kế dùng thân cây dừa lão khoét bộng ruột làm ống thông thủy, nước có có chỗ lưu thông nên không pháo vỡ bờ bao, làm co mực nước bên ngoài đồng và trong những mươngvườn thấp ở ngang nhau nó không phá. Cái kề của Sáu Bảnh chẳng mớ mẻ gì, nhưng mới ở chỗ là anh không đi học, chưa bao giờ biết nguyên tăc “Bình thông hau” qua kinh ngiệm anh đã nghĩ ra . Nhân hậu cũng không hiểuđược tiếng lòng của nàng. Nàng cảm được nhưng không nói ra được.
Năm Hương nói gì thì nói, Nhân Hậu một mực lặng thinh. Co ù một lần nàng cải lại với tía nàng. Một hôm ông Năm đi đâu về gặp Nhânhậu ngoài đầu ng, ông la lối om sòm “Cái thằng Sáu nó hổn, nói ăn nói không biết kẻ trên người dưới, nó …nó…mà mầy hổng được qua lạivới nó nữa…nghen mậy.”
Nhân hậu không biết chuyện gì, sau mới biết là trong bữa giổ, Sáu Bảnh “cá độ” uống rượu với ông Năm Hương. Và bữa dó Năm Hương thua xiển niển, giận cá chém thớt, giận lây luôn đến nàng.
Có nhiềuchuyện trong làng trong xóm nó xảy ra hàng ngày, và gâyra bao cảnh trớ trêu. Nhưng tấm lòng người nông dân cởi mở không để bụng. Dễ giận cũng dễ quên.
Bao nhiêu chuyện xưa hiệnvề trong trí nhớ, Nhân Hậu ngó cha:
– Năm ngoáiTía nói ảnh “nhà tông hổng giống lông cũng giống cánh mà” bây giờ con đâu có dám mà nói cái gì.
Năm Hương cười hề hề, day qua vợ:
– Bà coi nó đó. Mèn đét ơi, con bà nó thù dai mới là dữ thần đa nghen. Chuyện đâu hồi năm nẵm mà nó còn ghim tui đó bà.
Nhân Hậu cười với cah:
– Con nhà tông hổng giống lông cũng giốngcánh. Con nhiễm cáitánh thù dai của tía đó mà.
Ong Năm cười to hơn:
– Bà coi nó kia cà. Nó trả treo dzí tui đâu có thau chút nào đâu à.
Bà Năm vui vẻ nhìn chồng:
– Lâu lắm tui mới thấy hai cha con ông vui vẽ “trả treo” với nhau đó. Thì ông có giỏi ông ăn thua đủ với nó đi, tui vô can trong vụ này.
Ông Năm nhìn ra ngoaiøi trời, một đám mâytrắng kéo ngang nhà đi về phía đồng nước trong xa. Tiếng gió đập mấytàu dừa nước “ộch ạch”. Tiếng kêu của đám lá dừa ngập trong nước. Con nước đang lên. Năm Hương nhìn con với ánh mắt từ ái. Nhânhậu là đứa con gái ngoan, biết lễnghĩa, siêng năng và có hiếu. Ông không muốn concáiông kham khổ, nhứt là con gái nó [phảicó được tấm chồng xứng đáng để ăn đời ở kiếp. Như ông, có đến hơn chụcmặt con vớibà Năm mà tình ông đối với bà vẫn mặn nồng. Ông mong muốnnhững đứa con củaôngcũng đượcnhưvậy.Ông nghe câu “Con gaiùi nhờ đức cha” cho nên ông tutâm dưỡngtánh cầuphước cho mấy đứa con gái. Ông biết thân phận của đàn bà trong cái xã hội nông thôn chưa khai hóa.
Cuộc đời giòng họ của ông đã dính liuền với cánhđồng nước nổi nhiềuphèn nầy tưbao đời. Ông Namêm đã muốn thoát ra chợ, có mộtthờigian ông đã sống tạichợ Tân An trong 9 năm kháng chiến, nay hòa bình, đất nước được tiếp thu qua tay người quốc gia ông trở về. Lịch sử đất Long An ông nắm trong tay.

Cho đến cuối thế kỷ thứ XVI qua đến đầu XVII cái đất nầy vẫn còn là vùng đất hoang vu chưakhai phá. Ngày đó tổ tiên ông từ đáng ngoài theo đàngNam tiến lập nghiệp đi vô. Qua lịch sử đất Nam Bộ trong Gia Định ThànhThông Chí còn ghi “Ở cái phủ Gia Định-Đồng Nai, tÚu cửa biền Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm…” Như vậythì đất Long An (Tân An) vào cái thời đó là đấthoang rồi người Việt mới đến định cư nơi đây và khai phá. Bao nhiêu mồ hôicủa của đám người tay xáchnách mang, một manh chiếu rách, mộtcái rựa, cái ophàng phát quang trên tay đến đây. Cửa Soái Rạp ở biên địa con sông Vàm Cỏ nơi đón bao nhiêu người từ Gia Định hoặc đàng ngoài tràn về. Các cuộc đất cao ráo, những caiùi giồng nổu như những cục u trên thảm cỏ báng, lát, minh mông kia như CầnGiuộc, CầnĐước, TânTrụ, Vàm Cỏ Đông,Vàm Cỏ tây, Cái Yến…đã đón nhữngbước chưn đầu tiên của những lưu dân ít học đến đây. Những người nông dân, chưn đất đầu trần họ không có chữ nghĩa, không biết bonchen chỉ mangtrong lòng mộttrái tim biếtyêu thương. Ông Namêm suy nghĩ, tỉ như ông đây “Suy bụng ta ra bụng người” nếu ông không yêu thương vọ con thì ông đâu có lăn thân khẩn hoang, phục hóa cái cuộc đất cha ông để lại đầy phèn ngày nay đàn con hơn một chục. Tình thương gia đình, yêumái ấm, niềm hạnh phú đơn giản, cuộc sống điền viên là động lực cho nhữngngười đikhẩn đất hoang ở Nam Bộ phải không?

Trên vùng đất mà ngaỳy nay là Long An đã có những binh lính của chúa Nguyễn đánh Xiêm la, có quân binh của vua Quang Trung Đại Đế, có côngcủa LêVăn Duyệt, Nguyễn Hùynh Đức…vàcủa biết bao người dân chân lấm taybùn Vũng Gù là một vùng đất đi vào giòng lịch sử . Vũng Gù là một đoạn sông nốitừVàm Cỏ Tây chảyqua thị trấn Tân An, tức là sông Bảo Định. Năm Hương đã sống ở Tân An, và Long An là quê hương của ông. Ông hay kể cho đám con ông nghe về lịchsử của cuộc đát nầy.

Trong nửa đầu của thế kỷ thứ XVIII người đến Long An một nhiềuthêm, đã mở rộng ngược theo giòng Vàm Cỏ về khai phá đất phèn, ruộngnuớc, cánh đồng nước nổi Đồng Tháp Mười. Đã có thời ông Nguyễn CưTrinh có tên trong những ngườikhai hoang mở dất cho Đồng Tháp. Trong quyển Phú BiênTạp Lục, ông Lê Quý Đôn có ghi như vầy “Thập niên 70củathế kỷ XVIII huey65n Tân Bình (Gồm Long An và một số tổng chung quang) có hơn 150 thôn, làng, số dân là 15,000 dân đinh, . Nếu tính bình quân cứ 5 người có một dân đinh thì số dân ở Long An là 75,000 người và có số ruộng được khẩn hoang thành đất thuộc là 1,454 mẫu.”
Người Long An cần cù và có tinh thần chịu đựng khó khăn , nếu không chịu được khó khăn không thể sống được ở ĐồngThám Mười quanh năm nước nổi. Người lưu dân với tấm nóp cây phảng đã biến vùng đất phèn từ Rạch Cát đến Soài rạp, Cần Giuộc, cần Đước trởnên trù phú. Conngười và đất nước Long An không chỉ là cần cù nhẫn nại mà còn là sự ứng biến để sốngđược trong một vùng đất khắt nghiệt, vàngay nay đã xâydựng được một vùng đất trù phú có tiếng. Nước của Vàm Cỏ, Cần Giuộc Cần Đước không phải lànước ngọt, ở dây là nước lợ hoặc làmột chất nước hơi lạt nhưng khi nấu sôi trở mặn không uống được, cho nên ngườita dùng ghe chởnước ngọt đi đến những vùng này để đổi lấy lúa gạo. Nghề đổi nước-không phải bán nước.
Năm Hương là mộttrong những gia đình lưu dân đến dây, nhìn lại cơ ngơi với căn nhà vách ván, Năm Hương thỏamãn với công sức bỏ ra. Nói chung dân đinh, tá điền trên cánh đồng Nam Bộ phần lớn la øngười nghèo, là đám dân phiêu bạt, phương tiện không có để đối phó với những ngày đầu tại cuộc đáất nầy. Long An còn có những địa danh Rạch Cát, Chợ Đệm, Bến Lức, Thủ Thừa, Rạch Chanh…từ đây có con đường sông dẫn về Sài Gòn, chốn phồn huê đô hội, trên đường nước nầy có những chỗ giáp nước trở nên trù phú, là nơi trao đổi sản vật của địa phương, là bén ghe của dân tứ chiến giang hồ…và bao nhiêu chuyện tình đã nẫy nở trên vùngđất mới khai hoang.
Trong khoảng thờigian hơn 2thế kỷ, những lớp người đàng ngoài đã Nam tiến, thế hệ nầytiếp nối thế hệ khác, bỏ sức cần cù, phátrẩy đàomương, xẻ kinh đáp bờ làm nên cuộc sống. Kếtquả đó đã nhìn thấy rõ ràngtrước mắt mọingười, làm sao Năm Hương không thấy? Trong cái cảnh gạo chợ nước ghe…người Long An đã càng ngaỳy càng bồi đáp cho giòng Vàm Cỏ, con kinh Bảo Định, cánhđồng năng lát Tháp Mười càng ngày càng đông vui, tìnhthường yêu quêcha đát tổ, gắn bó vói mương, vườn, đồng ruộng, yêu tiếng sáo buổi trưa, tiếng con bìmbịp nảonềkêunước l;ớn. Những con thuyền giang hồ qua lại và lại rồi qua đi…những tấm lòng, những cảnh ngộ đólàm sao quên được trong trí Năm Hương. Nghèomớithấy cái nghĩa, lúc cùng cực mới biết tình: Chuộng nghĩa, thủychung , sẵn sàngchi sớ ngọt bùi cay đắng lànhững đức tánh có trong huyếtquảnnhững kẻ ăn nói bạt mạng, chưn đất đầu trần….như Năm Hương, Sáu Bảnh. Năm Hương đã hiều thàng Sáu được đôi phần “Thằng Sáu nó cũng giông giống tao…”

Càng nghĩ Năm Hương càng thương yêu đám con củaông hơn. Tụinó phảisướng hơn đờimình bâygiờ. Ông bất chợt thở dài…khi nhìn đám con gái của ông đang ngày một lớn sởn sơ vô tư. Đầu xuôi thì đuôilọt. Con Tư dựng vợ gả chồng hạnh phúc thì đám em nó tiếp bước theo sau.
Năm Hương nhìn ra ngoài trời chiều vàsuy nghĩ miên man, bà Năm ngồikếmộtbên mà ông như không hề biết. Nhân Hậu ngó cha:
– Tía ngó cái gì ở ngoảimà ngó hoài…má ngủ gục kia cà.
Năm Hương giựt mình nhìn bà Năm:
– Bà đi xuống cho tui hớpnước nóngcoi bà. Nãygiờnước trànó nguộingắt mà tuicũng quên mất.
Bà Năm lặng lẽ đứng lên đi vô trong, Năm Hương co chưn lên ghế, vấn điếuthuốc, bập mấy hơithả khói mu ømịt…ông nhìn con qua màn khoiù:
– Hậu!
– Dạ!
– Mầybiếttía mầysuy nghĩ gì hông mậy?
Nhân hậu ngó sửng chanàng. Ngạc nhiên nàng hỏi:
– Ủa, chớ tía nghĩ cái gì vậy?
Năm Hương cườiha hả:
– Taođốmà mầyhỏi thì cũng nhu không. Đố mầytíasuynghĩcái chuyện gì nè.
Nhân Hậu mở lớn đôimát nhìn cha:
– Chèn ơi, bữa nay tía bàyđạt đố nữa. Tíasuy nghĩ cái gì trong đầu làm sao con biết được. Bộ tía tưởng tui là tề thiên hay bồ tát hả tía?
Năm Hương bập bập mấyhơi thuốc, ông kho khan mấytiếng:
– Mẹ…thuốc giồng năm nay hay làm mình ho quá, hổng biếttụinó phơi phong làm sao mà bập hoài hóp má mà hổng có khói.
Nhân hậu mắc cười, nhìncha:
– Thì tía dzụt nó đi…Tía đang nghĩ cáigì đó. Tui thấy cái mặttía lúc buồnlúc vui, lúc tuithấytía như cườimà có khi như là giận ai vậy. Đố mà tíanghĩchuyện gì….nhưng mà tíaơi….giậngì cũng được đừng giận con tộinghiệp nghen tía.
– Sao mầy lóng rày lẻo mép quá vậy Hậu. Lẽo lự trả treo mới là quá trố.
Hai cha con Năm Hương đang qua lại, bà Năm bước lên, tay bà bưng một bình ủ nước trà.

Sáu Bảnh chỏi mái dầm vô gốc cây bần già ở cuối vàm cho chiếc xuồng day mũi vô hướng rừng tràm. Anh ngoái cổ nói với thằng Út giữa đang ngồi đằng sau lái:
– Ê! Út à, mầy thấy chỗ nầy được chưa? Tao nghĩ mình tìm được chỗ này là phước mấy mươi đời vương rồi. Nó vừa tiện con nước ra vô, cái nữa là nó cũng hổng xa gì mấy. Miệt dưới kia gần với làng nhưng hết rồi, còn nhích qua bển tao hơi sợ sợ.

Út vặn cần cổ nghe kêu rốp rốp. Nó ngước mắt ngó quanh, một khu rừng tràm còn lúp xúp nước, bên phía kia khu rừng có cánh đồng chạy ngút ngàn mút tầm con mắt vô tận phía mặt trời mọc, cỏ xanh um một màu.
– Ừ được đó anh Sáu, nữa mai anh với chị Tư dzìa đây ở thì hết chỗ chê há. Mà sao hổng ai vô đây hết trơn vậy anh Sáu.
Sáu Bảnh cười:
– Mầy hỏi tao thì tao biết hỏi ai.
Cả hai ngó mặt nhau nở nụ cười vô nghĩa. Sáu Bảnh cột xuồng vô gốc cây bần, và anh nhảy lên bờ; thằng Út nhảy lên theo. Cả hai đi quanh một vòng dọc theo mé vàm nước đang lên.
– Nữa sau tao sẽ cất nhà ở đây nè Út.
– Ừ, tui cũng mừng cho anh.

Cuộc sống có những điều dễ dải và cũng có những khúc mắc khó lường. Mọi chuyện xảy ra dưới mắt con người gần như là chuyện ngẫu nhiên. Hay ít nhứt là do “cái số’ trong suy nghĩ của những nông dân. Đối với đại chúng mọi con người sanh ra đều có cái số, câu nói đầu môi “Nếu phải số chạy đâu cho khỏi số” truyền từ đới nọ đến đời kia không bao giờ mất.
Còn gì dễ dải cho bằng mọi chuyện xảy ra cho con người không biết được nguyên nhân cứ đổ riệt cho “số mạng” là yên tâm, ít nhứt cũng làm yên lòng những con người trong cuộc. Có như vậy đời sống mới dễ thở và bình an. Nếu cứ phải suy nghĩ xa xôi thì cuộc đời nầy toàn những chuyện lo và buồn.
Sáu Bảnh có thể đại diện cho giới bình dân dễ tánh đó. Với Sáu Bảnh, mọi chuyện có Trời Phật lo rồi. Anh sống bình an trong cảnh đời của anh, không lo nghĩ xa xôi. Đói ăn khát uống. Đến chuyện tình yêu và xây dựng gia đình, Sáu Bảnh đổ cho số mạng. Thương cô tư Nhân Hậu từ lần gặp đầu tiên, không dám nói. Ngày đêm tơ tưởng, trong đám gặt anh chỉ biết đứng nhìn xa xa, có những lúc quá nhớ anh chỉ biết nằm lăn ra chiếc chỏng tre kêu trời. Bạn bè đều biết, Nhân Hậu biết chỉ một mình Sáu Bảnh không biết mọi người đã rõ tâm sự của anh. Người trong cuộc chưa tỏ người ngoài ngõ đã tường, đám bạn chung quanh khuyên anh tỏ tình với Nhân Hậu, đôi lần ấp úng Sáu Bảnh chưa dám nói.
– Mầy hổng nói bây giờ nữa mai nó đi theo người khác thì mầy đứng có kêu trời kêu đất nghen mầy. Đến khi Nhân Hậu đáp ứng mối thâm tình, Sáu Bảnh tạ ơn Trời tạ ơn Phật, anh cúng một con gà với nỗi lòng sung sướng hạnh phúc vô biên.

Sáu Bảnh đứng ngó quanh khu rừng bên mé lạch tưởng tượng đến một ngày anh có căn nhà nhỏ, miếng vườn con, chỗ nầy anh làm mương dẫn nước, chỗ kia làm cái đìa, bắt giàn lưới đón cá trong đồng, nào hàng dừa, hàng so đủa, cái ao nuôi cá, cái chuồng nuôi gà còn chỗ đó cái vũng cho bầy vịt. Sáu Bảnh nhớ tới Nhân Hậu…
– Mình sẽ có một căn nhà, có miếng vườn nghen Tư.
Nhân Hậu cười bẻn lẻn:
– Anh chưa nói chuyện với tía má mà đã lo nghĩ đến chuyện cái nhà miếng vườn.
– Cái gì cũng có số hết Tư ơi. Anh thương Tư
có Trời có Phật biết rồi cũng phải đến cái chuyện đó thôi.
– Ừ, thì em đâu có cãi là không có Trời có
Phật, nhưng mà anh hổng qua bên nhà thì làm sao chuyện mình nó thành.

Câu chuyện kéo dài, hai người qua lại những câu nói, trao đồi những ước mơ, vẽ ra ra cảnh đời tuyệt đẹp.

Bữa đầu Sáu Bảnh đi bên Nhân Hậu, họ chưa dám nắm tay nhau. Nhân Hậu đợi chờ một câu nói, Sáu Bảnh như cục đất câm nín sóng bước bên nàng trên con đường từ ruộng về nhà. Con mương nhỏ có bầy vịt kiếm ăn kêu líu chíu.
– Người ta nói chuyện vợ chồng là chuyện to
lớn cho con người. Cái đó là duyên là nợ. Duyên nợ ba sinh…Tư biết hông?
Nhân Hậu mắc cười khi nghe cách ăn nói nửa chợ nửa quê của người yêu. Nàng thương Sáu Bảnh quá. Nín cười Nhân Hậu trả lời:
– Ừa, thì cái duyên nợ ba sinh mà anh Sáu nói đó nó cũng phải được bắt đầu do tụi mình nữa đó anh. Hổng lẻ mình đợi ông tơ bà nguyệt làm giùm luôn cho hai đứa chuyện cưới hỏi.
Sáu Bảnh lắc đầu:
– Đâu có, ý của tui đâu có nói như vậy. Cái chuyện hai đứa đã biết nhau thương nhau như vầy là do cái duyên cái nợ…thì tui chỉ biết vậy thôi. Chớ như tui…thì làm sao mà dám mơ có ngày được em Tư thương tưởng mà ngó ngàng đến. Tui nói là nói như vậy.
– Ừ, như vậy là Tư hổng hiểu ý của anh Sáu. Còn chuyện cưới của hai đứa anh Sáu tính làm sao.
Sáu Bảnh nói ngon lành một mách như thể đã có ý từ lâu bây giờ mới có dịp thố lộ:
– Chuyện đó hả…Tư muốn làm sao tui làm vậy. Cái quan trọng là ở cái bụng tui đây nè Tư. Tư có biết từ cái ngày tui gặp em Tư trên đồng tui về đêm nhớ ngày trông, cứ đứng xa xa mà ngó em Tư hát hò mà mơ ước thôi hà. Nhưng ông Trời ổng biết cái bụng của tui…nên mới cho em Tư thương tui.

Nhân hậu ráng nín cười. Sau mà nói như tuồng hát trên sân khấu. Thương là thương cái tánh thật thà, cái tâm không vướng bận, cái đầu đơn giản của Sáu Bảnh. Đôi khi Nhân Hậu cũng không hiểu được tại sao…nàng đem lòng thương Sáu Bảnh, và…nàng tự hỏi lòng “Hay là do cái số? Cái nợ cái duyên tiền định. Có chuyện bà Nguyệt ông Tơ?” Dù với cách nói nào đi nữa thì Nhân Hậu an tâm khi đi bên Sáu Bảnh, khi noí chuyện với anh, dù Sáu Bảnh nói đâm hơi trật nhịp, nửa chợ nửa quê. Thương là thương cái bụng tốt, cái tâm lành của anh.
– Ừ, bây giờ em tính với anh như vầy nha. Anh
về thưa với mẹ cha chọn ngày lành tháng tốt đem trầu cau qua hỏi cưới…để minh sớm gần nhau.
Sáu Bảnh gật đầu nhặm lẹ:
– Chuyện đó thì dễ quá mà. Tưởng đâu chuyện gì khó khăn. Ngày mai mẹ sẽ qua bên nhà em.
Nhân Hậu nắm tay Sáu Bảnh kéo đứng lại.
– Đâu mà lẹ quá như vậy được chớ. Trước nhứt là anh phải có người nói trước cho tía má của em…phải có người làm mai làm mối chớ có đâu mà đùng đùng xách trầu rượu qua nhà cái rụp như thể đi chợ vậy anh Sáu.
Sáu Bảnh ngớ người ra ngó Nhân Hậu, trớt hướt:
– Vậy sao? Vậy để nhờ Dì Tư làm chuyện đó.
Nhân Hậu cười:
– Thôi đi, anh hổng biết sao? Trong cái làng nầy có bao nhiêu là cặp cưới nhau mà..anh…

Sáu Bảnh cười theo, nụ cười của anh ngây ngô như một đúa trẻ. Nhân Hậu đi bên cạnh, nàng cảm được cái hồn hậu đơn sơ của người yêu. Sáu Bảnh tỉnh bơ không suy nghĩ gì. Bỗng anh lên tiếng:
– Tư nè, Dì Tư bả khó tánh lắm, tui sợ bả làm bà mai hổng ổn…lỡ mình có huông sau này khó ở. Tư nghĩ có phải vậy hông?

Dì Tư, bà dì của Sáu Bảnh tánh tình khó khăn, hay cằn nhằn nhưng Nhân Hậu biết dì Tư cái bụng hiền lành, cái miệng lách chách mà cái tâm chứa đầy yêu thương. Bà Tư cằn nhằn chỉ vì bà góa chồng sớm, nuôi một đàn con nheo nhóc, không có sắc để đi thêm bước nữa, thế rồi cuộc sống đẩy đưa, bà đã lở lầm bị lừa gạt tình cảm cho nên bà sanh ra khó tánh chớ thật ra bà rất hiền. Nàng biết đó là “Khẩu xà tâm Phật” không biết đải bôi lầy lòng. Mấy lúc sau vì buồn bà tư hay uống rượu đã khó lại càng khó hơn.
Nhân Hậu trấn an Sáu Bảnh:
– Được mà, dì Tư coi cái miệng bô lô ba la như vậy chớ cái bụng hiền lành. Hổng sao đâu mà sợ. Mà nè anh Sáu.
– Cái gì?
– Anh là đàn ông con trai mà tin ba cái chuyện đó sao?
Sáu Bảnh, một lần nữa, ngơ ngẩn ngó Nhân Hậu:
– Tin thì làm sao, mà con trai đàn ông là làm sao?
– Em nghĩ chỉ có mấy bà, mấy cô mới tin ba cái chuyện …chuyện như anh mới nói đó chớ.
Sáu Bảnh trợn mắt:
– Tư nói giỡn chơi hoài. Cái gì mà ông bà
mình đã đặït ra, tin theo thì mình phải tin chớ Tư. Có kiêng có lành Tư à.
Nhân Hậu phát cười to:
– Chèn ơi, bữa nay mới biết đó nha. Anh Sáu
cũng hủ lậu dữ à.
Sáu Bảnh hỏi lại:
– Hủ lậu?
– Chớ còn gì nữa. Anh nói cái chuyện Dì Tư
khó tánh, hay cằn nhằn…tức là anh kiêng cử chớ gì đó.
– Thì đâu có mất mát gì đâu cà. Chớ bộ Tư
hổng tin sao.
– Tin chớ. Nhưng mà cũng có cái thôi.

Hai người im lặng đi bên nhau cho đến khi về đến đầu vườn. Những ngày sau đó mối tình của Nhân Hậu càng ngày càng khắn khít. Nhân Hậu dạy cho Sáu Bảnh đọc chữ, đọc sách; họ ý hợp tâm đầu. Kết quả là bà dì Tư của Sáu Bảnh đến nhà…bây giờ Sáu Bảnh đang tìm đất xây dựng tổ ấm.

Sáu Bảnh đi quanh nhìn cuộc đất anh có ý chọn cho căn nhà tương lai, anh kêu lớn:
– Út à, tao nghĩ bấy nhiêu đủ rồi. Bây giờ đi dzìa đi mầy.
– Ừ về thì về.
Kề từ ngày lên Sài Gòn đến nay đã được mấy ngày. Sáu Nguyệt Nga chưa có dịp để tin về dưới quê. Có nhiều buổi chiều nằm ăn nhờ ở đậu ở nhà người ta, Sáu Nguyệt Nga nhớ nhà đến phát khóc. Nhà bà Tư gà tuy chật chội nóng bức, nhưng bù lại đám con bà Tư dễ thương và gần gủi , Nguyệt Nga được an ủi phần nào.

Chiều nay, theo lệ Sáu Nguyệt Nga sau khi đi bán chung với bà Tư, nàng có bổn phận phải chuẩn bị cho chuyến chợ ngaỳ hôm sau. Đang dọn dẹp mấy chiếc lòng sắt, lồng gỗ cho ngăn nắp. Vừa làm vừa nhớ nhà. Nguyệt Nga bỏ chiếc giỏ xuống chưn, ngước mắt ngó mông ra con hẻm đông đúc, ồn ào như họp chợ vào mỗi buồi chiều.

Con hẻm nhỏ vào buổi chiều trở thành những quán nhậu lộ thiên. Người ta đổ dồn ra đường hóng mát, người bắt ghế ra trước hàng ba ngồi nói chuyện, bàn ghế kéo ra gần chiếm trọn bề ngang con hẻm. Hàng quán bán đủ thứ, những chiếc xe mì, xe xâm bổ lượng, bò bía và nhiều nhứt là các quán cóc vừa bán rượu vừa bán cà phê. Đàn ông, thanh niên, những người dân lao động từ các con hẻm kế bên kéo nhau ra ngồi quanh và ăn nhậu. Cái quán thực ra chỉ là chiếc bàn bằng gỗ thấp, trên đó bày đủ thứ nào chai hủ đựng rượu và tùy theo món hàng có thể đó là nồi cháo lòng, chiếc lò than nướng khô, hoặc các món gỏi làm sẵn chứa trong các lồng kính, và không thể thiếu các loại khô trêo tòn teng lủng lẳng trên các chiếc dây căng ngang giữa hai cây cọc sắt. Khách hàng là con nít, người lớn, đàn bà, con gái…đủ mọi giới. Người ăn dĩa khô bò, người miếng khô đuối, khô sặc, người tô cháo lòng. Tiếng cười nói, tiếng la hét của đám con nít chạy nhảy chung quanh, tiếng la hét của những người ngồi nhậu bên chiếc bàn thấp …hoạt cảnh náo loạn nhưng vui mắt Sáu Nguyệt mới thấy được mấy ngày hôm nay từ ngày đăït chưn đến Sài Gòn.
Linda im lặng thật lâu không nói gì khi nghe câu chuyện kể của Nguyệt Nga. Nàng liên tưởng đến đời sống cam go và cực khổ của chính nàng ở những ngày thơ ấu. Nàng chia xẻ những tâm sự đó với Nguyệt Nga, bây giờ và những ngày còn ở Mỹ Tho. Đối với Linda (con Lép ngày xưa) Nguyệt Nga là một cô gái may mắn, có nhan sắc và có chút ít chữ nghĩa. Không bao giờ Linda nghĩ đến một ngày như ngày hôm nay, Nguyệt Nga trôi dạt đến tận đất Sài Gòn và hai chị em gặp lại nơi đây. Nhìn lại mình, tuy ăn bận đơn giản, nhưng cách phục sức của nàng vẫn bỏ xa Nguyệt Nga một trời một vực. Nguyệt Nga lạc lõng giữa phố chợ sài Gòn. Linda ái ngại nhìn người bạn mà nàng coi như chị.

Phần Nguyệt Nga, ngồi im nhìn món ăn bày ra trên bàn, chung quanh nàng, người ta ăn nhậu la hét, khạc nhổ, tiếng chữi thề làm rộn cả khu vực nhà lồng chợ. Ánh đèn đường hắt hiu vàng vọt rọi xuống khu chợ, đây đó vương vãi những đống rác, đống rau kéo theo những con chó đói đang bới rác kiếm ăn.

Khu phố là một bức tranh sinh động cho cảnh sống về đem của ngưòi dân lao động trong những con hẻm nhỏ.

Linda kéo Nguyệt Nga trở về thực tại:
– Chị Nga nè, chị hổng làm gì cho người ta, hay là chị về ở với em đi.
Nguyệt Nga ngó bạn:
– Về ở với em?-Nguyệt Nga đã quen với cách sống chung quanh một phần nào, nàng tự nhiên hơn và xưng hô chị em như những ngày hai người còn gặp nhau ở chợ Mỹ.
Linda gật đầu:
– Ừa, về với em rồi chị em mình đi làm chung.
Nguyệt Nga nhin kỷ hơn:
– Làm với em? Mà làm gì mới được. Chị không biết làm gì…mà em làm gì vậy?
Linda không nói thêm. Nàng nói qua chuyện khác:
– Chỉ biết chị có bằng lòng về ơ chung với em không thôi. Còn chuyện khác để em tính cho chị. Bây giờ ăn tô cháo lòng đi cho ấm bụng. Nó nguội hết trơn rồi cà.
Nguyệt Nga nhìn xuống tô cháo, múc từng muỗng nhỏ đút vô vô miệng. Linda nói tiếp:
– Đất nầy mới tời coi bộ ngỡ ngàng lắm. Người ta sống xô bồ hổn độn dữ, nhưng mà kiếm miếng ăn dễ lắm chị Sáu à. Như em nè, đâu có chữ nghĩa gì đâu nè…vậy mà bây giờ em cũng có chút đỉnh để dành.
Nguyệt Nga ngó Linda vàng đeo đỏ tay. Một chiếc lắc vàng óng ánh trên cổ tay, ngón tay bên phải có chiếc ca-rà hột xoàn lấp la lấp lánh. Trên cổ một ssọi chuyền vàng, đôi bông tai đong đưa cũng bằng vàng luôn. Nguyệt Nga lẩm bẩm:
– Hổng biết mần ăn cái nghề gì mà vàng đeo đỏ tay. Hột xoàn càrá như bà hoàng, bà chúa.
Linda đu kinh nghiệm để biết Nguyệt Nga đang ngó nàng, ngó những đồ trang sức trên người nàng. Chậc! Linda qua biết tâm lý mấy người con gái. Ai ai cũng muốn có chút nữa trang làm của. Đám bạn bè của Linda đứa nào đứa nấy dư chút tiền là mua vàng để dành. Cái tập quán đó khó bỏ. Nguyệt Nga nhìn, nàng biết trong lòng cô bạn gái nghĩ những gì.
– Chị đừng lo. Chi coi em nè. Linda chìa ngón tay ra-Nè, cái hột nầy hơn 5 li đó. Của ông Chương tặng em khi ổng mới gặp em.
Nguyệt Nga trợn mắt:
– Úi cha! Ai mà tốt bụng quá sá vậy?
Linda cười đưa hàm răng trắng đều như hạt bắp:
– Tốt khỉ gì mà tốt. Chị hổng biết đó thôi. Ở đây, trời sanh cho tụi mình có cái vốn, cái vũ khí thiệt la 2lợi hại…muốn bao nhiêu hột cũng có, nều biết xài cái thứ trời ban cho mình.
Nguyệt Nga gần như há hốc miệng, hỏi:
– Cái gì? Em nói cái gì mà vốn trời ban?
Linda không còn giữ ý nữa. Nàng cười ngặt nghẹo:
– Chị khéo làm bộ hoài. Cái năm chị ở Mỹ Tho hồng phải chị sống như bà hoàng đó sao? Hồi đó em nhìn chị mà phát thèøm. Thì chỉ có nhiêu đó thôi chớ có gì đâu.
Nguyệt Nga vẫn còn ngờ nghệt:
– Cái hồi đó. Hồi ở chợ Mỹ..chị có cái gì đâu cà?
Linda ngồi sát hơn:
– Chèn ơi. Em ngu thấy bà mà em còn biết huống gì chị Sáu của em. Em nói cái nầy nè.
Linda vừa cười vừa lấy ngón tay trỏ chỉ thẳng vô đôi mắt của Nguyệt Nga, ngón tay đó kéo xuống mũi, dừng lại ở đôi môi.
– Caí này nè. Cái sắc đẹp của chị đó chớ cái gì. Chớ hổng phải hồi đó ở dưới quê mấy thằng cha già dịch, chủ điền mê chị vì cái này hay sao?
Nguyệt Nga sửng người một chút, và bật cười thành tiếng:
– Chèn ơi, bây giò chị mới biết. Nhưng mà làm gì? Hồi đó người ta theo tán tỉnh chị, thấy chị đẹp họ muốn cưới làm vợ bé…nhưng mà chị đâu có chịu. Quà cáp họ cho cũng đâu có đủ vô đâu. Chị phải đi buốn bán đó chớ.
Linda nghiêm né`t mặt:
– Ừ, thì chị đâu có lấy người ta. Mà chị cũng đâu có đòi người ta cho tiền phải hông? Người ta tự nguyện đó chớ. Đó…bây giờ mình dùng cái sắc đẹp của mình để chài mấy thằng già dê ở đây. Thời nào, chỗ nào cũng vậy hết trơn. Ở đâu lại hồng có cái thứ già mà ham đó chị.
Nguyệt Nga la lên:
– Ý, trời đất quỷ thần, ông địa ơi.
– Có gì mà kêu trời.
– Vậy ông Chương là cái ông em nói cho cái hột nầy cũng là…là.
Linda không trả lời , nàng cúi xuống húp cháo sồn sột. Hớp một miếng nước ngọt. Nàng nói:
– Cái ông nầy nói cho ngày cũng tốt. Oång hổng phải là cái thứ gaì dịch mà em nói đâu. Oång cũng tốt lắm. Oång thương em thiệt…nhưng mà ngặt nổi ổng có vợ rồi. Chời ơi…làm bé, làm lẻ chi cho nó cực…mà người ta hổng thương mình. Bây giờ em cứ ở vậy, mà có nhiều người chạy theo đó…Chị hiểu ra chưa?

Nguyệt Nga coi bộ chưa hiều Linda nói gì. Nàng vẫn ngồi im một đống đưa mắt ngò chằm bằm vô cái môi đỏ chót cong cớn đang thao thao bất tuyệt trước mặt nàng.
– Sao vậy? Sao chị coi mòi ngẩn ngơ vậy?
– Hổng sao hết.
– Thôi bây giờ như vầy nha. Aên xong tô cháo, em với chị đón xích lô máy chạy xuống chợ Bến Thành rảo một vòng cho biết. Rồi sau đó mình ra bến Bạch Đằng ngồi hóng gió coi người ta du dương…chuyện gì rồi ngày mai hãy tính. Em đã hổng gặp chị thì thôi. Đã gặp rồi, em hổng để cho chị khổ đâu. Em đã đi ở đợ rồi, làm bé, làm mọn cho người ta rồi. Đủ mùi cam khổ rồi. Chị đã có em lo.

Không đợi Nguyệt Nga đồng ý, Linda đứng dậy tính tiền hai tô cháo và hai chai nước ngọt. Sau khi nhận tiền thối vô trong bóp xách tay, Linda kéo Nguyệt Nga đứng sột dậy.
– Đi đi…bây giờ mình đi chơi. Chuyện gì em cũng lo cho chị được hết trơn. Đừng lo nha. Tới đây rồi thì cứ vui với em một vài bữa đi.
Nguyệt Nga để mặc cho Linda kéo đi ra đường lộ đứng chờ xích lô máy.

Trong khi chờ đợi xích lô, Linda mở xắùc tay đang đeo trên vai xuống. Nàng mở ra lấy một ít tiền, và nàng đứng sát vô Nguyệt Nga đang đứng ngó quanh nhìn đường phố sáng rực ánh đèn. Linda kêu nho nhỏ:
– Chị Nguyệt Nga nè.
Nguyệt Nga ngó lại:
– Gì đó em?
Linda ấp úng:
– Có cái này nói với chị, nhưng chị hứa chị hông giận nghen hông?
Nguyệt Nga ngạc nhhiên:
– Chuyện gì mà em rào đón kỷ quá vậy L…inda.
Linda đứng gần vô và thân mật ôm vai Nguyệt Nga, kề tai nói nhỏ:
– Em biết chị đang kẹt…em có chút ít tiền muốn đưa cho chị xài đở…chị đừng ngại …
Nguyệt Nga khua tay lia lịa:
– Không….không…chị không cần đâu Lép…à…Linda.
Linda tha thiết khẩn khoản:
– Em biết chị sẽ không cầm đâu..em mới nói là chị đừng giận em đó mà.
Nguyệt Nga chận lại:
– Chị đâu có giận em đâu.
– Hông giận thiệt hả?
– Thiệt.
– Vậy sao chị hổng cầm. Em nói thiệt đó, em biết chị đang cần tiền…cũng như ngày em mới lên Sài Gòn…chèn ơi, nó khổ sở cách gì đâu, em đi ở đợ cho người ta, em bị người ta dụ dỗ làm vợ bé…nhưng mà rồi trời thương. Cho nên em mói có ngày hôm nay. Em biết chị tự ái…nhưng em nghĩ đã là chị em thì của em cũng như của chị…chị đừng ngại chị Nguyệt Nga.

Nguyệt Nga muốn rớt nước mắt, nàng tủi cho thân phận vừa cảm động vì những cử chỉ và lời nói chí thiết của con Lép ngày nào. Nhiều ý nghĩ chạy xôn xao trong đầu Nguyệt Nga, nàng phân vân, đắn đo.
Linda nói tiếp:
– Chị hổng biết đó thôi, thân phận người con gái ở chốn phồn huê nầy nó không dễ dàng như mình nghĩ mình tưởng đâu chị Nguyệt Nga ơi. Nó làm sao em không nói được, nhưng em biết nó khó khăn lắm. Chị cứ nghĩ coi…mình nhìn chung quanh đúng thiệt là tứ cô vô thân. Bà con không có, anh em cũng không gần…đâu đâu cũng là những người xa lạ., Mà cái đất Sài Gòn này nó kỳ lắm, vui thì thiệt là vui, dễ kiếm tiền nhưng chị ơi…hổng khéo thì mình cũng tan nát đời hoa thôi chị.
Nguyệt Nga quay người lại, nhìn sâu vô đôi mắt long lanh phản chiếu dưới ánh đèn của Linda, nàng ôm chặt bờ vai thon nhỏ của Linda:
– Chị biết Linda ơi. Chị đã sống xa gia đình từ khi chị chưa đến tuổi 20 mà em. Chị không biết nhiều nhưng dù sao chị cũng đã kinh qua đủ mùi tân khổ. Ông bà mình có dạy “Thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người thẳng ngay.” Chị hiểu tình đời lắm.
Linda dúi nắm tiền vô tay Nguyệt Nga:
– Chị đã nói như vậy thời chị đã hiểu lòng của em rồi. Chị cầm đở số tiền nhỏ nầy về xoay xở, còn chuyện gì thời ngày mai mình nói tiếp. Bây giờ chị đi chơi với em.
Nguyệt Nga xúc động giơ tay ra nắm tay Linda và nhận món tiền tình nghĩa của người con gái tđứng trước mặt nàng.

Một chiếc xe xích lô máy nổ phành phành, phun khói mù mịt chạy từ xa tới, Linda đưa tay ngoắt. Chiếc xe tấp vô lề đường, mặc dù đã từng đi xe xích lô máy nhiều lần, nhưng cứ mỗi lần chiếc xe tấp vô lề xà đến đậu trước mặt thì Linda đều hết hồn hết vía, nó cứ lù lù chạy thục mạng đến trước mặt và thắng két trước mặt không trật. Linda phục tài mấy bác tài xế chạy xe xích lô máy. Những chiếc xe độc đáo của Sài Gòn, mất nó có lẽ Sài Gòn không là Sài Gòn nữa, theo ý nghĩ của nàng. Cần Thơ cũng là một nơi chốn đầy dấu ấn kỷ niệm đối Linda, nhưng chiếc xe lôi đạp là một trong nhiều hình ảnh thân thương đặc biệt của Cần Thơ khiến cho khách đến thăm ra về vẫn còn mang theo những hình ảnh khó quên.

Linda đang lang man, bác tài xế đã ồm ồm lên tiếng:
– Hai cô đi đâu đây?
Linda kéo tay Nguyệt Nga bước lên xe ;
– Bác tài cho tụi cháu xuống cửa Bắc chợ Bến Thành.
Ông tài xế gật đầu và chiếc xe phun khói rời lề đường để nhập vào giòng xe cộ đang nhộn nhịp trên đường phố .

Thành phố Sài Gòn có nhiều điều lạ mắt đối với những người từ xa đến. Nguyệt Nga tới đây chưa bao lâu mà bao nhiêu thay đổi trong cuộc đời nàng. Ngày đầu tiên đi lạc ở bến xe Chợ Lớn mới, rồi đến sống ở Phú Lâm, chợ Bà Hom chưa lần nào đi Sài Gòn ban đêm một mình. Chiếc xe nhập vào giòng xe cộ nhôn nhịp đan qua đan lại như mắc cưởi làm chóa măt Nguyệt Nga. Chiếc xe đã vô con đường lớn chạy ngang ngôi chợ sầm uất dọc theo bờ sông nó rẻ qua con đường đầy những hàng quán tiệm ăn và khách sạn mang những bảng đèn màu xanh đỏ chớp nháy.
Nguyệt Nga thấy lạ mắt, và nàng có thời giờ nhìn ngó. Nàng hỏi Linda:
– Sao ngộ quá em ơi, ở đây toàn là chữ Tàu không vậy?
Linda cười:
– Ừ, đây là chỗ làm ăn của người Tàu mà. Có dịp sau này em sẽ dẫn chị đi cho biết.
– Sao họ treo bảng chữ Tàu không vậy là sao buôn bán với người mình.
– Người Tàu sống quanh đây nhiều hơn người Việt, nhưng chị để ý thấy có chữ Việt nữa đó chớ. Mấy ông Ba Tàu ở đây giàu lắm. Theo em biết thì họ là người Tàu Việt đó chị.
– Là sao?
– Em nghĩ rằng chủ nhân các hàng quán tiệm ăn ở đây là người Tàu sống ở Việt Nam mình mấy đời rồi. Họ sống riêng ở đây.

Nguyệt Nga không hỏi nữa. Xe chạy càng lúc càng đi sâu vô thành phố, đường phố mở rộng ra trước mắt Nguyệt Nga, phố xá của người Việt càng lúc càng nhiều, tuy ở Bà Hom không xa Sài Gòn bao nhiêu nhưng quang cảnh đã khác một trời một vực. Ở Phú lâm nhà cửa tồi tàn hơn, chợ búa gần gủi với cảnh quê hơn. Còn ở đây, nhà cửa khang trang, những tòa cao ốc chọc thẳng lên trời, đèn đường sáng rực, người đi lại đông đúc. Nguyệt Nga còn đang mơ màng thích thú, tiếng Linda kéo nàng trở về:
– Em dẫn chị đến chợ Bến thành, bây giờ còn mở cửa. Em muốn chị mua một vài bộ áo quần cho nó hợp với đời sống ở đây.
Nguyệt Nga ngó sửng Linda:
– Chi vậy? Quần áo chị còn đủ mặc mà.
Linda cười nói nhỏ:
– Nói chị đừng cười em nha. Quần áo của chị để đó mình mặc ở nhà. Còn chỗ làm em sắp dẫn chi đi làm thời nó khác lắm. Chị cần một chút chưng dọn.
– Là sao?
– Thôi chị đừng hỏi gì hết, cứ để mọi chuyện cho em lo cho chị. Miễn là chị nghe lời em, em không làm chị buồn đâu.

Nguyệ Nga không hỏi nữa, nàng im lặng ngó ra hai bên đường. Đến một ngả ba, thành phố chợt bừng lên vì tiếng ồn ào, và đèn điện sáng choang đến lóa mắt. Chiếc xích lô máy phải luồn lách tránh né mới vượt qua được những ngã tư đường. Có nhà ga xe lửa nằm bên trái, trước chỗ nhà ga có một bảng quảng cáo làm ngạc nhiên nàng đến độ ngàng ngó sửng sờ không chớp mắt. Hình ảnh một con voi to tướng đáng đứng nhún nhảy trên một chiếc bàn chải đánh răng. Hình ảnh di động tuyệt vời. Bắt đầu có một con voi đứng trên bàn chải đánh răng, chiếc bàn cải cong dần, trì xuống, nó cong vòng đến sát mặt đất nhưng không gãy. Hình ảng giống những đứa trẻ ở xóm nhỏ của đứng trên cây bần trước khi lộn nhào xuống nước. Cây bần cong vòng xuống sát mặt nước và bung lên đẩy đứa trẻ bắn lên cao và lộn vòng xuống sông…hình ảnh đó trông giống hình ảnh nàng đang nhìn thấy ở trước nhà ga xe lửa Sài Gòn. Nàng đập vai Linda cười nói:
– Ngộ quá, họ làm cái đó để làm gì vậy em?
Linda nhìn qua rồi trả lời:
– Ờ, nó quảng cáo cái bàn chải đánh răng Perlon không gãy đó mà.
– Thiệt ngộ. Mà làm sao nó làm được hay quá, nó làm chớp bóng hả em.
– Đèn đó chị ơi. Chị ngó qua bên kia nữa kìa. Đó, chị có thấy bản tin nói chạy chữ trên tấm bảng điện trên nóc nhà thương đầu kia không? Lát nữa xuống chợ chị mặc sức mà coi, chiều chiều người ta ra đây hóng gió, ngồi đọc tin tức…trước của chợ Bến Thành còn vui nữa chị ơi. Từ từ chị sẽ biết.
Nguyệt Nga không hỏi nữa. Cảnh vật trước mắt thu hút sự chú ý của nàng. Chiếc xe chạy vòng quanh chiếc bồn trồng cây to, Nguyệt Nga để ý thấy tất cả xe cộ đều đi vòng một cái bùng binh trước khi đổ ra năm sáu ngã đường chung quanh. Nàng không biết những con đường đó đưa về đâu. Xe xích lô nhập vô bùng binh chạy vòng. Trước mặt nàng là ngôi chợ lớn, có chiếc đồng hổ trên nóc. Chiếc đồng chắc là to lắm, to hơn cái nia sàng gạo. Nàng nghĩ như vậy vì những con số và hai cây kim chạy vòng trên mặt số trông thấy rõ ràng. Người đứng trên bùng binh, kẻ đi qua người đứng hóng mát. Mấy chiếc xe đây bán đủ các thức ăn, nào là bò bía, mía ghim, nước mát, nước đá nhận, xương xa hột lựu. Đây đó những người giữ trật tự bận đồ trắng, đội mũ trắng chỉ đường cho xe chạy. Bến xe buýt trước cổng nhà ga nhộn nhịp khách bộ hành. Một hoạt cảnh sinh động nàng chưa nhìn thấy bao gìờ, nó nhộn nhịn hơn bến ghe ở Ngã Bảy Phụng Hiệp trong mùa trái cây, mùa gặt lúa.

Chiếc xe đổ xịch trước cổng chợ, có tiếng tu huýt thổ rét rét đuổi người đi bộ đuổi xe đậu choán chỗ trước cổng chợ. Linda không để ý nàng quay ra nói với người lái xe:
– Bác cho con xuống cửa Bắc chớ bác. Bên đường Lê Thánh Tôn, Gia Long chớ bác. Đây là cổng trước mà.
Người tài xế ngừng xe bẻ quặt vô trước cổng.
– Thôi hai cô xuống giùm chỗ đây đi, chạy vòng ra cổng Bắc đường một chiều cảnh sát nó phạt ói máu. Chịu khó một chút đi mà.
Linda vùng vằng chưa chịu bước xuống, Nguyệt Nga đã kéo nàng:
– Thôi xuống đây được rồi. Bên kia có xa hông?
– Hông xa gì mấy nhưng …mà thôi cũng được.

Nhảy phóc xuống xe móc tiền ra trả, Linda vừa nói với Nguyệt Nga:
– Chị cất tiền em đưa hồi nãy cho kỷ trong túi đi nghen, đừng cầm ở tay tụi nó giựt đó.
Nguyệt Nga le lưỡi:
– Ủa! vậy sao?
– Chớ còn gì nữa. Đây chớ đâu phải ở nhà quê đâu. Hở ra là nó giựt mất à.
Nguyệt Nga không nói gì, nhưng tiền Linda đưa cho nàng đã gói trong chiếc khăn tay nhỏ vẫn cầm ở trên tay. Một thằng nhỏ mang trên cổ một chiếc bảng bự treo tòng ten đủ thứ nào gương, lược, đồng hồ và bóp đầm chạy tới trước mặt rao mời:
– Mua đi cô hai, lược đồi mồi Hà Tiên, bóp đầm của Pháp. Mại dô! Mại dô!…mua giùm em đi cô hai.

Nhìn thằng nhỏ chìa tấm bảng đến trước mặt, Nguyệt Nga thích thú thò tay cầm chiếc lược đồi mồi. Chưa kịp coi thì Linda chụp tay nàng nói giật giọng.
– Í, đừng có rờ vô.

Nghe tiếng kêu giựt ngược của Linda, nàng thụt tay lại, day qua hỏi:
– Ủa, chuyện gì?
Linda không trả lời, vội vả kéo nàng đi chỗ khác. Đứa bé bán hàng rong ngơ ngác nhìn theo.
Linda nói nhỏ:
-Ở đây hổng phải chị muốn rờ vô cái gì là rờ đâu nha. Thằng nhỏ đó hiền lành thiệt thà còn đỡ. Ở đây mình hông biết ai là người tốt ai là người xấu đừng có đụng vô người ta.
Nguyệt Nga ngơ ngác:
– Sao kỳ cục vậy? Mình coi thử nếu được thì mình mua chớ có sao đâu.
Linda cười:
– Sao chị thiệt thà quá hà. Hồi em mới lên đây em cũng vậy đó. Người ta ở đây là chốn phồn huê, người đông đâu có ai biết ai chớ; đâu như ở làng mình, nhà nầy biết nhà kia ráo trọi đâu à. Nói chị nghe, chị rờ vô món đồ của người ta mà chị hổng mua thì nó chửi cho tắt bếp. Nó nắm áo bắt đền thì chị làm sao?
Nguyệt Nga nhăn mặt:
– Gì mà dữ vậy? Chuyện buôn bán mà, phải thì mình mua hổng phải thì thôi chớ.
– Chị hổng biết người ta nói cho mà biết, chị còn hổng tin. Nói chị nghe, hổng có như chị nghĩ đâu à.
Nguyệt Nga còn cố ráng:
– Mèn ơi, đâu ai mà biết đâu cà. Như ở dưới mình, con gà nó vọc từ sáng cho đến chiều xơ xác mà hổng bán được thì cũng đem dzìa chớ làm sao. Còn cá mắm nó trở qua lật lại, chê to chê nhỏ cũng đâu có sao đâu.
Linda cười lớn hơn, vừa kéo Nguyệt nga băng qua đường vừa nói:
– Đó là chuyện nhà quê chị ơi. Đâu phải ở đâu cũng vậy hết đâu.
Nguyệt Nga càm ràm;
– Kỳ thiệt đó chớ.
– Ừ, lát nữa vô trong nhà lồng, chị đừng có đụng chạm gì hết nghen…nhứt là sáng sớm đi mua đồ đừng có mở hàng mà hổng mua thì chị chết đó. Nói chị nghe, có nhiều bà trưa trờ trưa trật rồi mà còn mở hàng.. thấy cái bộ vó của chị lơ ngơ như vầy mấy bả nắm áo bắt mua cho mà chết. Hổng mua hả? Mấy bả nắm áo, mấy bả đốt phong long chị hổng biết đâu mà rờ. Trời ơi, đất sài Gòn mà chị giỡn chơi hoài. Nói chị biết, nhà cửa thì nhiều vậy đó, nhà nầy sát vách người kia nhưng chắc gì họ biết mặt nhau đâu à. Có nhiều nhà mình mới tới trước cửa nó đuổi như đuổi tà, nó sợ mình ăn cắp hay sao chớ. Mà thôi, từ từ chị ở đây rồi biết, đèn nhà ai nấy sáng nghen chị.
Nguyệt Nga vừa đi vừa ngó dớn dát, Linda dắt tay Nguyệt Nga qua đường chui vô nhà lồng chợ.
– Bây giờ cũng tối rồi, trong nhà lồng giờ nầy chắc không còn mua bán gì đâu, mình đi ra phía sau mua ít trái cây về ăn rồi chuyện gì mai tính.
Hai người con gái đi xuyên qua nhà lồng chợ Bến Thành. Tất cả đều mới lạ đối với Nguyệt Nga. Trong nhà lồng chia thành từng khu vực nhỏ, có cửa hàng khóa kín, đèn sáng tù mù. Các cửa hàng tạp hóa, đồ khô nhiều vô số. Linda dẫn Nguyệt Nga đi giữa các sập đồ khô, mùi hành, tỏi đồ khô còn bốc mùi đâu đó. Nguyệt Nga nhìn từng cửa hàng bằng ánh mắt vừa thích thú vừa ngạc nhiên. Đâu đó có vài người phu dọn dẹp và có những người hành khất nắm co ro trong các tấm cói, đệm bàng. Lòng NguyệtNga bỗng chùng xuống và nàng không biết tại sao đang vui vẻ với cảnh lạ, nhưng khi nhìn thấy mấy gia đình co ro trong nhà lồng chợ, lòng nàng chợt buồn thiu. Lặng lẻ đi bên cạnh Linda băng qua nhà lồng. Đang đi, Linda như linh cảm có chuyện gì không bình thường, quay lại nàng nhìn thấy Nguyệt Nga thẩn thờ đi bên cạnh, nàng nghĩ rằng nàng đã nói lời nào không phải làm cho bạn buồn.
Linda giựt cánh tay Nguyệt Nga:
– Chị làm sao vậy? Em có nói gì làm chị buồn hả?
Nguyệt Nga lắc đầu:
– Đâu có đâu.
– Hổng có gì sao mặt chị buồn thiu buồn chảy như vậy?
– Hổng có đâu em. Chị cũng hổng biết tại sao.
Linda im lặng một lát, như không thể nào giữ được, nàng buộc miệng nói:
– Nếu em có nói gì làm chị buồn thì cho em xin lỗi nghen. Em nói với chị là thiệt tình đó mà. Em hổng có chê chị nhà quê đâu. Sài Gòn…
Nguyệt Nga lắc đầu:
– Đã nói hổng phải đâu. Tự nhiên, dưng không chị phát buồn ngang.
Linda nhìn sâu vô mắt bạn:
– Đâu chị nói em nghe coi? Nhớ nhà hả? Hay là lo lắng chuyện gì?
Nguyệt Nga im lặng.
– Hồi chiều chị đi chị có nói với bà gì đó hông?
– Có chớ. Bà Năm biết mà, nhưng mà hổng biết chị đi đâu. Sợ bả có trông hông biết.
Linda bước ra khỏi nhà lồng, mùi trái cây thơm tho tràn vô mũi, Nguyệt Nga hít một hơi mạnh.
– Ý, mùi gì thơm quá xá?
– Bôm nho táo chớ gì. Ra đây chị mặc sức mà ăn nha. Cứ đi dài theo đây ăn thử vài trái nho cho biết.
Một cảnh tưng bừng rộn rịp mở ra trước mắt, từng dãy háng bán trái cây chất cao có ngọn, dưới ánh đèn chiếu sáng choang, trái cây như bóng lộn lấp lánh. Những trái táo đỏ màu huyết dụ, những trái cam vàng, nho đỏ bày ra trước mắt. Từng núi trái cây làm choáng ngợp ánh nhìn của Nguyệt Nga. Nàng trầm trồ xuýt xoa:
– Mèn ơi, trái cây đâu mà nhiều quá trời…trái nào trái nấy bóng lưỡng như thể có thoa dầu phải hông. Cam sành, cam Cái Bè, úi cha…trái nào trái nấy tổ chảng…ngon lành thiệt…Vú sữaVĩnh Kim nữa.
Nguyệt Nga như một đứ a trẻ được đi chợ phiên lần đầu, nàng nhìn không chớp mắt. Linda đứng im bên cạnh để mặc nàng muốn nhìn ngắm cho thỏa sức.
– Chưa đâu, mới có chút đây hà. Chị ra đường mới thấy, trái cây khắp nơi đổ về đây mà. Ở Sài Gòn nó có cái sướng như vậy đó. Cứ hể có tiền là muốn gì có nấy đó mà. Ở đất nầy mà hổng có tiền thì kể như ăn mày. Người ta ai ở đây cũng lo làm tiền hết trơn à. Cứ sáng bảnh mắt ra là rần rần rộ rộ cho đến khuya mới dứt. Vậy mới là sài Gòn chớ chị Sáu.
Nguyệt Nga không trả lời, nàng bước thêm vài bước ra đến mặt lộ. Nhìn trái, ngó phải, suốt một mặt chợ là những cửa hàng bán trái cây. Đủ tất cả không thiếu thứ nào, từ trái chôm chôm đỏ au, đến trái Sầu riêng chôm chổm gai, những trái vú sửa nằm bên cạnh các túi nho đựng trong những tờ giấy mõng.
Nàng bất chợt nhớ đến cha. Phải chi có ổng ở đây lượm mớ giấy gói trái cây bỏ đống chỗ kia cho ổng làm giấy quấn thuốc. Cho đến giờ nầy mà cha nàng vẫn hút thuốc giồng quấn bằng giấy nhưtï trình dày cui.
Nàng nói những câu ngơ ngẩn:
– Được mớ giấy chỗ kia đem về cho tía chị hút thuốc thì quý biết là bao nhiêu.
– Chị nói cái gì. Linda day lại hỏi.
Nguyệt Nga chỉ đống giấy mõng bỏ trong một chiếc thùng carton để dưới đất:
– Mình lại lượm xấp giấy quyến đó được hông?
– Chi vậy?
Nguyệt Nga cười bẻn lẻn:
– Chi Tía chị hút thuốc.
Linda cười lớn:
– Chời ơi! Chị muốn thì mai em mua cho Bác một xấp chớ cần gì phải đi lượm.
– Họ bỏ hả, thiệt là uổng.
– Bỏ chớ làm gì hổng bỏ. Họ còn bỏ nhiều thứ tốt hơn nhiều. Giữ thì biết chỗ nào mà cất. Mỗi ngày hàng xe tải đổ hàng xuống chợ và chở đến đây, giấy nè, thùng carton, bao ny long…ui thiếu giống gì…mà đâu có ai cần mấy thứ đó đâu.
Nguyệt Nga lầu bầu:
– Đúng là người ăn hông hết người tìm hông ra.
– Chị hỏi cái gì?
– Hông có gì. Bây giờ em định đi đâu?
– Em tính ra đây mua cho chị vài bộ đồ hoặc xấp vải về may đồ, nhưng mấy sạp vải đóng rồi. Thôi mai mua, bây giờ em với chị ra đây mua trái cây ăn chơi cho biết, rồi đi về nhà em chơi.
Nguyệt Nga đi theo như cái bóng, vừa đi vừa nhìn thích thú. Nỗi buồn bất chợt vừa qua đã biến mất.
Linda dừng chưn trước một sạp bán nho, ngắm nghía và hỏi Nguyệt Nga:
– Chị ăn nho xanh hay nho đỏ?
Nguyệt Nga ké né bước đến đứng một bên, rụt rè hỏi:
– Nho xanh với nho đỏ làm sao?
Linda vừa thò tay lượm một trái rời để trong một cái rổ nhỏ, đưa lên miệng cắn cái bụp và nhai rau ráu:
– Nho đỏ ngọt, nho xanh hơi chua chua…con gaí thích chua thì ăn nho xanh.
Bà bán trái cây xen vô:
– Hai cô mua mở hàng đi tui bán rẻ cho. Nho nào cũng ngọt hết trơn hổng có nho nào chua đâu. Tui bảo đảm, bao ăn luôn.
– Nhiêu ký vậy gì Hai?
– Tùy, nho Nhật, Đài Loan hay nho Mỹ. Nho nào cũng nhập cảng về hết trơn. ..đợt nho nầy mới về ngọt lắm hai cô ơi. Aên thử đi, tui bao mà, hổng ngọt trả lại.
Nguyệt Nga rụt rè hỏi:
– Aên thử được hả?
– Ừ ăn đi, ăn thử cho biết.
– Bán ra sao, bán ký hả hay bán mão, bán chục.
Linda cười:
– Ký chớ ai mà bán chục. Cam còn bán ký hà huống gì nho. Còn mão thì làm sao mà lời.
Nguyệt Nga lặng lẻ bốc một trái nho xanh bỏ vô miệng. Nước miếng ứa ra tận kẻ răng. Cắn bụp, và nhai nhỏ nhẻ.
– Aùi da!
Nguyệt Nga nhăn mặt. Người bán cười:
– Trời, nho của tui ngọt như vầy mà cô nhăn mặt ái dà, làm tui hết hồn. Nó phải vậy mới được cô hai ơi. Ngọt ngọt nhưng có cái vị hơi chua thôi. Đó là nho xanh.
Bà tán thêm:
– Mấy cô hổng biết đó thôi, mấy cô gái thích nho xanh lắm đó. Nó vừa to nè, vừa ngọt nhưng mà không ngọt gắt, phải chua chua một chút mới thích. Phải hông cô?
Linda cười. Bà bán trái cây nói tiếp:
– Tại vì mới ăn thì nó vậy. Nó lạ miệng cho nên nó chảy nước miếng chớ nho tui nổi tiếng khu chợ nầy đó. Nè thử trái nho đỏ nầy coi. Chắc cô nầy không thích đồ chua.
Nguyệt Nga đưa tay nhận trái nho đỏ au, láng mướt từ tay người bán trái cây.
– Mua đi hai cô, tui bán rẻ cho. Tui bảo đảm, tui bao giá luôn.
Người đi mua sắm qua lại nhộn nhịp. Các hàng bán trái cây đông nghẹt người là người. Một người đàn ông ghé vô sạp. Ông ta chỉ chùm nho treo tòn teng trên chiếc dây căng ngang và nói:
– Bà cân chùm đó cho tui. Tui biếu cô nầy.
Ông chỉ tay vô Linda. Nàng ngước nhìn lên:
– Í trời đất ơi! Anh Chương. Anh đi đâu đây.
Đúng là ông Chương:
– Thì tôi đi thăm cô chớ đi đâu.
– Thôi đừng có xạo. Anh đi đây lạc vô đây.
Ông Chương cười xởi lởi:
– Nói xạo mà để cho người ta biết mình nói xạo tức là nói thật đó.
– Anh thì lúc nào cũng liếng. Đi với vợ phải không?
Chương nhìn Nguyệt Nga đang đứng bên cạnh ngước mắt nhìn ông:
– Đâu có. Mà ai đây?
Mắt ông ngó Nguyệt Nga. Không có ánh mắt của ông thì Linda cũng biết ông Chương hỏi về Nguyệt Nga. Nàng liếc xéo, ánh mắt sắc như dao:
– Hỏi chi. Chị em mới từ dưới quê lên thăm em.
– Chà, em có chị đẹp như tiên nga mà dấu hả?
Linda ngó Nguyệt Nga cười:
– Đẹp lắm hả? Giống em hông?
Chương cười thật tươi, trả lời Linda nhưng mắt ngó Nguyệt Nga:
– Mai cốt cách, tuyết tinh thần. Cả hai đều đẹp mười phân vẹn mười.
Linda cười ngặt nghẻo:
– Chà! Dữ thần a nghen. Mới gặp mà đã thả mồi bắt bóng rồi ha. Có mới nới cũ chắc?
Nguyệt Nga im lặng chưa biết hai người đang nói chuyện gì. Nhưng nàng có linh cảm đây là người đàn ông mà Linda nhắc đến lúc ban chiều. Tại sao trời đất hẹp thế nầy. Mới nhắc là đã gặp. Coi bộ hai người thân thiết quá. Nguyệt Nga im lặng theo dõi, mắt nàng nhìn chăm chú vào mấy thùng trái cây, nhưng lỗ tai không sót một câu nào của hai người.
– Em đi đâu đây. Chưa chi mà em đã kê anh rồi. Chị em thì chị của em chớ. Nhưng gặp người đẹp mà không tán thưởng là có tội đó.
– Đẹp không?
Họ không nói gì, tuy không nhìn lên nhưng Nguyệt Nga có cảm giác người đàn ông diêm dúa, lịch lãm đang nhìn nàng chăm chú. Bỗng dưng nàng thấy mất tự nhiên, và có cảm giác khó chịu.
Linda cũng im lặng theo dõi một cacùh kín đáo. Tiếng bà bán trái cây làm vỡ tan không khí ngột ngạt:
– Thưa nho của ông đây. Tất cả là một ký rưỡi vát. Nhưng thôi trả tôi một ký ruỡi được rồi. Chà, ông thiệt là biết ăn, nho nầy mới về hồi chiều đó, tôi chưa kịp sửa soạn gì thì ông đã mở hàng rồi.
Ông Chương đưa tay cầm lấy túi giấy vừa chìa ra và ông chuyển sang qua Linda:
– Nè, anh biếu em và chị của em làm quen. Chị em không thích chua. Nè, bà bảo đảm ngọt phải không?
Tui bảo đảm mà ông. Ông thử đi thì biết. Phải hông cô.
Linda cầm lấy gói nho, day qua tìm Nguyệt Nga. Ông Chương nghiên đầu nhìn Nguyệt Nga đang đứng khuất sau lưng Linda. Ông Chương lên tiếng:
– Bây giờ trời cón sớm lắm…hay là tôi đề nghị thế này nhé. Tôi mới 2 cô đi ăn tối với tôi.
Linda không trả lời, nàng quay lui người trở lại, nhìn Nguyệt Nga:
– Sao? Chị đi được hông?
Nguyệt Nga im lặng. Linda tiếp:
– Đi hông. Sẵn đây em giới thiệu chị với anh Chương.
Và Linda nói nhiều về ông Chương nhưng Nguyệt Nga không nghe, nàng đang phân vân không biết Linda làm nghề gì và quan hệ với người đàn ông tên Chương như thế nào. Ông Chương tiếp lời Linda:
– Cô Nga không nói là bằng lòng rồi.Ta đi liền.
Ông quay lưng dợm bước qua đường. Linda xoay người bước theo, nhưng không thấy Nguyệt Nga dới bước, nàng khựng lại:
– Đi chị Nguyệt Nga. Qua đường đi.
Nguyệt Nga ấp úng:
– Thôi, để bữa khác đi…chiều nay đi chị chưa nói cho bà Năm biết sợ bả trông.
Linda bước lui:
– Có gì đâu, chị đâu phải con cháu trong nhà đâu mà chị sợ. Mình đi đâi mình đi chớ.
Nguyệt Nga cười nhẹ:
– Nói vậy đâu được em. Dù gì mình cũng đang ở nhờ nhà người ta mà.
Linda xì một tiếng:
– Chị làm như chị là con gái bà Năm không bằng. Đi chơi đi, có gì đâu.
– Không được em à. Mình đi thì được nhưng bà Năm bả trông.
Linda cười to:
– Trời ơi, chị làm như con gái mới lớn vậy.
Giọng Linda ngổ ngáo làm Nguyệt Nga thấy khó chịu. Nàng cố dấu nét mặt bất bình. Nhỏ nhẹ:
– Hổng phải như vậy. Mình ăn ở cũng phải có phải có không. Bà Năm là người ơn. Bả giúp chị trong những lức lỡ đường, dù bả không phải là mẹ mình đi nữa thì mình cũng phải có tiếng nói với người ta cho người khỏi lo chớ.
Linda thở ra:
– Chị kỳ thiệt. Đi chút chớ nhiêu mà chị lo. Mà có đi đâu xa, qua bên kia đường thôi. Đó…đó, cái nhà hàng bên kia chớ đâu xa. Đi không người ta đợi kìa.
Nguyệ Nga không muốn đi, nàng chần chờ, phân vân. Làm thế nào đề đi trở lại nhà bà Năm. Nàng nhìn bộ vó của Linda là muốn đi rồi. Bên Kia đưòng ông Chương kêu ới ới.
– Đi đi không người ta chờ kìa chị.
Nguyệt Nga thở hắt ra. Linda quen sống thoải mái không thể hiểu được nàng trong lúc nầy.
– Thiệt là em làm chị kẹt cứng. Em biết mà, chị đi chơi với em, bây giờ em nói vậy làm sao chị về một mình? Em biết mà.
Linda cười:
– Chị đổ lỗi cho em rồi đó nha. Thì đi chút thôi chớ có gì mà chị ngạu ngùng làm như con gái mới ra đường.
Không đợi Nguyệt Nga tra 3lời, Linda nắm tay nàng kéo tuột băng qua đường. Mấy chiếc xích lô đạp chạy qua la inh ỏi:
– Bà nội mẹ ơi. Má non, má có nhìn thấy xe con không má.
Nguyệt Nga hoảng kinh nhày thụt trở lại. Linda đứng im giữa đường cười hề hề.
– Thôi được rồi. Đi đi được rối.
Nguyệt Nga rụt rè bước qua đường. Đến bên kia đường nàng vẫn còn hồi hộp. Ông Chương cười:
– Linda, em muốn tự tử chắc?
Linda ngẩng mặt lên, đỏng đảnh:
– Sức mấy! Xe ở Sài Gòn mà. Anh biết mà.
Ông Chương không trả lời Linda, nhưng quay sang Nguyệt Nga nhỏ nhẹ:
– Thế nào? Làm cô một phen đứng tim hả?
Nguyệt Nga cười nhẹ:
– Tui sợ quá. Xe cộ chạy ào ào như vậy mà nó kéo tui đi tuồn tuột. Ghê quá.
Linda sửa lại vạt áo. Nàng cười:
– Anh Chương ảnh chọc chị đó. Ở Sài Gòn nầy mà đợi cho đường trống mới đi qua thì còn lâu. Mình phải ào ào bước xuống đường rồi băng qua. Xe nó tránh mình chớ mình đâu có tránh xe. Ở dây chị phải mau mắn, mạnh bạo như vậy mới qua đường được. Cứ như ở nhà quê thì chị đứng đó hoài.
Nguyệt Nga không trả lời. Ông Chương chỉ tay vô một nhà hàng nhỏ có rèm trắng trên mấy khung cửa sổ bằng kiềng, nói:
– Thôi. Bây giờ vô đây. Lần sau có đưa chị Nga của em đi thì em cẩn thận chút.
Linda bước vô nhà hàng. Nguyệt Nga đi theo. Ông Chương lịch sự mở cửa nhường 2 ngưòi con gái bước vô trước.
Nhà hàng khang trang, bàn ghế kê thẳng hàng, những chiếc bàn có mặt kiếng lót vài màu rượu chát nằm thẳng tắp. Có một vài bàn đang có khách. Ông Chươnmg đi thẳng vô trong, đến bên một chiếc bàn nhỏ có 4 chiếc ghế, ông kéo ra và mời:
– Nguyệt Nga ngồi đây.
Nguyệt Nga vẫn còn đứng, Linda nhanh nhẩu kéo cái ghế kêu cái rột, và ngồi xuống:
– Anh Chương “ga-lân” ghê ta ơi. Sao anh không kéo ghế cho Linda mà kéo cho chị em? A! Có mới nới cũ nha.
Linda cười lớn sao câu nói. Nguyệt Nga biết con nhỏ nói chơi, nhưng nàng cảm thấy nhột nhạt khó chịu. Nguyệt Nga chưa bao giờ ở trong trạng thái nầy. Nhìn lại bộ đồ nàng đang mặc trong người, bỗng dưng nàng cảm giác mắc cở. Kín đáo nhìn quanh, người khách nào trong nhà hàng nầy cũng ăn bận đẹp. Quần tay áo sơ mi thẳng nếp, con gái đàn bà ăn bận gọn gàng lịch sự, váy đầm hoặc quần tây. Mói có mấy ngày mà Nguyệt Nga đã trải qua nhiều tâm trạng khó tả. Hình ảnh nhũng người công nhân ở bến tàu buổi tối đầ tiên, nhũng người ngồi quán cóc trong nhà lồng chợ chiếu nay, thật khác xa. Cùng trong một thành phố, hai nếp sống thật khác xa. Một bên xốc xếch, ăn nói ồn ào, và bây giờ là một bên khác, ăn uống muỗng nĩa dao, khăn lau tay, ăn nói vừa đủ nghe. Đây đó những cặp tình nhân, gia đình nói năng từ tốn, vừa ăn vừa uống vừa nói chuyện với những nét mặt thỏa mãn.
Linda kéo nàng trở về thực tế.
– Ngồi xuống đi chị Nga. Đứng đó hoài. Bộ tính làm dâu sao chắc.
Nguyệt Nga giựt mình, ngồi xuống chiếc ghế nệm màu rượu chát ông Chương đã kéo ra và còn đứng chờ sau lưng.
– Từ từ Linda. Em đừng có hối.
Quay qua Nguyệt Nga ông từ tốn:
– Ngồi xuống đi.
Ông Chương bước qua phía bên kia chiếc bàmn, kéo ghế ngồi xuống. Ông xo atay:
– Bây giờ chúng ta ăn gì nào?
Một người bồi bàn trờ tới với ba ly nước lạnh trên tay. Anh ta để xuống bàn, và nhũng tấm thực đơn, cũng được bọc một lớp bao cùng màu với tấm khăn bàn.
Ông Chưong nâng ly hớp một miếng nước. Linda cũng làm như vậy. Phần nàng, Nguyệt Nga, ngồi im lặng, hai chưn khép sát nhau. Linda nhanh nhẩu cầm tờ thực đơn, bận rộn liếc mắt tờ trên xuống dưới.
– Ăn cái gì bây giờ?
Quay sang Nguyệ Nga:
– Chị thích ăn món gì nè? Ở đây có cơm phần gia đình, có mán tây món Việt đủ hết. Hôm nay em chỉ đi ăn ké thôi, mọi chuyện là do chị hết đó.
Nguyệt Nga ngạc nhiên ngó Linda:
– Em nói sao?
Linda cười, nhắc lại:
– Em nói, bữa ăn nầy chị là nhân vật chính đó. Có chị em mới được đi ăn…hổng ăn ké chị thì nói sao bây giờ.
Nguyệ Nga nhíu mày:
– Chị hổng biết em nói cái gì.
Ông Chương xen vô:
– Linda! Lúc nào em cũng giỡn chơi đùa cợ tđược hết.
Linda cong cớn đôi môi:
– Bộ em nói hổng phải sao? Hổng có chị Nga đây thì làm gì em được bữa ăn tối ngon lành thịnh soạn như thế nầy?
Ông Chương cười nhẹ:
– Không phải đâu. Thì anh vẫn mời em đi ăn với bạn bè hoài thì đâu có sao?
– Biết. Nhưng đó là những ngày xa xưa kìa. Mà cũng đâu có sao. Nhưng nói cho anh biết, chị em mới lên thăm em đó, chưa chắc chỉ ở đây đâu mà ham.
Ông Chương chống chế:
– Chớ anh có nói gì đâu.

Nguyệ Nga ngồi im nghe hai người đấu khẩu. Nàng không biết nói gì trong hoàn cảnh nầy. Nhưng giác quan của người con gái cho nàng biết, ngườio đàn ông đang ngồi trước mặt đã có thời săn đón Linda. Tuy mơ hồ biết nhu vậy, nhưng lòng Nguyệ Nga trống rỗng không nghĩ gì xa hơn.
Người bồi bước trở lại, trên tay cầm cây viết và tờ giấy nhỏ:
– Ông bà đã sẵn sàng chưa? Cho tôi ghi thức ăn?
Linda xua tay:
– Anh cho chút nữa đi. Chưa biết ăn gì bây giờ.
Ngườio bồi ngó ông Chương, ông ta gật đầu. Người bồi rời bàn và đi qua một bàn khác.
– Linda ăn gì nào? Em thích ăn tôm hùm lắm mà. Ở đây là nhà hàng nhỏ thôi, nhưng rất lịch sự và thức ăn ở đây không đến nỗi tệ. Có bia rượu, em muốn uống gì cũng có.
Linda chúi mũi vô tờ thực đơn, ngẩn đầu lên hỏi Nguyệt Nga:
– Chị ăn gì chị Nguyệt Nga?
Nguyệt Nga lắc đầu:
– Em ăn gì chị ăn đó. Chi đâu biết.
Chương xen vào:
– Cho tôi đề nghị thế này. Mình ana cơm gia đình đi. Mình ăn thử một bữa cơm Nam Bô đi.
Nguyệt Nga ngạc nhiên:
– Là sao?
Ông Chương cười:
– Khi ở dưới quê cô ăn gì?
– Dạ thì cũng ăn cơm như người ta vậy thôi.
– Tôi biết rồi. Nhưng tôi nói là thức ăn dọn trên mâm kìa?
Nguyệt Nga chuau bao giờ nghĩ đến chuyện nầy. Nàng ngó Linda.
– Anh Chương ảnh nói khi mình dọn cơm thì mình ăn cơm với món ăn gì đó mà.
Nguyệt Nga vẫn không hiểu. Linda vùa định nói thì ông Chương đã cướp lời:
– Thôi để tôi giải thích cho Nga nghe. Này nhé, mình ăn cơm là phải có cơm rồi…còn phần thức ăn thì trong Nam có nhũng món như cá rô kho tộ, cá lóc canh chua, thị kho hột vịt, cá trê dằm mắm gừng, cá bống kho queo, nước mắm kho quẹt, bông so đủa xào thịt bò….đó là những món ăn Nam Bộ. Nga có bao giờ nghe chưa?
Nguyệt Nga chưng hửng. Những món ăn ông Chương vừa kể là những món ăn của quê nàng, nhưng không phải ngày nào cũng ăn như vậy. Chỉ có đám giỗ, đám cưới hoặc giả những bữa ăn vào những dịp tết tư mới dọn lên mới khách. Còn thường ngày chỉ là nồi cơm trắng với ca 1kho, bông so đủa nấu canh, bông súng, bông dừa…và mấy món ăn thông thường.
Thấy Nguyệ Nga ngơ ngác, ông Chương tiếp:
– Thôi để tôi kêu nhé cô Nga. Tôi đã cô một bữa tối với những món của quê hương cô.
Nguyệt Nga day qua ngó Linda.
-Ừa, anh kêu gì ăn nấy.
Trong khi Nguyệt Nga còn đang thắc mắc thì ông Chương đã đưa tay ngoắc anh bồi. Anh ta đi trở lại, đến đứng bên bàn.
-Anh cho tôi bữa cơm gia đình…nầy…một cái lẫu cá lóc nấu canh chua, một dĩa thịt kho hội vịt, dĩa rau sống, con cá trê chiên dằm mắm rừng, thịt heo luộc, tôm càng kho, cá rô kho tộ…a….a
Linda đưa tay chận lại:
– Thôi đủ rồi…bụng đâu chứa cho hết.
– Còn Nguyệt Nga, cô kêu thêm món gì không?
– Dạ đủ rồi.
Người bồi nhanh tay ghi lia lịa, và anh hỏi:
– Còn nước uống?
Ông Chương nhìn Linda, Nguyệt Nga:
– Cho tôi chia bia 33 ướp lạnh. Còn 2 cô?
Linda nhanh nhẩu:
– Nước cam. Còn chị?
– Chị cũng vậy luôn đi.

Người bồi quay lưng đi thì ông Chương kêu giựt lại:
– Khoan đã em ơi. Hay là mình đổi lại mình uống chút rượu vang đi nhé.
Linda ngó Nguyệt Nga:
– Em sao cũng được, tùy chị Nguyệt Nga.
Nguyệt Ng alắc đầu:
– Thôi, tui hông biết uống rượu.
Ông Chương ngác tay ra dấu cho người bồi đi.
– Thôi cứ như vậy được rồi.
Ông Chương quay trở lại nhìn Nguyệt Nga, ông hỏi:
– À! Xin lỗi trước nhé. Tôi hới tò mò, cô Nga lên đây chơi thăm bà con hay lên làm gì?
Nguyệt Nga ngó ông ta, im lặng. Một lát sau, nàng nhỏ nhẹ:
– Dạ lên thăm bà con.
– Thăm Linda hả?
Nguyệt Nga dạ một tiếng và im luôn. Ông Chưong quay qua Linda:
– Từ hồi nào đến giờ có bao giờ anh nghe Linda nói về gia đình của em đâu? Em được mấy anh chị em tất cả?
Linda hơi bối rối, một thoáng nàng trở lại bình thường:
– A! Nhà em thì đông lắm…mà chị Nguyệ Nga là chị bà con thôi…nhà chị Nguyệ Nga cũng đông anh em lắm.
– À, thì ra vậy. Cô Nga lên đây được bao lâu rồi?
Nguyệt Nga hơi khó chịu vì những câu hỏi liên tục của ông Chương, nàng chưa biết nói sao thì Linda đỡ lời:
– Chỉ lên được cả tuần lễ nay rồi. Chỉ cũng tính nếu được thì kiếm việc làm.
Ông Chương “a” một tiếng. Nhưng ông đã kịp ngừng lời.
– Vậy đã có việc làm nào chưa?
– Chưa anh. Anh có giúp được gì không?
Ông Chương xoa tay, nâng ly nước uống một ngụm. Ông từ tốn:
– À, để coi sao. Nhưng mà chị của em học lực tới đâu rồi? Biết đánh máy chữ không?
Linda ngó Nguyệt Nga dò hỏi. Nàng im lặng.
Ông Chương tiếp:
– Hòi thì hỏi vậy thôi. Chớ tôi chưa biết thế nào. Trên Sài Gòn thì…theo tôi, mấy cô xin việc làm thư ký thì phải có biết đánh máy chữ, làm cho tư nhân thì cũng còn tùy.
– Tùy là sao anh Chương?
– À! Làm cho chính phủ thì quen biết mới xin vô được. Còn tư nhân thì tùy theo quen biết, tuỳ theo ông chủ ông ta cần việc gì. Nhưng tựu trung thì phải có ít ra cũng cái bằng trung học mới xin vào làm thư ký được.

Linda nhăn mũi cười. Nguyệt Nga im lặng nhìn hai người.
– Nói như anh vậy, thì em đây đâu có bằng, có biết đánh máy chữ nào đâu nè.
– Em khác.
– Khác làm sao?
– Anh hổng biết. Nhưng mà nếu chị của em muốn thì em cũng có thể giời thiệu cho chị em được mà.

Nguyệt Nga im lặng lắng nghe hai người nói chuyện. Trong đầu óc đơn giản của Nguyệt Nga, nàng chưa có một ý niệm nào về việc làm. Từ chiều hôm qua đến chiều hôm nay, nàng ngồi nơi đây bây giờ; tất cả không bao giờ nàng biết nó sẽ xảy ra. Do sự đưa đẩy nàng đã gặp lại con nhỏ Lép ngày nào ở dưới quê. Linda bây giờ rành rọt, lanh lợi đã đưa nàng đi từ trạng thái nầy đến ngạc nhiên khác. Nàng hoàn toàn thụ động.
Nhà hàng tuy nhỏ, nhưng sang trọng dối với Nguyệt Nga. Một bữa ăn không có cao lương mỹ vị, nem công chả phụng. Một bữa ăn rất bình thường của chốn bình dân sàn dã nàng đã biết qua. Nàng có chút ngạc nhiên tại sao người ta nấu, bày bàn, vén khéo gọn gàng thơm ngon quá đổi. Những hạt gạo trắng ngần, vừa thơm vừa dẽo. Nguyệt Nga và từng miếng cơm nhỏ vô miệng và cảm thương cho mẹ cho cha, cho những đứa em và bà con chòm xóm ở cái làng trù phú bên dòng sông Tiền, cái xứ miệt vườn cây trái xum xuê chẳng bao giờ có được bữa cơm như vầy. Cảm giác lâng lâng, nghèn nghẹn từ đâu ào ào tới xâm chiếm tâm hồn cô gái quê nghèo một cách bất ngờ.
Nguyệt Nga cúi mặt xuống nhai cơm, tiếng nói chuyện của ông Chươnmg và Linda vẫn rõ mồn một bên tai nàng. Thằng nhỏ ở bàn bên đòi mẹ cho nó những dĩa trái cây ướp nước đá. Sao có người ăn uống đầy đủ thậm chí thừa mứa đầy bàn, và cũng có những người như mẹ nàng, suốt cuộc đời chân lấm tay bùn qua bữa trong cảnh bần hàn. Nguyệt Nga thở ra nhè nhẹ. Nàng không muốn nghĩ đến những cảnh khó chịu đó, nó vẫn cứ tuôn trào, dâng lên từ đáy lòng nàng.
Ngh etiếng thở dài áo não, Linda day mặt lại, hỏi:
– Ủa, có chuyện gì chị không vui mà thở ra nghe phát chán vậy chị Nguyệt Nga?
Nguyệt Nga lắc đầu xua đuổi những suy nghĩ mông lung ra ngoài. Ngước mặt lên cố tạo nét vui. Nguyệt Nga trả lời:
– Đâu có gì đâu.
Nụ cười gượng gạo của nàng không tạo được sự tin tưởng nơi Linda.
– Thôi đi, chị dấu em chuyện gì đó. Chị có nghe anh Chương nói hông? Aûnh sẽ xin việc cho chị đó.
Nguyệt Nga day mặt ngó ông Chương:
– Tui…tui không biết làm được gì.
Ông Chương mau mắn nở một nụ cười tươi. Săn đón:
– Không! Không! Nga đừng lo, tôi sẽ cố gắng xin việc cho cô.
Ông ngừng lại để đo lường câu nói. Không nhìn thấy những nét vui trên gương mặt Nguyệt Nga, ông tiếp:
– Nói thật ra, cũng không có gì khó khăn lắm đâu. Như Linda nè, ngày nào cũng bở ngỡ như cô hôm nay. Bây giờ…đâu cũng vào đó tất.
Linda chen vô:
– Anh nói vậy đâu có đúng. Trời ơi, Linda cũng bầm dập truân chuyện dữ lắm mới có được ngày hôm nay. Chị Nguyệt Nga có phước hơn em.
Ông Chương đưa tay chận lại. Ông nói như phân trần:
– Coi kìa. Tất cả đều có những bước đầu tiên mới có được hôm nay đó chớ. Anh biết em khổ…Chỉ tiếc là ngày đó em gặp anh …đâu có phải anh là người đưa em vào cảnh khổ đâu mà em trách móc.
– Ai mà trách gì chớ. Nói nghe chơi thôi. Cái gì cũng qua hết rồi. Mà hỏi thiệt anh nha.
Linda ngưng bất chợt. Ông Chương chờ đợi một lúc không đừng được, ông đành lên tiếng:
– Linda muốn hỏi chuyện gì?
Linda không trả lời ngay, nàng nhìn qua Nguyệt Nga, thăm dò:
– Chuyện gì à?
– Ừ.
– Thì chuyện anh hứa giúp chị của em…anh có lóng tốt muốn giúp cho chỉ có việc làm hay là anh…anh có cái ý gì khác.
Ông Chương phân bua:
– Đâu có ý gì khác. Thì chỉ là chị của em mà em quen anh…mà dù không quen, anh thấy người hoạn nạn lỡ đường anh còn giúp được hà huống là Nguyệt Nga.
Ông Chương không dấu ánh mắt nhìn Nguyệt Nga chăm chú. Từ đôi mắt của ông ta chiếu ra những tia nhìn khó hiểu. Nguyệt Nga lặng thinh. Linda thì không như vậy. Nàng lên tiếng:
– Thiệt không đó ông anh. Đừng có qua mặt tui à nha.
– Thật đó.
Linda cười bí hiểm:
– Khó tin lời của các anh quá.
– Tại sao thế?
Linda nhái giọng ông Chương:
– Ối giời ơi…các ông thì thật là khó tin.
Linda có lối nói chuyện thoải mái, nàng giả giọng nhái lời ông Chương, đả đớt, ngọng nghịu và mắc cười. Nguyệt Nga không nín được. Nàng cười ra tiếng. Ông Chương không giận, trái lại, ông vui vẻ tiếp lời Linda:
– Oái giời ơi, cô có biết chữi cha không bằng pha tiếng hay không?
Linda không vừa:
– Thế tôi chữi cha anh, anh làm gì tôi nào? Anh đểu bỏ mẹ đi chớ lỵ.
Đến lúc này câu chuyện không còn nghiêm trang nữa, nó trở thành câu chuyện diễu cợt qua lại. Nguyệt Nga cười thành tiếng không dừng được. Nàng nói qau tiếng cười:
– Hai người làm cái gì vậy?

Nguyệt Nga im lặng lắng nghe hai người nói chuyện. Trong đầu óc đơn giản của Nguyệt Nga, nàng chưa có một ý niệm nào về việc làm. Từ chiều hôm qua đến chiều hôm nay, nàng ngồi nơi đây bây giờ; tất cả không bao giờ nàng biết nó sẽ xảy ra. Do sự đưa đẩy nàng đã gặp lại con nhỏ Lép ngày nào ở dưới quê. Linda bây giờ rành rọt, lanh lợi đã đưa nàng đi từ trạng thái nầy đến ngạc nhiên khác. Nàng hoàn toàn thụ động.

Nhà hàng tuy nhỏ, nhưng sang trọng đối với Nguyệt Nga. Một bữa ăn không có cao lương mỹ vị, nem công chả phụng. Một bữa ăn rất bình thường của chốn bình dân sàn dã nàng đã biết qua. Nàng có chút ngạc nhiên tại sao người ta nấu, bày bàn, vén khéo gọn gàng thơm ngon quá đổi. Những hạt gạo trắng ngần, vừa thơm vừa dẽo. Nguyệt Nga và từng miếng cơm nhỏ vô miệng và cảm thương cho mẹ cho cha, cho những đứa em và bà con chòm xóm ở cái làng trù phú bên dòng sông Tiền, cái xứ miệt vườn cây trái xum xuê chẳng bao giờ có được bữa cơm như vầy. Cảm giác lâng lâng, nghèn nghẹn từ đâu ào ào tới xâm chiếm tâm hồn cô gái quê nghèo một cách bất ngờ.

Nguyệt Nga cúi mặt xuống nhai cơm, tiếng nói chuyện của ông Chương và Linda vẫn rõ mồn một bên tai nàng. Thằng nhỏ ở bàn bên đòi mẹ cho nó những dĩa trái cây ướp nước đá. Sao có người ăn uống đầy đủ thậm chí thừa mứa đầy bàn, và cũng có những người như mẹ nàng, suốt cuộc đời chân lấm tay bùn qua bữa trong cảnh bần hàn. Nguyệt Nga thở ra nhè nhẹ. Nàng không muốn nghĩ đến những cảnh khó chịu đó, nó vẫn cứ tuôn trào, dâng lên từ đáy lòng nàng.

Nghe tiếng thở dài áo não, Linda day mặt lại, hỏi:
– Ủa, có chuyện gì chị không vui mà thở ra nghe phát chán vậy chị Nguyệt Nga?
Nguyệt Nga lắc đầu xua đuổi những suy nghĩ mông lung ra ngoài. Ngước mặt lên cố tạo nét vui. Nguyệt Nga trả lời:
– Đâu có gì đâu.
Nụ cười gượng gạo của nàng không tạo được sự tin tưởng nơi Linda.
– Thôi đi, chị dấu em chuyện gì đó. Chị có nghe anh Chương nói hông? Aûnh sẽ xin việc cho chị đó.
Nguyệt Nga day mặt ngó ông Chương:
– Tui…tui không biết làm được gì.
Ông Chương mau mắn nở một nụ cười tươi. Săn đón:
– Không! Không! Nga đừng lo, tôi sẽ cố gắng xin việc cho cô.
Ông ngừng lại để đo lường câu nói. Không nhìn thấy những nét vui trên gương mặt Nguyệt Nga, ông tiếp:
– Nói thật ra, cũng không có gì khó khăn lắm đâu. Như Linda nè, ngày nào cũng bở ngỡ như cô hôm nay. Bây giờ…đâu cũng vào đó tất.
Linda chen vô:
– Anh nói vậy đâu có đúng. Trời ơi, Linda cũng bầm dập truân chuyện dữ lắm mới có được ngày hôm nay. Chị Nguyệt Nga có phước hơn em.
Ông Chương đưa tay chận lại. Ông nói như phân trần:
– Coi kìa. Tất cả đều có những bước đầu tiên mới có được hôm nay đó chớ. Anh biết em khổ…Chỉ tiếc là ngày đó em gặp anh …đâu có phải anh là người đưa em vào cảnh khổ đâu mà em trách móc.
– Ai mà trách gì chớ. Nói nghe chơi thôi. Cái gì cũng qua hết rồi. Mà hỏi thiệt anh nha.
Linda ngưng bất chợt. Ông Chương chờ đợi một lúc không đừng được, ông đành lên tiếng:
– Linda muốn hỏi chuyện gì?
Linda không trả lời ngay, nàng nhìn qua Nguyệt Nga, thăm dò:
– Chuyện gì à?
– Ừ.
– Thì chuyện anh hứa giúp chị của em…anh có lòng tốt muốn giúp cho chỉ có việc làm hay là anh…anh có cái ý gì khác.
Ông Chương phân bua:
– Đâu có ý gì khác. Thì chỉ là chị của em mà em quen anh…mà dù không quen, anh thấy người hoạn nạn lỡ đường anh còn giúp được hà huống là Nguyệt Nga.
Ông Chương không dấu ánh mắt nhìn Nguyệt Nga chăm chú. Từ đôi mắt của ông ta chiếu ra những tia nhìn khó hiểu. Nguyệt Nga lặng thinh. Linda thì không như vậy. Nàng lên tiếng:
– Thiệt không đó ông anh. Đừng có qua mặt tui à nha.
– Thật đó.
Linda cười bí hiểm:
– Khó tin lời của các anh quá.
– Tại sao thế?
Linda nhái giọng ông Chương:
– Ối giời ơi…các ông thì thật là khó tin.
Linda có lối nói chuyện thoải mái, nàng giả giọng nhái lời ông Chương, đả đớt, ngọng nghịu và mắc cười. Nguyệt Nga không nín được. Nàng cười ra tiếng. Ông Chương không giận, trái lại, ông vui vẻ tiếp lời Linda:
– Oái giời ơi, cô có biết chữi cha không bằng pha tiếng hay không?
Linda không vừa:
– Thế tôi chữi cha anh, anh làm gì tôi nào? Anh đểu bỏ mẹ đi chớ lỵ.
Đến lúc này câu chuyện không còn nghiêm trang nữa, nó trở thành câu chuyện diễu cợt qua lại. Nguyệt Nga cười thành tiếng không dừng được. Nàng nói qua tiếng cười:
– Hai người làm cái gì vậy?

Bữa ăn tiếp tục kéo dài. Ông Chương ăn nói vui cười rổn rảng thoải mái. Một lát ông liếc mắt nhìn Nguyệt Nga khiến nàng khó chịu nhột nhạt. Linda cứ vui đùa không để ý sự kín đáo quan tâm của ông Chương dành cho Nguyệt Nga.

Trời bên ngoài đã khá khuya, Nguyệt Nga đứng lên từ biệt mấy lần đều bị Linda kéo tay giữ lại. Cuối cùng, Nguyệt Nga cương quyết đứng dậy. Nàng nói với Linda:
– Nếu em còn muốn vui, xin cho chị đi về trước nha?
Linada ngưng tiếng cười:
– Nói vậy nhưng em cũng muốn về, chỉ sợ anh Chương chưa cho phép về đấy thôi.
Linda ngó ông Chương cười ý nhị. Trong lòng ôâng Chương chưa muốn từ giả, nhưng nhìn sự cương quyết của Nguyệt Nga, ông suy nghĩ “Còn nhiều dịp khác mà.” Nghĩ như thế cho nên khi Linda đổ cho ông việc cầm giữ Nguyệt Nga, ông tươi cươì đứng lên.
– Đâu có thế được. Chị của em đa õmệt, thôi cứ đưa chị ấy về. Chúng ta còn nhiều dịp khác.
Ông liếc mắt và nói với Nguyệt Nga:
– Tôi nói đúng không Nguyệt Nga?
Nguyệt Nga đành ậm ừ cho qua chuyện.

Khi mọi người bước ra khỏi nhà hàng, trời đãvề khuya. Nguyệt Nga lo lắng hỏi Linda:
– Bây giờ đi làm sao đây em. Chị sợ khuya quá không còn xe.
Linda cười:
– Chị sao hay lo. Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông mà chị sợ hết xe à? Mà thiệt hết xe cũng không đáng lo, còn anh Chương đây chi.
Nghe hai người con gái nhỏ to và nhắc đến tên, ông Chương đã bước đến gần, và hỏi:
– Có chuyện gì vậy?
Linda trả lời:
– Chị của em sợ không còn xe về.
– Hai chị em đến bằng xe gì?
– Taxi.
Ông Chương cười:
– Tưởng gì. Taxi hả, còn chạy suốt đêm.
Nguyệt Nga đứng bên co ro. Bầu trời ban đêm dịu mát, ánh đèn đường tỏa sáng mấy con đường. Gió thổi luồn qua các khoảng trống của các căn nhà. Nguyệt Nga rùng mình.
– Chị lạnh rồi hả?
– Ừa. Chị hơi lành lạnh.
Linda xuýt xoa:
– Trời ơi, vậy thì làm sao bây giờ? Chắc chị không quen đó. Em lại thấy mát ghê.
– Chắc vậy. Tại chưa quen.
Ông Chương đến gần hai cô gái:
– Các cô về bằng phương tiện gì đây? Xe xích lô hay taxi?
Linda nói liền:
– Taxi cho lẹ. Em phải đưa chỉ về rồi mới về.
Vừa trả lời Linda vừa nắm tay Nguyệt Nga kéo ra đừng sát lề tìm xe.
– Kia rồi, bên kia chợ có chiếc xe đậâu chờ khách kia kìa. Thôi anh về đi anh Chương.
Liada lôi tuột Nguyệt Nga tràn xuống đường và băng qua. Ông Chương đứng ngó theo.
Khi hai người lên xe, Nguyệt thả mình xuống đệm xe thở phào nhẹ nhỏm. Linda nhìn nàng:
– Chị có vẽ mệt?
Nguyệt Nga gật đầu thay cho câu trả lời. Người tài xế sang số tách ra khỏi lề, Linda cho biết đi Phú Lâm. Chiếc xe chạy thẳng ra hướng bùng binh chợ Bến Thành. Chiếc đồng hồ trên nóc chợ chỉ hơn 9 giờ, đường phố còn đông người đi lại, những chiếc ghế đá còn có những cặp nhân tình. Nguyệt Nga mệt mõi ngã người dựa đầu vô ghế, mắt nhắm, trí óc mông lung. Thân thể không mệt mà tâm hồn u uất. Nàng không biết phải làm gì cho ngày mai. Những điều nàng chứng kiến suốt mấy ngày nay tại vùng đất mới đã làm cho nàng sanh u uất. Bất chợt một tiếng thở dài thoát ra. Nàng lẩm bẩm “Aâu cũng là mệnh số.” Có phải là định mệnh chăng? Có phải số phận nàng phải chịu những chia cắt, đớn đau và mất mát như thế nầy chăng? Có số mạng hay không? ÔngThiên ở trên cao có hiểu được nỗi lòng nàng chăng. Nguyệt Nga chán nãn quẹo người dán mình sát trong chiếc ghế. Chiếc xe cán qua một vật gì dưới đường, vồng lên hất nàng nghiên qua một bên, nàng lười biếng không thèm mở mắt. Linda iml ặng ngồi bên không nói. Tiếng thở dài của nàng làm Linda bâng khuâng lên tiếng hỏi nhỏ:
– Chị nghĩ gì mà thở dài?
Nàng giấu giếm:
– Không có gì, chỉ hơi chóng mặt.
– Không gì sao chị thở dài áo não quá.
– Nhớ nhà.
– Mới lên có mấy ngàymà nhớ gì? Ít nữa về thăm mấy hồi.
Nguyệt Nga trở mình:
– Không biết tại sao bỗng nhớ nhà quá sức.
– Có gì đâu. Lạ nước lạ cái thì nó vậy chớ có sao đâu. Người nào mà không vậy? Ít bữa chị có chuyện làm, có tiền và có bạn thì vui lắm, chỉ sợ lúc đó chị không muốn về nữa kìa.
Nguyệt Nga im lặng, Linda tiếp:
– Vui lắm, bạn bè của tụi em giỡn hớt suốt ngày đâu có gì mà buồn. Hồi em mới lên cũng vậy. Bây giờ xa Sài Gòn một bữa thôi em cũng nhớ.

Linda còn nói nhiều nữa, nhưng Nguyệt Nga không nghe gì. Suy nghĩ của nàng đang hướng về quê và trước mắt là những ngày bơ vơ. Nhìn thấy con Lép ngày nào đen đủi lem luốc mà bây giờ quần là áo lụa, nàng không biết nó làm nghề gì, cứ theo những gì nàng nhìn thấy hôm nay, nàng mơ hồ đoán ra Linda không phải làm phu phen hay buôn bán. Aùnh mắt thèm thuồng của ông Chương nhìn nàng làm Nguyệt Nga sợ hãi. Ông ta là ai? Gia đình thế nào? Con người ông ta dưới mắt nàng không được tốt. Nàng vốn quen nhìn những bộ áo đen, những bàn chưn đi đất, tai nghe những lời nói bộc trực đôi khi thô lỗ sổ sàng nhưng nàng tin hơn là những lời nói êm ái, những cử chỉ dịu dàng mơn trớn. Linda có lẽ đã quen, nàng có thể đi với nó hay không? Và nó đang làm gì…Bao nhiêu câu hỏi tưởng chừng như đơn giản, chỉ cần hỏi là ra…nhưng Nguyệt Nga có cảm giác lo sợ làm sao. Tâm sự bời bời.

Chiếc xe đã qua khỏi Chợ Lớn, những cột đèn đường đã thưa thớt, ánh sáng vàng vọt yếu ớt ảm đạm từ những bóng đèn như những trái bình bát không đủ rọi sáng. Đến đây xe cộ thưa hơn, hàng quán ít hơn, im vắng. Nguyệt Nga ngầy ngật buồn ngủ. Chiếc xe ngừng trước chợ, Linda day qua Nguyệt Nga nói:
– Thôi chị đi về nha. Ngày mai hưỡn đải chị em mình đi chơi nữa. Bây giờ em về. Ban ngày mình sẽ đi nhiều chỗ, mình sắm sửa để chị còn chưng dọn lên chớ.
Nguyệt Nga mở cửa bước xuống đường. Nàng nói với Linda:
– Chị hổng biết sao. Ngày mai chắc chị hổng đi được.
– Cái gì?
Linda phóng xuống theo, kéo tay nhìn sát mặt nàng hỏi:
– Chị nói sao? Ngày mai chị không đi với em à?
Nguyệt Nga uể oải, che miệng ngáp:
– Chị hổng chắc.
– Sao vậy?
– Đâu có sao đâu. Chị chua biết làm sao.
Linda nhăn mặt:
– Chị kỳ dữ hông. Đã nói em coi chị như là chị mà, mọi chuyện để em lo cho chị như là ngày đó chị giúp cho em ở quê thôimà.
– Chị biết…nhưng mà thôi để mai em lại chơi, bây giờ chị buồn ngủ qua rồi.
Linda còn muốn nói nữa, nhưng ông xe taxi neo bến đợi kêu réo om sòm…Linda đành phải quay bước. Linda bước lên xe còn ráng nói thêm:
– Thôitùychị nha. Mai em lặi dẫn chị đi sắm đồ.
– Ừa…mai lại chơi.

Leave a Reply