home Truyện Dài Cánh Đồng Nước Nổi (10)

Cánh Đồng Nước Nổi (10)

Mọi người im lặng đi như theo đuổi ý nghĩ riêng. Hải và Triệu ngồi không yên, nhấp nhỏm muốn đi, Năm Trực vẫn không hay biết, anh ăn mạnh uống bạo. Thấy mọi người bổng nhiên im lặng, Năm Trực bỏ đủa nhìn quanh. Năm Hương vuốt mấy cọng râu dưới cằm, lên tiếng:
– Đúng đó. Chuyện người chết hiện về báo mộng, người chết trúng giờ linh thành thần, thành quỷ đâu có thiếu. Thế giới của người âm cảnh nó cũng đâu có khác thế giới của người dương thế là bao. Nói cho cùng thì hổng đi đâu mà mất được. Người dân của mình có tin tưởng như vậy mới sống đến ngày nay. Họ hổng tin hổng được. Thử nghĩ coi, cái cuộc đất mình sống bây giờ đây, ngày xưa nó hoang vu lắm. Mới có mấy trăm năm chớ nhiêu đâu, từ một cuộc đất úng đất phèn lụt lội triền miên bây giờ coi đó…nó là cái lẫm lúa cho cái ăn cái mặc biết là bao nhiêu người. Làng mạc ngày xưa nó hoang vu lắm cà. Tỉ như cái Đồng Tháp Mười nầy cho đến bây giờ vẫn còn đất hoang nhóc trong đó thấy hông? Cái ngày mới vô đây lập nghiệp, ông cố ông sơ trần thân khổ ải lắm mói có như ngày hôm nay chớ hổng có dễ đâu.
Ông Sáu phụ họa:
– Nói nào ngay, cái chuyện trà dư tửu hậu nói để mà nói nghe chơi thôi chớ hổng có ăn nhằm vô đâu hết trơn. Anh Năm nói thì tui mới nói. Đúng là người mình phải có lòng tin tưởng thần linh lắm mới sông đến ngày hôm nay. Cái hồi đó, ông nội tui kể lại nó hổng được như bây giờ.
Tám Trống cười lớn xen vô:
– Thua là cái chắc chớ còn nói gì nữa. Cũng bởi người mình chịu khó nó mới được như vầy.
Ông Sáu cự nự:
– Anh Tám sao hay quá hà. Tui đang ngon trớn anh phát nhảy a thần phù vô chận trái khế tui. Anh nói thì phải thôi. Mà hai chú em đây còn nhỏ quá đâu có biết hả. Đất thấy rộng như vậy đó mần ăn hông hết đó nhen, nhưng có mấy ai giàu đâu cà. Tui nói hổng phải nói …chớ chi mà tui được nói …
Tám Trống phát cười lên ha hả muốn phun rượu ra bàn:
– Ủa, chớ ai hổng cho anh nói đâu cà. Đó nói gì thì nói đi.
– Anh sao mà hay bắt bẻ. Thì tui đang nói ngon trớn…anh già rồi mà cái tật nóng nảy hổng chừa. Hai chú em nghe cho biết…cái ngày mà Tây nó vô đây đó…í mà khoan nói cái đoạn đó đã…cái nầy nghe phải có đầu có đuôi.
Tám Trống đưa tay chận lại:
– Khoan đã anh Sáu. Nè, thăng Năm Trực mầy chạy u lại quán bà Tàu xách về cho tao vài xị nữa coi, tao ngồi đây hết đêm gặm cho hết ba cái cẳng gà này tao mới nghe hết chuyện của ông già Sáu…đi đi mậy.
Ông Sáu không giận mà còn cười:
– Anh xỏ tui đó hả anh Tám. Người ta nói Tám Trống ăn to nói lớn huỵch toẹt là lầm to rồi. Mẹ…họ bữa nay có ba xị vô xỏ tui hoài hả. Đi đi thằng Năm mầy. Nói đong cho tao.
Năm Hương cười nói với Hải, Triệu:
– Hai chú bạn của Năm Trực hả. Trước lạ sau quen nha, đừng chấp nhứt mấy thằng già như tụi tui nha.
Hải vộïi vàng lên tiếng:
– Í trời ơi, tụi cháu đâu có dám đâu bác ơi.
Năm Hương cười dễ dải:
– Nhà quê mà chú, biết gì nói nấy thôi hà. Nói cho cùng thì ở miệt nầy sau mùa màng gần ngày tết ngày tư rồi cũng đâu có chuyện gì làm đâu. Hổng đi đá gà thì cũng nhậu thôi.
Hải cười theo:
– Thì tụi cháu cũng vậy thôi. Tấp vô bến rồi, ghe xuống hàng là nhậu cho tới ngày về luôn.
Ông Sáu ngắt lời:
– Nói mấy chú nghe chơi. Cái đất nầy tốt lắm, làm một ăn mười, làm chơi ăn thiệt nghen mấy chú. Nhưng mà ngặt một cái là người giàu nứt đố đổ vách, giàu như ông Vương Khải, Thạch Sùng còn người thì nghèo quá sức là nghèo.
Triệu áy náy chêm vô:
– Cái nầy ở đâu hổng có bác. Đâu cũng vậy mà chớ riêng gì ở cái làng nầy đâu.
– Aäy, qua đâu có nói như vậy đâu. Ý qua nói là mấy cái thằng to đầu nó thất đức nó ăn trên đầu trên cổ người ta. Tui biết mà, cái tuổi nầy sao lại hổng biết chớ. “Tiểu phú do cần, đại phú do thiên” Thì ông bà nói vậy mình hay vậy thôi. Mà thiệt là có ông Trời hả, ổng phải coi chừng cái sổ bộ à.
Năm Trực vừa về tới nơi, anh thở dốc ra một hơi:
– Mệt gần muốn đứt hơi. Con xuồng gặp nước ngược.
Tám Trống cười hể hả:
– Thôi được rồi. Vô trước giải nghể giảo lao gì đi. Đốt điếu thuốc hít vài ba hơi là hết mệt chớ có cái đách gì mà la lối om sòm.
– Găïp mấy thằng quỷ sứ ngồi ở ngoải. Muốn rứt tụi nó ra được đâu có phải là dễ đâu.
Năm Hương vổ vai:
– Biềt rồi, bây giờ mầy với tao cụng một cái đi. Tao nhường cho mầy nửa bộ lòng con lóc mới nướng đó cà.
– Cảm ơn chú Năm. Nói vậy chơ tui đâu có sao đâu chú.
Ông Sáu nạt:
– Rùm trời. Im đi mầy. Im nghe tao kể chuyện thời văn cho mà nghe.
– Dạ chú Sáu.
Ông Sáu hút một hơi thuốc phà khói mù mịt.
– Ừ, nói cho nghe…hổng phải là tao ganh ghét gì ai mà tao nói đâu nha. Nhưng tao thấy chuyện bất bình là tao nói à. Tao nói, cho có ông phủ ông huyện ở đây tao cũng nói tuốt. Caí thưở đời gì mà kỳ cục. Hai chú có biết sao hông? Hổng biết hả. Mầy chú chắc nghe đồn mấy công tử miệt vườn rồi chớ gì? À, chà chà ăn xài thì biếùt sao cho phỉ. Nhưng nói nào ngay tui hổng có phục. Con người ta ở trên đời nầy phải biết là nếu mà có ông trời ông phật đó…thì phải biết. Cái thời xa xưa…ờ mà có xa gì đâu cà, mới vài chục năm cho mấy, cái hồi tui còn nhỏ chớ đâu. Mấy cái ông đại điền chủ ở đâu đó hả, nói thiệt một câu xanh giờn nghe chơi. Hổng cha nào mà hổng theo bợ đít thằng Tây. Tui nói thẳng mặt đó…bợ đít chớ còn gì nữa. Í cha mẹ ơi…tưởng ngon ăn hiếp tụi nầy thôi hà. Nhưng bây giờ thì còn cái mẹ gì nữa mà khoe. Mấy chú có biết hông, cái hồi đầu thế kỷ nè, cái hồi đó Tây nó qua nó khai thác đất mình, thì mấy cha đó chạy theo tây, cướp đất của người nghèo…chớ làm gì mà có nhiều ruộng dữ vậy? Đù…mẹ…thì cũng hai tay hai chưn như tui chớ ba đầu sáu tay gì đó ha? Tui nói hổng phải sao? Cái lúc mà bốn ông hổ tướng miền Tây nổi lên đánh tây thì mấy thằng đó theo tây…Nói cho cùng hổng phải ai cũng theo bợ đít tây hết đâu. Nhưng mầy thằng đó, nhà cửa dinh cơ lẫm trên lẫm dưới …nói thiệt mà nghe…đâu có phải của ông của cha gì để lại đâu.
Năm Hương thấy ông Sáu mặt mày tái mét, nốc rượu như rồng hút nước, giọng nói nhừa nhựa khó nghe, lâu lâu nức cụt thấy thường. Năm Hương biết ông Sáu xỉn nên ghé tai nói nhỏ:
– Anh mệt rồi đó anh Sáu à. Vô năm nghỉ chút đi lát ra mình làm tiếp.
Ông Sáu cự nự:
– Anh Năm à, anh tính làm nhục tui đó hả anh Năm. Hồi nảy ở bên đám giỗ có mấy thằng cà chớn nó đã làm tui mất hứng rồi…bây giờ về nhà của tui rồi mà anh còn cản tui hả anh Năm. Anh nói tui say à? Còn khuya. Tui còn tỉnh queo đây nè.
Ông năm Hương không dám nói nữa đành ngồi im. Tám Trống nói qua:
– Chơi tới luôn đi anh Sáu. Chìm xuồng thì cũng chìm tại chỗ anh Sáu.
Ông Sáu cừơi ha hả như một thanh niên:
– Nè coi cái ngực tui nè hai chú. Cái ngực nầy coi vậy chớ cứng lằm à nghen, súng bắn hông thủng à.
Hai thanh niên ngạc nhiên:
– Bộ bác Sáu có chơi bùa hả bác.
Ông Sáu cười văng nước miếng:
– Bùa chú khỉ gì…cái ngực nó giang nắng riết hồi nó cứng, như con khỉ nó chà lết riết hồi cái đít nó chai. Caí ngực nầy hít mùi thơm của đồng nội, mùi sình của nước lớn nước ròng, ăn con cá linh, cá lóc; nhậu con cá chẻm, uống nước đìa, tay cầm cái phảng phát bờ từ năm 15 tuổi …nó chai rồi đó hai chú. Cái lịch sử đất nầy nếu mà hổng có mấy ông già bà cả kể lại cho tụi tui nghe thì có môn mà nó mất đâu tám mươi đòi vương rồi. Có ai mà biết đâu nè, nói thiệt chớ cái thời nào cũng vậy hết trơn, cái thằng mạnh vì gạo bạo vì tiền nó vẫn cứ hơn hà. Mình biết như vậy thôi chớ mình có làm được gì nó đâu cà. Cái hồi trước đó, cái bên Bạc Liêu đó…cái chuyện Vũng Linh, Cầu Vông cũng như cái chuyện đồng Nọc Nạn nó chỉ là câu chuyện truyền miệng thôi hà nhưng mà nó là cái cốt cách của người mình đó hai chú.
Tám Trống vỗ chiếu nghe phành phành:
– Í mèn ơi, thưở nay tui mới nghe anh nói chuyện thời văn lần đầu đó nghen anh Sáu. Hồi nào giờ cha Năm Hương đây nè. Có mặt thằng chả đây nè, tui nói có mặt đèn làm chứng tui mà có nói gian cho đèn tắt tui tắt theo đi. Cái cha Năm chuyện gì chả cũng biết nghen anh Sáu…chèn ơi, tui phục chả hết biết. Bây giờ tới anh nha. Anh coi bộ được à anh sáu. Vô cái ngọt coi.
Ông Sáu cười ha hả:
– Chèn ơi, tưởng được ai khen cho cái mề đay mang cho le lói, chớ thằng cha Tám Trống khen được cái nước non gì đâu trời.
– Giỡn chơi hoaì anh. Anh coi thuờng tui vừa phải thôi chớ. Anh nói hổng có gì hả.
Ê! Lụa, mầy chạy về nhà mầy xách cái xâu khô lóc qua đây cho tao coi. Tao làm cho mấy chả cái món gỏi xoài tượng cho mấy chả lé mắt chơi mậy.
Lụa đứng lên te te bước ra khỏi cửa cấp kỳ. Tám Trống day qua Năm Hương:
– Anh Năm đã có lần nào nhậu khô lóc tui nướng bóp gỏi xoaì xanh chưa anh Năm.
Năm Hương trả lời gọn lỏn:
– Rồi.
– Ngon hông anh Năm? Bắt hả?
– Ừ, ngon thiệt.
– Nghe chưa anh Sáu. Anh nói tiếp chuyện thơi văn của anh đi, tui đãi anh món nầy nhớ đời.

Ông Sáu cười ha hả ngó bà vợ đang ngồi đàng sau. Ông nói lớn:
– Nè, bà. Bà nghe anh Tám ảnh khoe hông đó bà. Đâu bà vô trong bếp bà lôi cái hủ ba khía ra cho tui coi. Gắp cho tui một chén, xắt cho tui một dĩa gừng. Nhớ bẻ cái cái củ gừng náo già một chút, già nhưng không được già chát thì nó có xơ nghen bà. Bà xắt chỉ cho tui.
Tám Trống nheo mắt cười với Năm Hương:
– Chi vậy ánh Sáu? Bộ tính cho tụi nầy khát nước chơi ha anh Sáu?
Ông Sáu nhăn nhăn cái trán cười:
– Anh Tám nè, bữa nay có cơm có rượu, hay là anh đổi cái tên Tám Trống của anh ra Tám Tàng đi anh Tám. Í mèn ơi, làm tàng hết chỗ rồi đó nghen anh. Nói tới cái chuyện nầy tui mới nhớ cái đất nầy mà làm ăn chăm chỉ ăn đến già dời cũng chưa hết đó nghen anh…mà tui đang nói tới cái chuyện gì phát nhảy qua ăn với uống vầy nè?
Năm Hương cười:
– Thì đang nói Vũng linh của anh đó.
Ông Sáu ngó xuống nhà bếp:
– Ừ, chỗ đó là quê của bả đó anh. Ừ , để nói tiếp cho hai chú em đây nghe. Cũng là cái dịp nói chuyện xưa nghe chơi. Hồi đó …cái giồng nằm ben bờ sông Mân Thít, Cổ Chiên nó cao ráo sạch sẽ cây trái sum sê đó nó văn minh rất mực nghe anh.
Triệu hỏi:
– Cháu không biết tại sao kêu bằng Cổ Chiên hả bác Sáu?
Ông già Sáu đang ngon trờn phát khựng lại ngẩn ngơ:
– Ừ….chú hòi thì tui mới nhớ….à, mà từ nào tới giờ tui cũng chưa bao giờ nghĩ tới cái chiện nầy. Ờ tại sao vậy hả? Hổng biết nữa. Anh Năm có chữ có nghĩa anh biết hông anh Năm?
Năm Hương lắc đầu:
– Sự tích hả. Chà , anh nói cũng ngặt quá đi. Tui cũng chưa lần nào biết ránh chuyện nầy. Tui cũng có nói chuyện với bà con, mấy ông già bà cả mà chưa tỏ tường cái tích của nó.
Ông già Sáu chép miệng, vỗ đùi:
– Hai chú em mầy cũng hay quá đó…Ừ, cái gì cũng có tích của nó hết trơn, để qua tìm hiểu thử coi. Ở cái quê nam của mình đây, chuyện gì cũng có nguồn gốc hết trơn. Qua hổng biết hết được đâu. Qua chỉ biết cái ngày đó, cái ngày mà đất quê Nam nó còn hoang vu thuộc về cái nước Phù Nam, Chơn Lạp chừng mấy trăm năm trước, người mình từ miệt ngoài theo ông Chưởng cơ vô đây lập nghiệp thì nó chẳng có tên có tuổi gì ráo. Cái hồi đó trước cái thời ông Gia Long tẩu quốc lận. Cái hồi tiên thủy nghỉ đó đất vớ nước nó mênh mông chi địa có cái gì đâu. Chỗ nầy nè, là của người Chơn Lạp, mà cái người Chơn Lạp mới là hiền khô à, họ ở quanh mấy cái giồng, nhà của họ là nhà cao cẳng nha, còn ngưòi mình vô ở chung lộn. Cái hồi đó đất rộng nười thưa, nó hoang vu lắm, mặc sức ai muốn ở đâu thì ở. Người đi lập ấp vốn là những người nghèo ít học chỉ có cái sức thôi…họ ở đây chỉ cốt là kiếm cái ăn cái mặc, cũng chẳng trông gì làm giàu làm có gì. Nghe kể lại thì người đi lập làng hồi đó là dân tứ chiếng giang hồ, là những người bị đi đày. Hai chú coi đó, bây giờ là cái trào cộng hòa nên dân mình cũng đã đôngvui thành cái làng cái xã nó nề nếp, chớ cái thưở đó thì nó mênh mông chi ađịa. Riết lần hồi cái thổ ngơi, cái phong thủy đất nầy nó tạo cho con người quê Nam cái tánh rộng rải, rồi cũng do cái chuyện đi lập nghiệp đất mới cần có sự thương yêu đùm bọc với nhau, nó cần phải có cái tánh anh hùng xông xáo chịu khó với lại bất cần nên người mình nó mới sống được ở cái thổ ngơi lạ huơ lạ hoác cho đến bây giờ.
Hải và Triệu ngồi nghe quên ăn. Hai anh em giang hồ buôn bán chẳng có bao giờ nghe chuyện thần kỳ. Triệu hỏi:
– Bác Sáu biết nhiều chuyện ghê. Mà bác Sáu à, cái ông Chưởng Cơ bác nói đó là ai?
Ông Sáu già khoan khoái lắm, ông ngó Năm Hương, Tám Trống:
– Hai anh để tui kể nghen. Nếu có gì quấy hai anh noí lại. Thiệt cũng có cái duyên, nếu hổng có cái đám giỗ hồi trưa nầy thì tui đâu có mà moi óc kề chuyện như vầy làm gì. Mà nói nào ngay, chuyện của tui là chuyện “tam sao thất bổn” chẳng có cái gì lấy làm chắc…hai chú nghe rồi hai chú nghiệm lại sau nầy nha. Qua nói thiệt thì qua không có ăn học gì, nghe hút giò gõ cây múa riều qua mắt thợ thôi nha.
Năm Hương nhưng không cảm khái thương ông bạn Sáu già hết sức. Ông lên tiếng phụ họa:
– Có gì đâu anh Sáu, tụi mình tuy hổng già nhưng mà cũng tròm trèm cái tuổi thuận nhỉ thuận tai, biết cái cơ trời vận nước. Những lúc như vầy nó cũng cho mình “ôn cố tri tân.”
Tám Trống coi bộ la đà say dữ, tay cầm đủa không muốn nổi. Ông lè nhè:
– Tới đây là tui đầu hàng nghen. Hai anh bây giờ chơi tui rồi, mấy anh nói chữ nói nho tui coi như bù trất. Với lại tui cũng đã lắm rồi xin cho tui kiếu trước đi về ngủ.
Ông Sáu khoát tay lia lịa:
– Í, đâu có được anh Tám. Còn cái trái xoài xanh với mấy con khô lóc của anh chưa tới phần mà. Anh giận tui đó à?
– Giận đâu mà giận. Thiệt tình là tui cũng đã rồi, với lại ba cái chuyện của hai anh tui hổng biết nói vô cái chỗ nào ngồi hoài phát chán nên về ngủ cho nó phẻ cái thân già.
Nam Hương vỗ vai:
– Thôi bỏ quá đi anh Tám, nếu mà tui có lỡ miệng làm anh giận thì bỏ quá cho tui…già rồi giận hờn tụi nhỏ nó cười.
Tám Trống ngồi im re. Ông già Sáu cũng quên luôn anh bạn già, ông nói tiếp:
– Hai chú nghe cho vui, cái nhà quê của qua nó như vậy…hai chú hỏi ông Chưởng Cơ lập làng lập ấp là ai hả. Theo như qua nghe thì ổng là ông Nguyễn Hữu Cảnh ở miệt ngoài vô đây. Oång dẫn người mình đi lập nghiệp, đi đánh giặc Cao Man, đánh Xiêm la, Thổ phỉ…rồi ổng lập làng, coi như ổng là người đầu tiên. Cái chuyện ổng nó dài lăám, nhưng bây giờ tóm gọn một câu cho hai chú biết. Ở Long Xuyên có cái củ lao Ông Chưởng đó chánh hẩu là nơi ổng chết sau một trận trúng gió dưỡng quân. Oång là quan Chưởng Cơ trào Nguyễn mà người mình kêu bằng Ông Chưởng.
– Rồi sau đó?
Ông già Sáu ngất ngưởng:
– Thì sau đó ổng bịnh ổng chết chớ sao nữa.
– Vậy thôi sao?
– Còn chớ. Còn nhiều nữa chớ nhưng mà đang không nhắc ba cái chuyện đó làm chi cà?
Năm Hương phát bật cười ha hả:
– Thì cũng tại anh chớ tại ai. Cha Tám Trống chả giận cũng tại anh nói ba cái chuyện xưa.
Ông Sáu già trợn mắt:
– Sao? Anh nói cái gì anh nói lại tui nghe anh Năm? Mắc gì giận tui chớ?
Năm Hương lắc đầu mấy lượt:
– Ô…ơ…xin lỗi anh Sáu, tui nói lộn. Cũng tại tui hụ hợ với anh ba cái chuyện đời xưa mà nó mới sanh chuyện.
Ông Sáu già thắc mắc:
– Mà tại làm sao anh Tám giận tui? Tui có làm cái gì đâu cà?
– Thôi bỏ qua đi. Cũng tại tui hết trơn hết trọi. Ông bà nói phải cũng tại cái thần khẩu hại xác phàm…ăn nói trật nhịp.

Câu chuyện đang ngon trớn bỗng dưng đứt ngang. Lụa quay trở lại trên tay xách một túm vài ba miếng khô cá lóc. Ông Sáu trở bộ ngồi:
– Thôi nghen, bỏ qua ba cái chuyện thời văn đi nghen. Nói chuyện ăn chuyện nhậu thôi nghen.
Hài và Triệu nhìn qua Năm Trực như hỏi ý. Năm Trực lắc đầu. Họ cùng ngồi lại. Lụa đi ra nhà sau một lúc có mùi khô nướng bay lên thơm phức. Bên ngoài trời đã tối tự lúc nào, bà Sáu thắp cái đen để giữa bàn, ông Sáu giơ hai tay lên như phân trần:
– Trời tối hồi nào mình cũng hổng hay, thắp cái đèn mà tụi mình cũng hổng biết…càng già càng lạng quạng hổng nên thân.
Hải lấy tay khều Năm Trực nháp nhó và y bước ra sân. Năm Trực đi theo.
– Muốn đi về hả?
Hải nói như phần trần:
– Hổng phải…tôi muốn hỏi ý anh Năm là mình ngồi đây chơi tới bao lâu nữa mới về?
Năm Trực gải đầu:
– Cũng hổng biết chừng. Tui muố dẫn mấy anh đi chơi cho biết, cái ý của tui là tới gặp thằng bạn tui con ông Sáu, anh của Nguyệt Nga…nhưng xui quá nó hổng có ở nhà lại găạp ba của nó rồi mình xáp vô nhậu chớ tui đâu có biết trước.
– Không sao…chỉ có điều là anh nói em của bạn anh muốn đi Sài Gòn phải không?
Năm Trực nhắn nhó:
– Thì tui nghe nó nói như vậy. Thì con Sáu nó ngồi đàng sau lưng ba nó đó, nó tên là Nguyệt Nga, nó có chuyện buồn muốn đi xa lập nghiệp tui mới dẫn mấy anh tới…nhưng mà mấy anh coi hổng giúp được nó thì thôi hổng sao mà.
Hải phân trần:
– không phải là tôi không giúp. Ý tôi muốn hỏi là bây giờ mình ngồi chơi hay là đi về rồi bữa nao hỏi ý cô ta muốn đi thì mình nói chuyện sau thôi. Ngồi nhậu với mấy ông già cũng có cái vui mà cũng mệt quá. Tôi muốn đi về.
– Về thì về, đâu có sao đâu dễ mà.
Năm Trực quay lưng bước vô nhà, Hải bước theo. Trong nhà vẫn ồn ào. Năm Trực cháp tay xá xá:
– Con xin lỗi chú Sáu, cho con nói.
Mọi người ngưng nói, ngước mắt lên. Năm Trực nói tiếp:
– Con nói nhu vầy, bữa nay cũng hổng có hẹn trước mà được ăn nhậu như vầy vui quá, nhưng mà bây giờ con xin phép về trước, hai người bạn đây có chuyện muốn đi về.
Ông Sáu cười thoải mái khoát tay:
– Phép với tắc cái gì thằng Năm mầy. Ừ, có chuyện thì cứ đi đi, hôm nào muốn chơi thì ghé lại.
Triệ đang ngồi nghe nói đi về y đứng lên, Hải chào:
– Vậy xin phép mấy bác nhé. Tụi cháu có việc phài đi trước. Khi nào có dịp ghé qua sẽ đến thăm mấy bác.
Ông Sáu đứng lên:
– Thôi mấy chú cứ tự nhiên nha. Qua cũng không khách sáo gì, có dịp ghé thăm là quí rồi. Còn cái chuyện ăn nhậu nói tầm phào ở đây có gì mấy chú bỏ qua. Thằng Năm mầy cứ từ từ mà đi nghen.
Ông Sáu ngồi xuống, Năm Hương, Tám Trống gật đầu khi mấy người cuí chào bước ra cửa. Năm Trực bước qua phía Nguyệt Nga, anh nói nhỏ:
– Nói với thằng hai tui có ghé qua, còn em muốn đi buôn đi bán gì đó nhớ cho anh Năm hay nhen.
Khi mọi người bước ra cửa, bàn nhậu trở lại ồn ào, Nguyệt Nga đứng dậy bước theo ra sân, Lụa bước theo. Khi Năm Trực vừa khuất , Lụa nắm tay Nguyệt Nga hỏi:
– Hồi nãy anh Năm nói gì với mầy vậy Nguyệt Nga.
Nguyẹt Nga day lại:
– Hổng có gì. Aûnh chỉ nói với tao là có muốn đi buôn thì nói với ảnh.
– Mầy muốn đi thiệt sao?
– Tao chưa biết nữa. Cứ để đó coi sao.
Lụa im lặng một lát ,Nguyệt Nga cũng lặng thinh. Bầu trời không trăng sao tối den chỉ có tiếng ếch nhái kêu rang ngoài mép vườn.
– Mầy nói cái chuyện đi buôn với anh Nama hồi nào mà ảnh biết?
– Tao đâu có nói gì đâu. Cái bữa con tao chết, tao có nói với mấy người ngồi chung quanh, trong đó có đứa em của ảnh, chắc là nó học lại. Có chuyện gì hông?
Lụa ngập ngừng:
– Ờ, hổng có chuyện gì. Tao cũng hổng biết tại sao…Tao nói chuyện nầy mầy đứng nói với ai nghen.
Nguyệt Nga ngạc nhiên day mặt lai ngó Lụa như dò hỏi:
– Chuyện gì bí mật quá vậy Lụa.
– Ờ…ờ…tao cũng hổng biết nữa.
Nguyệt Nga càng ngạc nhiên hơn:
– Có chuyện gì vậy Lụa. Mầy sao vậy?
– Anh Năm…
– Anh Năm làm sao?
Lụa bước trái qua một bên né ánh đèn trong nhà rọi ra. Nàng ngồi xuống:
– Có một lần anh Năm Trực ảnh theo tao.
– Ừ, rồi sao?
– Thì ảnh theo tao ảnh…ảnh nói ảnh thương tao…ảnh…
– Aûnh làm sao? Mầy sao kỳ vậy Lụa. Caí tánh của mầy dứt khoát lắm mà. Chuyện gì?
– Kỳ cục lắm. Aûnh rủ tao đi theo ảnh.
– Ủa…sao lạ vậy? Nếu tụi mầy thương thì cứ nói với ảnh đi hỏi cưới mầy chớ có gì đâu mà phải rủ đi đâu?
– Thì vậy tao mới nói chớ.
Nguyệt Nga quên phức chuyện của mình, nàng nhíu mày suy nghĩ tìm lời hỏi bạn:
– Ngộ ghe!. Hay thiệt!
– Cái gì hay? Cái gì mà ngộ?
– Thì chuyện của mầy chớ chuyện gì?
– Sao?
– Caí tánh của Năm Trực từ nào tới giờ đâu có dấu đút gì đâu. Mà sao tao nghe chuyện cứ y như là có cái gì núp núp lén lén ở trỏng.
Lụa ấp úng:
– Thì như vậy tao mới hỏi mầy. Hồi nãy tao thấy ảnh đi với hai người bạn ghe tới đây, rồi lúc ảnh chào đi về ảnh lại nói nhỏ với mầy…tao nghi nghi…
Nguyệt Nga bẻ người, vuốt tóc. Trong bóng tối hai mắt nàng long lanh:
– Mầy nghi cái gì?
– Tao hổng biết nữa. Nhưng mà linh tánh tao như vậy.
– Í chà…
– Sao vậy?
Nguyệt Nga lắc đầu:
– Hổng có gì…thôi để đó mai hãy hay đi. Tao thiệt là hổng biết cái chuyện gì mà nói đây…thôi đi về ngủ đi.
– Còn mầy?
Nguyệt Nga nén tiếng thở dài vừa nổi lên trong ngực:
– Tao hả? Tao bình thường rồi. Chuyện gì rồi nó cũng qua thôi. Tao bây giờ cứng cáp rồi…tao thiệt là cảm ơn tụi bay hết sức.
Lụa không nói gì nữa, nàng theo chưn Nguyệt Nga bước vô nhà. Bên trong nhà đã dịu bớt. Mọi người đang ngồi uống trà, bàn nhậu đã dẹp sạch sẽ. Nguyệt Nga bước thẳng xuống nhà bếp, Lụa bước theo. Đêm chưa khuya nhưng rất im ắng. Chỉ còn nghe tiếng ếch nhai râm rang ngoài mương vọng vô.

80. Năm Trực bước ra khỏi nhà ông Sáu bương bương đi một hơi, Hải, Triệu đi theo. Họ châm điếu thuốc phì phèo, ánh lửa lập lòe trong bóng đêm chập choạng. Gió ngoaì đồng lồng lộng thổi vô, cây cối đứng im chỉ có tiếng bước chưn ba người lầm lủi.
Năm Trực nói trước:
– Hai người vui hông?
Hải cười:
– Triệu, mầy thấy sao? Mầy vui không? Nhà ông Sáu coi được chớ hả. Chà! Chà! Con gái xóm nầy đẹp ra gì vậy mà từ lâu qua con đường sông nầy có bao giờ tao nghĩ đến chuyện mua bán gì ở đây đâu.
Triệu búng tàn thuốc bay trong không khí vẽ một vạch sáng rồi rợt xuống con mương bên đường. Triệu lắc đầu:
– Có gì đâu mà vui với không vui. Muốn qua lại đây thì chúng ta đổi đường nước chớ có gì khó. Nè anh Năm, ở đây có làm khô không anh Năm?
Năm Trực lắc đầu:
– Ở bên miệt Châu Đốc thì có, ở chỗ nầy mần rẩy dưa ruộng nước đâu có buôn bán đâu mà làm khô. À, mà cũng có để ăn mấy mùa nước nổi. Hỏi chi vậy?
Triệu nói:
– Thì hỏi để tìm đường chở khô về Sài Gòn chớ chi.
– Muốn thì tui dẫn đi cho. Đi đường sông chừng ngày nữa thì tới chớ gì.
Hải cười:
– Thằng Triệu nó hỏi cho có để nó về đây làm rể đó anh Năm ơi.
Năm Trực cười theo:
– Tưởng chuyện gì khó chớ chuyện đó dễ như ăn gỏi mà.
Hải nói thêm:
– Nhưng mà anh có chắc không đó?
– Ở chơi vài ba bữa đi rồi biết. Mùa này cũng giáp Tết cho nên bà con huỡn lắm, mai đi qua thằng Sáu Bảnh nó dẫn đi chơi. Í cha ơi, chuyện gì chớ mùa này nhậu chìm xuống luôn…có sức hông?
Hải đắn đo:
– Nói chơi vậy chớ không ở lâu chuyến nầy được. Nè, tui hỏi thiệt nhé. Hồi chiều anh nói cái nhà ông Sáu có người con gái dễ vô lắm…có phải anh nói cô Nguyệt Nga phải hông?
Năm Trực gật đầu:
– Ừ phải phải. Con Sáu nó cũng muốn đi xa, sẵn tui muốn giới thiệu cho biết.
Hải quay người ngó Triệu đang đi bên cạnh:
– Cô ta muốn đi Sài Gòn à?
– Chắc vậy. Hồi trước nó ở chợ Mỹ buôn bán, sau nầy nó về chợ huyện…con nó mới chết nên nó buồn nó muôn đi xa.
– Ủa, chồng đâu.
Năm Trực đắn đo:
– À!, chuyện còn dài…nhưng bây giờ thì nó không có chồng con gì hết trọi.
– Vậy sao? Để coi…nhưng mà hồi chiều đâu có nói được gì đâu. Chậm lắm là sáng ngày mốt tụi nầy nhổ sào rồi.
Năm Trực phân vân:
– Ừ, thì hồi chiều xui quá tới nhà ông Sáu thì gặp ổng chớ tui tính là ghé qua coi thằng Hai con ổng có nhà hông thôi.
Triệu nói:
– Được dịp ngồi chơi làm quen với mấy ông già ở đây cũng được. Mà nhà nào cũng có con gái ha. Mà gái đẹp không hà.
Hải cười to:
– Trời ơi, cậu hai Triệu chịu không? Nói một tiếng đi. Ngon hơn gái Chợ Lớn hả cậu Hai?
Năm Trực tiếp lời:
– Không phải vậy đâu. Hổng phải nhà nào cũng có con gái đâu. Cái xóm nầy hàng ngàn mẫu ruộng con gaiù không ai đi phát bờ, ai đi cày đi vở đất. Nhưng nói nào ngay con gái ở đây được cái nước trắng da dài tóc. Cái cô tên Hậu đó ném về hạng nhứt ở đây đó, nhưng cổ có thằng Sáu theo rồi hổng được đâu.
Hải cười:
– Nghe anh Năm nói mà tui phát ham. Nghe đâu rằng bên Trúc Giang con gái tắm nước dừa nên da trắng phau phau hả anh năm? Còn ở đây?
Năm Trực húng hắng ho:
– Mẹ nó, mấy bữa nay phát cái chứng gì mà ho khục khặc hoài…Anh hỏi bên Trúc Giang thì tui hổng rành đâu. Cái xứ của tui con gái trắng da vì tụi nó tuy là gái quê nhưng cái nước ở đây nó không bắt nắng cho nên con gái nó trắng trời sinh vậy mà.
Hải cười hí hí:
– Nói nghe mà thèm. Đâu ngày mai anh dẫn tui đi xóm chơi cho biết.
Năm Trực bước chậm lại:
– Nói thiệt là tui hổng dám chắc, nhưng mấy anh muốn cũng dễ mà. Đám bạn bè tui ở đây vui lắm.
Hải bắt qua chuyện khác:
– Ủa, nè anh Năm. Tui hổng biết sao mấy bà con mình ở đây không buôn bán gì ha? Ruộng rẩy mênh mông chi địa, nhà cửa coi được quá nhưng mà còn nhiều người thiếu ăn, cứ đi làm thuê suốt đời vậy sao?
Năm Trực nhíu mày, trong bóng đêm đôi mắt mờ đục:
– Hổng biết. Thiệt tình là tui hổng biết. Hồi tui sanh ra, lớn lên đã làm thuê làm mướn rồi chưa bao giờ nghĩ tới.
Hải thắc mắc:
– Ủa vậy cứ làm ruộng thuê cho mấy ông chủ điền hoài vậy sao?
Năm Trực cười dễ dãi:
– Trời sanh như vậy mà.
– Kỳ ha.
– Anh noiù kỳ là sao?
– Không biết nữa. Mà thôi tới bến rồi, tụi nầy xuống ghe…anh Năm chưa ngủ xuống chơi. Có biết đàn địch ca kiết gì thì xuống ghe tụi nầy chơi chút.
Năm Trực ngó quanh, mặt trăng chưa lên, trời mới sập tối nhưng không thấy đường đi. Chiếc ghe phập phiều dưới bến có tiếng hát vọng lên bờ. Năm Trực hỏi:
– Ủa dưới ghe anh có người biết đờn ca sao mà hay quá vậy?
Triệu cười nói:
– Đâu phải. Máy hát đó, máy thu thanh đó.
– Rõ quá chừng cứ nghe như người thiệt đang ca.
Hải ngạc nhiên:
– Ủa, bộ ở đây bà con hổng biết cái máy thu thanh à?
Nam Trực xì một tiếng:
– Biết chớ sao lại hông. Nhưng có ai mà mua làm gì, chỉ có mấy ông hội đồng, ông chủ điền mới có máy, còn tụi tui thì nghe làm gì.
Hải “a”ø và cười:
– Thì ra vậy. Xuống chơi một lát đi, xuống nghe chơi. Ở dưới còn chai rượu công xi mua ở Bình Đông ngon lắm làm bậy vài ly cho ấm rồi về.
Quay sang Triệu:
– Nè Triệu, mấy con khô vịt phá lấu còn không mầy?
– Không để ý, nhưng lạp xường thì còn.
Hải kéo tay Năm Trực thân thình sởi lởi:
– Xuống chơi đi anh Năm, có lạp xường nướng lên trộn dưa chuột, làm thêm mấy cái củ kiệu với tôm khô bắt lắm. Xuống nhậu chút cho vui.
Năm Trực ngần ngừ:
– Có tiện lắm hông? Có ai ở dưới nữa vậy?
Hải vỗ vai đẩy Năm Trực bước qua tấm ván cầu:
– Đâu có ai đâu mà ngại. Mấy trai bạn trạo phu đó thôi, người làm của thằng Triệu không sao đâu.
Năm Trực bước theo Hải qua tấm ván xuống chiếc ghe bầu. Chiếc ghe rộng có chỗ nằm ở mé ngoài, mấy cái bếp lò bằng dầu hôi , chạn đựng đồ ăn, nồi treo trên vách ván, một chiếc máy thu thanh thiệt to đang phát ra bài ca vọng cổ.
Triệu xà xuống mặt ván đóng cao hơn sán ghe chừng 4 tấc, cởi bỏ đôi giày, ngoái cổ kêu mấy thanh niên đang nằm xoài trên mui nói mấy câu gì đó. Hải vặn nhỏ chiếc máy thu thanh. Hai thanh niên còn trẻ nhảy từ trên mui ghe xuống mũi, chiếc ghe lắc mạnh. Triệu nói sai biểu đi làm đồ nhậu. Hải chỉ cái đòn bằng cây cho Năm Trực:
– Anh Năm ngồi đó được hông. Muốn ngồi xuống sàn thì tui trải chiếu ra cho ngồi.
– Được, được. Cứ để tui tự nhiên. Chiếc ghe to ghê hả. Tụi nầy cũng có mấy lần vác mướn nhưng không có ở lâu nên chưa biết. Còn ngon hơn cái chòi của tui nữa đó.
Hải ngồi xuống bên cạnh:
– Ủa, nói vậy cái nhà tui gặp anh hôm qua là của ai?
– Nhà bà con, tui ở ngoài bìa xóm chưa có nhà?
Hải tò mò:
– Như vậy gia đình anh đâu?
Năm Trực buồn ngang:
– Tui ở bên chợ Mỹ, lúc trước có đi theo mấy thằng bạn vỡ đất làm vườn…nhưng nói nào ngay tuổi trẻ ham chơi đá gà với lại cờ bạc nên trôi lạc đến xóm này ăn nhờ ở đậu bà con.
– Chưa có vợ hả anh Năm?
Năm Trực gạt ngang:
– Bỏ chuyện đó đi.
Năm Trực buồn ngâm ngấm trong bụng. Anh buồn là phải . Đối với xóm làng con trai quá 20 tuổi mà chưa có vợ là coi như già chát, ế rồi và nhà nào có con gái cũng hổng nhắm vô mấy người ế vợ. Họ nói già đầu mà chưa có vợ con như vậy là có chuyện gì trục trặc rồi. Hổng lưng hột, té giếng, trợt bờ mương thì cũng mắc thằng bố hoặc đàng dưới nên cha mẹ sợ. Chẳng nhuưng như vậy, con gái cũng ngán ngược rất sợ lấy phải người ế vợ. Họ nói với nhau:
-Bộ sợ ế chồng hay sao mà hết người lấy đi lấy thằng mắc thắng bố ế sình ế thiu ế chảy.
Trời ơi là trời, có ai mà hiểu dùm cho Năm Trực. Anh là một trong những thanh niên mạnh khỏe, biết ăn làm nhưng ngặt nghèo trong cơn thất bại nên đành mang cái tiếng xấu nó đã lưu truyền từ ngàn xưa để lại trong xóm trong làng.

Năm Trực biết thân phận sau một thời gian ở đậu nhà bà Dì đã cầm phảng làm một khoảng ngoài rìa làng cất tạm cái chòi bằng dừa nước. Năm Trực thương con Ba Lụa con ông Tám Trống. Nhà con Lụa chưa phải là điền chủ, con Lụa còn đi vần công đổi công gặt thuê cấy mướn, nhưng ông Tám có mấy công đất ruộng vài ba công đất gò trồng dưa, nhà cửa coi bộ khá. Lụa hiền và mau miệng rất hợp với cái bản tánh vui vẽ của Năm Trực. Thương mà hổng dám mở lời. Nhắc đến chuyện vợ con Năm Trực thở dài buồn đứt ruột.
Hải kéo ngăn tủ dười chiếc sạp giường lôi ra chai rượu, Triệu nằm dài trên tấm sạp bắt tréo chun chữ ngũ hát nghêu ngao. Mùi lạp xường thơm phức bay lên khoang ghe, tiếng mâm thớt lộp cộp.

Hải rót rượu ra cái chén nhỏ đưa Năm Trực:
– Nè anh Năm, uống một chung làm bạn đi anh.
Năm Trực đưa tay tiếp ly rượu mắt dòm Triệu:
– Anh Hai Triệu hổng ngồi luôn cho vui?
Hải khua tay trong không khí:
– Thôi mặc kệ nó đi, lát nữa nó xà xuống bây giờ.
Triệu ngóc đầu lên nói:
– Xin lỗi anh Năm nhé, bây giờ cho tôi nắm nghỉ một chút cho lại sức. Hồi chiều như vậy là quá sức tôi rồi. Hai ông cứ nhậu đi. Có gì kêu hai thằng nhỏ nó phụ.
Năm Trực uống cạn ly rượu đầu tiên của bữa nhậu. Anh khè khè rong cổ họng:
– Cái mùi khó uống quá. Nó thơm thơm cái mùi gì kỳ cục lắm.
Hải nhằn mặt:
– Sao vậy? Cái mùi gì?
– Mà hổng sao, rượu lạ mới uống lần đầu…một lát nữa nó quen.
Hai thằng nhỏ người nhà Triệu để dĩa khô vịt nướng, một dĩa dưa chuột trộn lạp xường. Hải chỉ vô một chỗ và nói:
– Hai đứa ngồi xuống đó luôn cho đủ tụ.
– Anh Triệu không ngồi à?
– Kệ nó.
Hải ngó Năm Trực nói tiếp:
– Sáng ngày mai anh Năm dẫn tụi nầy đi dạo xóm một buổi nghen anh Năm, chiếu mai tụi nầy nhổ sào rồi.
Năm Trực uể oải:
– Ừ, mai qua nhà Dì tui đi. Tui đợi.
Hải nói thăm dò:
– Ngoài con Sáu Nguyệt Nga anh Năm còn có đứa nào muốn đi Sài Gòn nữa không? Tụi nầy cũng đang cần người làm.
– Vậy sao? Để tui hỏi thử coi.
Hải vổ vai Năm Trực:
– Như anh Năm đây nếu lên trên đó lập nghiệp tôi nghĩ dễ lắm anh Năm.
– Làm cái giống gì trên đó.
Hải cười to:
– Sao lại không làm được. Đủ nghề , đủ việc cho anh làm thôi mà miễn là anh chịu khó là được rồi.
Năm Trực xuôi theo câu chuyện:
– Đâu anh kể cho tui nghe thử coi tui mần gì được?
– Nói đâu xa, làm phu dưới bến chỗ tụi nầy về cũng đủ kiếm ngày ba bữa cơm rồi.
– Hỏi chơi thôi, nếu mà mình bỏ xứ đi xa người làng sẽ nói mình trốn nợ, mà nói cho cùng chưa quen chuyện đi xa. Cái chuyện bỏ làng bỏ nước ra đi ít người nghĩa đến. Nội cái chuyện đi buôn hàng ghe giang hồ sông nước người ta đã hổng nghĩ tới rồi. Chỉ có ai có chút máu giang hồ mói đi buôn thôi. Hai anh hổng thấy đó sao, có thanh niên nào nghĩ đến cái chuyện bỏ xứ đi hông? Ít có lắm.
Hải nói như ngạc nhiên:
– Kỳ ghê hả anh. Mình nghèo thì mình đi lập nghiệp kiếm ăn chớ có gì đâu mà lo sợ.
– Nói như anh thì dễ quá chừng rồi. Có đi cho lắm thì vác cái nóp, xách cái rựa, cái cuốc vô sâu sâu một chút trong đồng là cao tay lắm rồi đó.
Hải không thắc mắc nữa, y uống cạn ly miệng nhai rau ráu, Triệu nằm trên sạp không yên, ngóc đầu lên hỏi:
– Anh Năm nói như vậy thì cô Nguyệt Nga của anh làm sao dám bỏ làng mà ra đi theo ghe lên Sài Gòn được?
Năm Trực ngừng nhai:
– Cái chuyện con Sáu là chuyện đặc biệt, cái cảnh của nó cái hoàn cảnh chẳng đặng đừng trời bắt vậy xui như vậy thì nó phải chịu thôi. Mà chắc gì nó đã đi.
– Ủa, ngộ chưa. Hồi chiều nói chắc lắm mà?
– Chuyện đời mà, hồi chiều nó nói như vậy nhưng biết đâu đến bây giờ tía má nó cản đản, bạn bè nó nói ra nói vô thì ai mà biết.
Triệu cười cười:
– Tôi hỏi thật anh Năm nghen. Giả dụ như tôi đến hỏi cô Nguyệt Nga đó làm vợ anh nghĩ nhà ông …ông đó ổng đồng ý gả không?
Năm Trực đưa ngón tay móc trong họng cạy trong răng, nghiêng người qua cửa sổ nhỏ phun ra sông. Anh dựa lưng vô vách ván; trả lời:
– Cái này thì khó nói.
– Sao mà khó nói?
– Tại vì nhà ông Sáu đang buồn rầu vì cái chuyện con gái chửa hoang …mà tui cũng đề như vậy thôi chớ không chắc. Mà anh nói thiệt hay nói chơi.
Triệu ngồi lên:
– Nói thiệt đó chớ hổng chơi đâu. Tôi coi cái bộ vó của cô nầy làm ăn phát lắm đó.
Năm Trực la to:
– Ủa, anh làm nghề thầy coi bói hả?
Triệu cười lớn:
– Đâu có. Nhưng tui biết coi giò coi cẳng. Cái tướng cô Sáu đó sau nầy có của chớ không phải chơi đâu à.
Năm Trực cười cầu tài:
– Anh nói nghe như thiệt anh Hai? Đâu anh ra tay coi cho tui một quẻ coi anh hai?

Triệu nhảy thót xuống sàn, ngồi kế bên Năm Trực. Anh lên tiếng:
– Đâu đưa bàn tay ra đây coi” Nam Tả Nữ Hữu”…
Năm Trực day lại đưa hai bàn tay ra phía trước:
– Tả hữu lamø sao? Anh đọc câu thai tui nghe hổng biết gì ráo.
Triệøu ngồi xếp bàn tròn, một tay nắm lấy tay trái của Năm Trực giải thích:
– Nam tả là con trai bàn tay trái. Tả là trái đó.
– Vậy sao? Ai mà biết biết…
Triệu trầm ngâm, chắc lưỡi vừa nói :
– Ừ, cái luật người xưa bày ra như vậy. Bàn tay trái của anh chỉ cho cái bổn mạng….cài gì cũng thế anh à. Cái thuyết tam tài anh có bao giờ nghe chưa?
Năm Trực lắc đầu, Triệu nói tiếp:
– Tam tài là “Trời, Đất, Người” Thiên Địa Nhân …cái bàn tay nhân định là cái này còn cái kia là thiên định…Mà anh có tin hay không tôi mới nói tiếp:
Năm Trực cười chúm chím:
– Anh nói cái gì thì cứ nói chớ biểu tui tin là tin làm sao mới được. Có nói đúng thì tui tin chớ sao hông.
Triệu bỏ bàn tay Năm Trực xuống, y từ tốn như một ông già:
– Cái này khó mà nói lắm anh à. Cái nìêm tin cho con người ta cái lòng tin tưởng vào đấng thiêng liêng, tin trời tin đất. Có tin mới có việc anh Năm ơi.
– Thì anh nói thử cho tui coi đi. Nào giờ tui có biết chuyện này đâu mà biểu tui tin ngang xương như vậy làm sao tui tin. Nói thì nói vậy chớ tui thì tin ông bà, tin Phật Trời Tiên Thánh…có chớ anh Hai.
Triệu co một chưn gát cằm trên đầu gối:
– Nói anh nghe chơi nghen. Cái tướng của anh cho biết tánh anh thẳng thắn, mau miệng, lòng dạ thẳng ngay, cái đầu anh đơn giản. Ghét xu nịnh, trọng nhân nghĩa…còn chuyện làm ăn gia đạo thì lúc nhỏ anh khó nuôi, cái số anh là “Canh Cô Mồ Quả”…mà anh tuổi gì?
Năm Trực nhăn trán, châu mày:
– A…cái này thì tui hông giám chắc…tuổi Sửu Dần gì đó.
Triệu cười hăng hắc:
– Sửu là Sửu mà Dần là Dần chớ sao lại cả hai được…mà còn coi là Tân Sữu, Kỷ Sửu hoặc là Canh Dần, Giáp Dần hay là Mậu Dầu chớ nới như anh thì coi đâu có được.
Năm Trực cười:
– Hồi nãy anh nói anh nhắm cái tướng con Sáu mà anh biết còn bây giờ anh lại hỏi tui tuổi con gì làm sao tui nhớ?
Triệu vỗ hai bàn tay kêu cái bốp cười khà khà:
– À, hồi nãy tui coi là tui coi thoáng qua để nhìn người thôi. Còn anh thì tui phải coi cho kỷ chớ. Nếu anh muốn coi tướng hả…Được! Được! Cái tướng, cái sắc diện của gương mặt anh…
Triệu làm thinh, Năm Trực chăm chú nín thở. Triệu ê a lầu bầu gì trong miệng một hồi.

Chuyện bói toán không phải là chuyện lạ lùng gì đối với người làm ăn buôn bán, con người bình thường hay tin vào thế giới tâm linh, huyền bí ỏ bên kia cửa tử. Niềm tin đó khó phai mờ và nó “di truyền” từ đời này qua đời khác. Năm Trực không bao giờ biết chuyện bói toán nhưng anh tin, niềm tin của Năm Trực xuất phát từ tấm lòng chơn thiệt của anh.
Nắm Trực tâm sự:
– Con người ta sống là nhờ ông bà cha mẹ còn có vong linh đất nước tổ tiên. Mình thọ tứ ân cho nên mình phải biết trả ơn và kính trọng những người khuất mày khuất mặt.
Triệu trầm ngâm như một ông thầy thứ thiệt:
– Chuyện anh Năm nói cũng phải. Tôi nói thật, tôi là người Việt gốc Hoa, gia đình tôi là người Minh Hương, tuy đã lập nghiệp ở đây mấy đời rồi nhưng gia đình giòng họ nhà tôi vẫn không quên tiếng Tàu, con cái anh em nhà tôi đều đi học trường Tàu ở Chợ Lớn và ra buôn bán thì học tiếng Việt. Cái chuyện tướng mạng của con người tôi có nghiên cứu nên có biết chút ít muốn nói để anh nghe chơi.
Năm Trực uống thêm ly rượu nữa, thò tay bốc miếng khô vịt bỏ vô miêng nhai rau ráu. Anh nghe Triệu nói như vậy anh lên tiếng:
– Cậu Hai Triệu nói như vậy thì tui biết vậy, chớ thiệt trong lòng tui thì tui đâu có biết gì đâu mà cậu giảng nghĩa cho mất công. Chỉ muốn nhờ cậu coi thôi mà.
Triệu cười:
– Anh đừng nói như vậy anh Năm à. Cái con người ta ai cũng vậy hết trơn. Khi sinh ra trên cõi đời nầy đều như nhau, đều mang một cái nghiệp từ tiền kiếp, cái tướng của mình cũng chỉ là một phần thôi cho nên tôi mới hỏi anh tuổi gì can chi ngaỳ giờ để coi cho rõ. Nói anh nghe, có Thập Thiên Can và Thập Nhị Địa Chi nó tượng trưng cho cả vũ trụ nầy, còn cái tướng thì trong sách nói “Hữu tướng vô tâm tướng tùng tâm diệt. Hữu tâm vô tướng tướng tự tâm sinh” Cái tâm của con người sinh ra tất cả. Sách có câu “Tâm Bình thế giới bình” là như thế. Nói về tướng pháp, vận mạng của con ngưởi nó cũng uyển chuyển như dòng nước trên sông khó mà biết cho chắc suốt cả một đời. Nhưng dù sao nó cũng có cái căn bản của nó. Ví như tôi nghe trong sách viết …cái tuổi Canh…là canh cô mồ quả…nhằm cái thiên can nầy thì người mang nó thường có số sống gia đình, chết nơi đất khách, cô đơn…Đại khái lá nó không y hệt như nhau một trăm phần, nhưng căn bản thì có. Caí thay đổi là do cái phước tu, cái nhân duyện tác động vô sau nầy. Cái tiên thiên thì nó như vậy như cái hậu thiên nó cũng ảnh hưởng rất nhiều.

Năm Trực cười thành tiếng:
– Mèn ơi, cậu hai nói gì mà tùm lum ai mà nhớ cho nổi. Tui đâu có muốn học nghề đâu mà cậu tính truyền nghề cho tui.
Triệu cười theo:
– Thì thuận miệng nói anh nghe chơi. Mà thôi để tôi nói thế này cho anh rõ. Chuyện một đời người đâu có phải nó nằm trong cái tướng cái số đâu anh. Tỉ như ông Hán Cao Tổ Lưu Bang, cái tường của ổng đâu có tốt trăm phần, nhưng cái thời cái vận cho nên ổng ra quân là phục được ngôi báu. Còn cái ông Quan vân Trường tướng tốt, tâm địa nhân nghĩa thẳng ngay động thấu thiên đình nhưng cũng đâu có giúp được cho Lưu Bị phục quốc. Cái ông Khổng Khâu tài cái thế, nắm vận mạng con ngưòi trong tay ấy thế mà ổng vẫn không thoát được. Cha Tào Tháo gian hùng quá thể mà sao cuối cùng nó tóm thâu thiên hạ…Nói như vậy nó lòng vòng anh Năm nghe lùng bùng con ráy nhưng mà nó đã xảy ra đó anh.
Triệu nói một thôi dài Năm Trực nhóng tai nghe, cuối cùng Triệu dừng lời Năm Triệu nói trờt huớt:
– Ừ, thì cậu Hai đây nói thì tui nghe …nhưng xin cậu thứ lỗi nha. Tui bù hổng nhớ gì ráo trọi. Bây giờ cậu có còn hứng coi tướng cho tui nữa thì tui cũng mất hứng rồi. Thôi thì mình bỏ qua chuyện đó đi để tui còn đi về.
Từ nãy giờ Hải ngồi dựa lưng vách ván hai mắt nhắm lim dim nghe hai người đối đáp, bây giờ y mới mở mắt ra lên tiếng:
– Hai người nói cái gì mà lâu quá là lâu, ăn nhậu thì lo mà ăn nhậu đi cho nó rồi, còn ba cái chuyện của thằng Triệu đó thì tao hổng có hứng mà nghe. Mẹ họ, cuộc đời là bao lăm hơi nói hoài nghe phát mệt. Phải mà có ông thần cầm cân nẩy mực giữ gìn thì đời tao đâu có khổ như vầy, còn đời mầy đâu có mà giang hồ sông nước, cái chành lúa của ông già mầy đâu có phát mãi rồi đi làm cái nghề chở mướn như thế nầy.
Triệu cười:
– Ai không tin thì tùy người. Còn tôi tin thì tui cứ tin. Làm lành lánh dữ được phước.
Hải cười hăng hắc, cười bò ra sàn:
– Chuyện có gì đâu mà mầy cười lăn chiên như vậy?
Hài ngưng cười, anh ta noí:
– Thôi đi ông cụ non. Ông cụ hổng phải là nhà tu đó chớ? Lâu nay ông có từ nan chuyện gì đâu nè.
Triệu có vẻ giận dỗi, anh bước lên sạp ván nằm lăn ra.
– Thôi hai người nhậu tiếp đi. Tôi đi ngủ.
Năm Trực tiếp lời:
– Tui cũng về. Khuya lắm rồi.
Hải nắm tay giử lại.
– Còn cái chuyện con Sáu Nguyệt Nga gì đó anh quyết định thế nào?
Năm Trực suy nghĩ:
– Chuyện đó mai rồi tính, còn bây giờ tui biết sao mà nói với anh. Mai đi, mai tui đưa hai anh lại đằng nhà thằng Sáu Bảnh rồi nói chuyện đó sau. Con Sáu nó có đi hay không tui hổng biết.
– Được rồi. Cứ y hẹn ngaỳ mai nhé. Nhớ là con nước tối là tụi nầy nhổ sào đó anh Hai à.
– Được. Sáng mai tui thả rề rề lại đây rồi mình cùng đi.

Năm Trực đặt chưn lên miếng ván bước lên bờ. Hải xoay qua ngó Triệu, hỏi:
– Sao mầy tính sao? Mầy có chịu con đó không?
Triệu ngó theo bước chơn Năm Trực đặt trên miếng ván, những bước đi rung rinh chiếc ghe. Triệu trầm ngâm một lát:
– Chuyện đâu có dễ dàng như vậy. Buôn bán còn phải ngã giá mới có hàng còn chuyện trai gái đâu phải mình gật đầu là được đâu a.
Hải cười khành khạch:
– Mầy làm như chuyện đi cưới vợ không bằng. Cái thứ đó thì một tiếng là xong chớ gì đó a. Mầy có tiền, con nhỏ đang cần việc, được mầy ngó đến mừng thấy mồ tổ rồi còn gì.
Triệu nói nước đôi:
– Ừ, thì để đó coi sao cái đã.
– Coi bộ con nhỏ được quá chớ hả. Caí giò dài, cái mặt sáng trưng…đúng là gái một con trông mòn con mắt. Hổng nể mầy tao chớp rồi.
Hải và Triệu còn ngồi nhâm nhi vài ba ly nữa mới kêu mấy thằng nhỏ nằm trên mui ghe xuống dọp dẹp.

Năm Trực bước thấp bước cao lầm lủi đi về trong xóm. Con đường mòn loang lỗ ánh trăng non ánh sáng lờ mờ. Năm Trực nhớ con Ba Lụa. Men rượu đã ngấm, không khí hầm hập như đặt quánh vây quanh, Năm Trực cởi trần lấy áo vắt vai vừa đi vừa nghêu ngao. Có tiếng chó sủa râm rang theo buớc chơn. Ngang qua miếng vườn đầu vàm, nhà Sáu Bảnh thấy có ánh sáng leo lắt hắt ra Năm Trực bẻ quặc bước vô sân. Con mực nhảy chồm lên sủa gâu gâu, Năm Trực la chó miệng kêu lớn:
– Thằng Sáu mầy còn thức sao mầy?
Có tiếng Sáu Bảnh vọng ra:
– Ai đó.
– Năm Trực đây. Mầy đang làm gì ở trỏng.
Có bóng người chần vần che ánh sáng trước sân, Sáu Bảnh ở trần trùng trục bước ra:
– Ai ! Anh Năm hả? Đi đâu giác nầy mà tạt ngang qua đây?
Năm Trực bước lên hè đất láng mịn:
– Tao mới ở ngoài vàm về. Mầy đang nói chuyện với ai ở trỏng hả?
– Đâu có, tui đang tính đi ngủ đây. Anh đi đâu ở ngoải. Nhậu với ai vậy?
Năm Trực ném cái áo xuống đất và ngồi xuống nền nhà:
– Tao đi qua nhà con Sáu kiếm thằng anh nó mà hổng gặp thả rề rề ra bến nhậu chơi.
– Ai ngoải?
– Đâu có ai, có chiếc ghe bầu nó ghé mua dưa mà hổng có nên nó chở lúa về Sài Gòn…hai thằng cha chơi được.
– Ai vậy anh Năm?
– Mầy hổng biết đâu. Dân mới mà. Có điều chơi được.
Sáu Bảnh ngồi xuống một bên:
– Nghe hồi chiều nầy con Tư nó biểu anh với mấy người đó ở bên nhà ông Sáu mà?
– Ừ, tao ở bền hồi giác trưa.
– Nghe nói anh chỉ cho con Sáu Nguyệt Nga đi theo ghe thương hồ làm ăn xa hả anh Năm?
Năm Trực tằng hắng:
– Thiệt là mau. Con Tư mới học lại cho mầy nghe chớ gì? Thôi tao đi về ngủ.
– Ủa, chớ anh tạt vô đây chút xíu rồi về liền?
Năm Trực cười:
– Thì đi ngang thấy nhà mày có đèn tao ghé ngang thôi chớ có đâu có chuyện gì đâu…À, chút xíu thì tao quên phứt. Hai thằng đó nó nói mai đi nhậu chơi nói nói kêu mầy đi luôn.
Sáu Bảnh mau mắn:
– Đi thì đi. Mai qua đây kêu tui một tiếng là tui đi liền…ở không làm gì.
Năm Trực lấy cái áo mặc vô để phanh ngực đứng lên đi ra ngỏ. Sáu Bảnh ngó theo lầu bầu:
– Cha Năm nầy bửa nay mắc thằng bố hay sao mà kỳ cục.

Nhà ông Sáu còn đỏ đèn, Nguyệt Nga ngồi im trong buồng gói thẩn thờ thở ra thậm thượt. Vừa nhớ con vừa thương cho thân phận nước mắt muốn trào ra. Nhìn lên tấm vách ván mấy cái áo của đứa con còn mắc trên đó nàng buồn bả cúi đầu. Không biết than thân trách phận hay trách ai đây. Nguyệt Nga co chưn lên chiếc chỏng tre, ôm chặt hai đầu gối ngồi buồn xo. Bên ngoài tiếng ếch nhái kêu vang.

81. Chiếc ghe thuận theo con nước trôi xuôi theo dòng sông cái. Buổi chiều đã xuống từ lâu, những miếng rán vàng, rán đỏ ở chơn trời đã biến mất tự đời nào rồi chỉ còn lại một màu lam lam buồn tẻ. Hai bên bờ có mấy xóm nhà trên các giồng cao thấp thoáng có ánh lửa lập lòe. Bầy chim kéo nhau về ổ bay ngang sông kêu chíu chít. Nguyệt Nga ngồi bó gối trên đầu mũi ghe ngó mông ra vùng sông nước mênh mông trước mặt. Có nhiều chiếc ghe cùng bỏ lái đi về miền xuôi. Càng đi xa chừng nào lòng Nguyệt Nga càng héo hắt theo chừng đó. Mới nửa buổi Hải và Triệu tới nhà ngỏ lời cho Nguyệt Nga quá giang lên Sài Gòn, nàng phân vân qua đổi, ngó mẹ hỏi ý, ông Sáu thở dài nhìn con rầu rỉ chưa biết mở miệng khuyên bảo con điều gì. Ông thở ra từng chặp. Bà vợ ông dòm con một hồi, bà kéo Nguyệt Nga ngồi xuống một bên. Nhỏ nhẹ:
– Cái số hết con ơi. Mầy nghĩ coi nhà mình cứ hết chuyện nầy nó đẻ ra chuyện nọ. Ông già mầy thì càng lúc càng yếu, các anh chị mầy đã ra riêng chỉ còn một mình mầy…
Bà bất chợt lặng thinh, Nguyệt Nga ôm cổ mẹ thút thít:
– Con nửa muốn đi mà nửa còn dùng dằng. Bỏ đi cho nó khuây khỏa quên bớt chuyện buồn, nhưng nghĩ lại chưa biết đất mới thế nào ăn ở làm sao…con lo lắm…
Bà Sáu quệt nước mũi. Bà không khóc mà nước mũi cứ chảy dài.
– Tùy mầy thôi. Chú Năm Trực đây đã giới thiệu cho cái chỗ mần ăn …tao hông biết nói sao. Có bao giờ tao đi đâu mà tao biết. Trăm sự giao cho Trời Phật ngó nghĩ.

Cả nhà loay hoay với chuyện đi ở của con Sáu suốt một buổi chiều đến chập choạng Hải chạy lại. Anh ta thở ồ ồ:
– Cô Sáu có quá giang với tụi nầy hay không để cho biết tụi nầy nhổ sào. Hông đi chưa biết lần tới là bao lâu tụi nầy mới trở lại à.
Nguyệt Nga từ trong bếp chạy ra:
– Í, anh Hải…anh đi hả…tui chưa có dứt khoát…thôi anh đi đi nha…tui cảm ơn.
Hải xụ mặt như bánh tráng nhúng nước:
– Thiệt sao? Hổng đi à. Tui bảo đảm cho mà…đi đi còn chần chờ gì nữa.
Nguyệt Nga nhìn bà Sáu. Day qua Hải:
– Tui cảm ơn anh với lại anh Triệu nghen…tui hổng đi nhưng tui có cái nầy biếu mấy anh đi lên trển nhớ tui.
– Cái gì đó.
– Nguyệt Nga day lưng bước lẹ vô nhà ôm ra một gói lớn gói bằng giấy nhự trình.
– Hổng có gì, mấy con khô sặc…anh nhận cho tui vui.
Hải với vát:
– Hổng đi thiệt hả? Thôi còn bày đặt quà cáp làm gì.
Nguyệt Nga cười lỏn lẻn :
– Tui cảm ơn mấy anh. Bữa nào xuống ghé qua đây chơi.
Hải đưa tay nhận gói giấy, quay người nhìn ông bà Sáu đang ngồi gần đó, Hải chào:
– Tụi tôi cảm ơn hai bác. Chuyến sau tụi nầy sẽ đến thăm. Có chuyện đi lên Sài Gòn nhớ tìm tụi tôi nhé.
Hải quay lưng chạy u một mạch hướng bờ sông. Nguyệt Nga đứng ngó theo nét mặt buồn xo. Bà Sáu kêu con:
– Hay là mầy đi với tụi nó đi. Tao nghĩ kỷ rồi, mầy đã quen đi xa rồi bây giờ rảnh cẳng cũng nên tìm cái chuyện gì đó làm được thì làm.
Nguyệt Nga buổn thỉu, nét mặt âu sầu thấy rõ:
– Đi mần chi má ơi. Cái hồi tui mới lên có trên tỉnh thôi đã nhớ nhà thấy mồ thấy tổ rồi…đi xa quá biết đường nào mà về.
Bà Sáu ngò con chăm chăm một lát bà mới nói trongtiếng thở dài:
– Ừ, mầy nói vậy thời thôi tao hổng dám nói thêm. Cái số mình nó như vậy thì mình chịu vậy chớ biết làm sao.
Ông Sáu ngồi trên phản nói vô:
– Hổng phài tui nói thêm cho bà chớ thiệt là bà nói có phần đúng. Con người ta trời phật sanh ra mình hổng làm gì được đâu bà. Ở hiền thì gặp lành mà tích ác phùng ác mà bà.
Nguyệt Nga ngó cha sửng sờ. Giọng nàng đùng đục như tiếng cơm sôi:
– Ba nó vậy hóa ra tui làm cái chuyện gì ác nhơn thất đức lắm sao ba?
Ông Sáu tóa hỏa:
– Hổng phải đâu con, tía nào mà có nói ác đức cho mầy như vậy đâu cà. Tao nói là nói cái thói thường…Nhưng mà cũng hổng phải là hổng có nhen con. Cái nhơn quả nó không nhỡn tiền thì nó cũng lưu lại từ đời trước đó mầy.
Nguyệt Nga lặng thinh rầu rỉ. Ông Sáu ndòm bà Sáu dàu dàu:
– Hổng phải tui nói xấu con tui nhưng mà tui thuận miệng nói theo sách vở ông bà để lại đó bà.
Bà Sáu ngò con an ủi:
– Đừng co buồn, cái ông già tía mầy hổng phải nói mầy đâu nghen. Nói là nói ba mớ vậy thôi hà.
Bà lảng qua chuyện khác:
– Ừ, tao nhớ ra một chuyện. Sáu à, cái hồi năm nẳm mầy đi với con Tư Nhân hậu con Năm Hương đi châu Đốc mầy có qua núi Tà Lơn hông Sáu.
Nguyệt Nga ngước mặt nhìn mẹ hòi:
– Má hỏi chi vậy? Chuyện đó cầu hơn ba năm rồi.
Bà Sáu ngồi bệp xuống đất, để cái liển trầu ở giữa hai chưn chàng hảng. Bà têm trầu vưà hỏi con:
– Ừ thì thuận miệng hỏi thôi. Tao cũng muốn đi Châu Đốc một chuyến ngày rằm tháng Giêng tới đây.
Ông Sáu vọt miệng:
– Nói tới Châu Đốc, Bảy Núi tui kể cho bà với con Sáu nghe một chuyện.
Bà Sáu ngò chồng:
– Chuyện gì. Có ăn nhậu gì đến chuyện con nhỏ hông?
Ông sáu quên mất chuyện của con gái. Ông lên giọng:
– Tui muốn nói cái đất của mình nó linh thiêng lắm cho nên mầy đời trước Tây nó mới vô chiếm đó bà biết hông. Cái hồi xưa thì thằng Tàu nó qua nó cũng muốn chiếm vì nó muốn chiếm cái đất hàm rồng, cái long mạch. Sau nầy nó coi bề hổng kham nổi nên nó cắt mất, nói cho đúng là nó ếm mất cái long mạch của mình nên mấy đời mình cứ bị nạn hoài chân chúa chưa chịu xuất hiện nên dân mình khổ hoài.
Bá Sáu nhăn mặt cự nực:
– Ông nói cái chuyện gì đâu. Có ăn nhậu gì đến cái núi Tà Lơn cái miệt Châu Đốc đâu cà.
Ông Sáu già muốn gân cổ lên cài thì Nguyệt Nga đã đứng dậy quay quắt bước xuống nhầ bếp. Ông ngò theo im tiếng. Bà Sáu thở dài:
– Tội nghiệp nó.
Ông Sáu kệu con:
– Mấy ra đây ngồi cái đã tao nói chuyện nầy cho mà nghe.
Đang bước mấy bước Nguyệt Nga đứng lại nói trống không:
– Nói chuyện gì nữa đây. Tui hông muốn nghe nữa.
Ông Sáu xuốnggiọng:
– Đừng có buồn, lại đây tao kể hết chuyện nầy.
Nguyệt Nga bước thẳng xuống bếp. Ông Sáu lắc đầu nói với vợ:
– Bà nghĩ coi, tui nói có phải không. Bà đàn bà bà đâu có biết gì. Ở xứ mình có ông Cử Đa nguơi có học đàng hoàng, ông thông thòi vụ ổng bỏ đi tu ổng viết sấm như vầy:
– “Gẫm trong thế sự ngược xuôi
Nghênh ngang một thuở đọa thôi Diêm phù
Sao bằng nnon núi ngao du
Thác chưng địa ngục khỏi tù Diêm la
Đời này nhiều quỷ nhiều ma
Cho nên trời đất khéo mà ngửa nghiêng.”
Đang ngon trớn đọc thơ sấm ông Sáu bổng giựt ngược nghe bà vợ la to:
– Thôi đi ông ơi. Tui đã nói là con nó đang có buồn ông không nói giúp vô cho nó một tiếng để nhó nguôi ngoai ông lại đem ba cái chuyện trên trời mà nói cho người đưới đất thì cũng bù.
Ông Sáu ngó vợ thảm sầu:
– Bà nói sao nghe cũng phải hết trơn. Tui cũng thương nó lắm chớ. Nhung bà nghĩ coi, mình phải biết khi vầy khi khác. Nói cho con nó nghe được chút nào hay chút nấy chớ bà.
Nguyệt Nga từ buồng gói bước ra, ông Sáu già đang ngon trớn nói với vợ:
– Bà ơi, mình đã từng tuổi nầy rồi, già thì chưa già lắm nhưng đã qua cái tuổi xốc nổi buông tuồng. Tui còn nhớ cái câu của cổ nhơn. “Nhứt ẩm nhứt trác giai do tiền định” bà ơi. Cái ăn cái uống hàng ngày mà còn có bàn tay thiên định mà bà. Cái tuổi của tui là “tri thiên mạng”
cho nên tui phải nghĩ. Cái thuở ông bà tui vô lập nghiệp để lại cho tui đôi ba công đất như vầy, tui đã cố lắm rồi, thời trai tráng đã qua rồi bây giờ là phải hiểu “lực bất tòng tâm” tui đã tận nhơn lực rối.
Bà Sáu nhai trầu nghểng ngảng nghe chồng nói mà có biết gì đâu. Bà cứ lắc đầu hoài. Nguyệt Nga ôm một cái tuí nhỏ, bà Sáu dòm con như ý hỏi. Nguyệt Nga ngồi xuống bên mẹ thút thít:
– Má nói tui nghe cũng phải. Tui đã bỏ làng bỏ xứ đi hoang mất mấy năm, nay con cừng cáp tính về mần ăn ai nào dè hổng được thì thôi tui cũng quyết chí ra đi phen nầy nếu mà trới cao có ngó nghĩ tui trở dzìa thăm tía má.
Bà Sáu tá hỏa hòi con:
– Í mèn đét ơi, mầy nói cái ngữ gì mà in như là trăn trối vậy Nga. Mầy nói cái gì tao nghe nó lùng bùng cái lỗ tai.
Nguyệt Nga thủng thỉnh:
– Con nói là con đi lên trển, lên Sài Gòn một chuyết cho biết.
– Ừ, thì đi đi chớ có gì đâu mà mày nói tao nghe hổng thông.
Ông Sáu ngồi ngay ngắn kêu con:
– Sáu hè, tía hổng biết nói cái gì để giup ý cho mầy. Tao với má mầy chỉ biết cầu xin cho mầy tai qua nạn khỏi.
Nguyệt Nga nhìn cha tha thiết:
– Tía à. Hồi nãy tía nói tui nghe thấm thía lắm. Cái hồi tui theo con Tư Nhân Hậu đi qua miệt trên, có ghé qua cái chùa ở trển. Bữa đầu tiên thì coi như hổng gặp. Sau đó tui biết đường tui đi một mình…hồi nãy nghe tía đọc vè đọc sấm tui mới nhớ là tui có nghe qua một lần rồi.
Ông Sáu rót một ly nước nhấp môi. Ông nói chậm rải:
– Nè, tía cũng nói cho con biết. Ở cái đời nầy tía sống đã từng trải. Tuy rằng tía ngu dốt, nhưng cái trường đòi nó cũng đã dạy cho tía đôi ba điều. Nói qua nói lại cũng chung quy là phải cố gắng hết sức lực của mình rồi mới y theo cái số. Con rắn nó bò sát đườt cỏ, dưới đất nhưng nó cũng ngóc cái đầu lên cắn mổ để sanh tồn. Chận cái đầu thì nó quẩy cái đuôi, con trùn đất nó còn ham sống nữa là người ta. Tận trung tận hiếu là cái bản tánh của người mình, tía muốn nhắn con như vậy. Cái đời của tía coi như bỏ chỉ mong cái đời của con nó khá hơn. Có mấy mụn con mà giữ hổng nổi thì còn mong gì nữa đâu con ơi. Cái nhơn đạo cái thiên đạo biết đường đâu mà mò. Giỏi như ông Khổng Minh ai giỏi bằng cũng chỉ giúp cho ông Lưu Bị chia ba nước Tàu rồi thôi chớ có khôi phục được giòng giỏi ngôi báu đâu cà.
Nguyệt Nga nhìn cha thấy ở mắtông như có những tia chớp lên rồi tắt tịt, cái mặt buồn xo cái môi trề xuống cam chịu. Nguyệt Nga thương quá chừng. Có một lần ngồi nói chuyệnvới Tư Nhân Hậu nàng đã nghe qua mấy cái câu vè câu thiệu trong tích xưa rồi lại càng thương cha hơn.
– Tía nói vậy con nghe vậy.
Bà Sáu bây giờ mới nói:
– Tao hổng biết còn còn kịp hông, tao muốn mầy đi qua chùa Phật Đá thắp nén nhang cúng Phật để Phật Tổ gia hộ cho mày.
Nguyệt Nga ngó ra sân, nắng đã qua khỏi ngọn cau đầu ngõ:
– Chắc hổng kịp đâu má. Tui đồ giờnầy phải chạy u một mạch ra bến mới mong chiếc ghe còn ở ngoải. Nước lên từ sáng sớm chắc người ta đã nhổ sào rồi.
Vừa rồi bà Sáu khuyên con nên đi bây giờ thấy con khăn gói muốn đi bà lại tủi thân bà trì kéo:
– Nhắm hổng kịp thời thôi chớ chạy bương ra đó làm gì. Thôi phứt đi, ở lại nhà tao nuôi.
Ông Sáu cũng có ý đó. Ông bỏ chưn xuống đất:
– Tao nghĩ nếu cái số mầy được đi xa thời mầy sẽ được đi. Thôi tao nói như vầy mầy nghe có được hông. Tao với má mầy sắm một quả trái cây đi với mầy ra Phật Đá cúng đi.
Nguyệt Nga ngó ra sân, nhìn lên nóc nhà, day lưng quay đầu ngó qua mấy liếp cải xanh um đang lung linh trong nắng sớm. Những vạt cải nàng đã giúp mẹ bắt sâu vô phân và tưới nước, kế bên cạnh đó một cái chòi nhỏ quây mấy cái ổ rơm cho mấy con gà mái nó nằm ổ. Tất cả chuẩn bị cho cái Tết sắp tới. Nàng chợt buì ngùi, dùng dằng không quyết.
Ông Sáu biểu vợ:
– Thôi để nó ngồi đó còn bà xuống sắm cho tui mâm trái cây, quấy quá gì đó cũng được ông Phật Tổ hổng bắt lỗi bắt phải gì đâu, cốt ở cái tấm lòng. Bà đi mau mau đi.
Bà Sáu nhóng chừng con gái, bà phủi quầnđứng dậy te te chạy xuống bếp xách cái rổ bương ra cửa sau đi. Ông Sáu nhìn con nói:
– Để tía kể cho mầy nghe cái tích chùa Phật Đá. Có biết thì mới có tin.
Ông hớp một miếng nước và bắt đầu kể:
– Trong cái đồng Tháp Mười như mầy biết đó, nó quanh năm nổi nước phèn xanh um, ở chỗ con kinh Bà Bèo bây giờ còn coi được, chớ cái hồi mới vô đây nó còn là rừng rậm. Một hôm có một ông tên Lương dắt trâu vô đồng cho ăn, ở chỗ có cái ao. Bỗng ông thấy một vừng sáng như hào quang chiếu lên từ dưới cái ao. Ông hoảng quá chết sửng. Sau ông định thần lại nhìn thấy từ dưới ao ánh sáng chiếu lên dữ dội và bỗng một hình ông Phật từ dưới ao trồi lên đưa hai cánh tay như níu cái gì ở trên không trung. Ông hoảng quá tính bỏ chạy, nhưng kịp dừng chưn coi kỷ đúng là tượng một ông Phật nổi lơ lững trên mặt nước. Ông bèn kêu tụi chăn trâu quanh đó lại coi. Tụi nhỏ nhao nhao tụ lại. Một đứa đưa ý kiến vớt lên đem về nhà thờ để được phù hộ.
– Đâu có được, của chung mà. Tại sao hổng kêu người trong xóm góp sức xây một kiểng chùa tại đây.
Ông Lương nghe phải bèn hè nhau với lũ chăn trâu vớt tượng lên. Họ thành kính đưa tượng lên bờ. Cái tượng Phật bằng đá xanh, đứng thẳng có bốn tay. Sau đó dân trong xóm góp công góp của xây một kiểng chùa bằng gỗ và lá. Ngày sau có tiếng đồn, có một ông nhà giàu khấn được việc linh ứng cho nên xuất tiền ra xây chùa bằng gạch, cắt cử người lamø ông từ lo việc nhang đèn. Về sau ông từ qua đời không có người coi sóc cho nên bị trộm nó vô nó ăn cắp, phá hư và từ đó hoang phế lần lần. Sau nầy, vào cái thời trào Gia Long các hào phú, Hương chủ, Hương quản mới tu bổ lạicho tới bây giờ.
Nguyệt Nga ngồi nghe cha kể, khi cha dừng nàng thêm vô:
– Có phải tía nói cái chùa Linh Phước Tự ở trong Phước Lộc, Long Định đó không?
Ừ đó đó. Lát nữa chống xuồng vô trỏng cúng.

Khi mọi người trong gia đình ông Sáu 3 người vừa chuẩn bị bước ra khỏi nhà để đi Long Phước Tự thì có tiếng chó sủa ngoài đầu ngõ. Nguyệt Nga ngừng tay nhìn ra đầu sân, có tiếng Tư Nhân Hậu kêu réo :
– Nguyệt Nga ơi ời…mầy có ở trong nhà hông?
Nguyệt Nga bất giác nở một nụ cười và cảm thấy ấm lòng. Trong những lúc như vầy mới thấy được tình nghĩa bạn bè ăn ở với nhau. Nguyệt Nga nói vọng ra ngoài ngõ:
– Tư ơi, vô đây đi.
Tư Nhân Hậu cặp chiếc nón đến đầu hè bỏ xuống bên ngoài và dậm chưn bước vô nhà. Vừa đi vừa cười nói:
– Tao tưởng mầy đi rồi. Tao thấy chiếc ghe còn neo ngoài bến.
Nguyệt Nga ngó bạn:
– Hông, tui hổng đi hết bà ơi. Tui ở nhà với tía má tui cho có bạn.
Tư Nhân Hậu đứng gần bên bạn nói:
– Vậy sao? Cũng đâu có khó gì đâu.
Thấy Nguyệt Nga với vợ chồng ông Sáu cụ bị đệm bàng giỏ xách như chuẩn bị ra đi. Tư Nhân Hậu hỏi:
– Chớ hai bác tính đi đâu đây?
Ông Sáu ngó bà Sáu. Bà vợ lên tiếng:
– Ừ, thì đi Long Phước Tự có chuyện. Ờ, thì đi cầu an cho con Nguyệt Nga đó mà.
Tư Nhân Hậu ánh mắt vui mừng:
– Mèn ơi, như vậy cho tui đi với.
Nguyệt Nga vui vẻ ngó bạn:
– Mầy hổng làm bữa nay hay sao mà rảnh rang vậy?
Nhân Hậu cười tươi tắn:
– Hông. Tưởng đâu mầy đi nên hổng mần chuyện gì ráo. Sáng nay rục rịch nghe chiếc ghe nhổ sào về dưới nên qua thăm mày. Tao tưởng mầy đi rồi chớ.
Nguyệt Nga hai tay để lên vai bạn, mắt nhìn sâu trong mắt:
– Hông. Lúc đầu cũng tính vậy. Đổi ý rồi.
Nhân Hậu nheo mắt ngó bạn cười:
– Cũng được. Mầy đợi chút xíu tao chạy u về nhà rồi trở qua mình đi.
Nguyệt Nga ngó ba má hỏi chừng. Ông bà Sáu gật đầu, Nguyệt Nga day qua Nhân Hậu:
– Thôi để tao đi với mầy luôn một thể. Lát ông bà già tía tao đi qua mình nhập vô luôn rồi xuống lấy xuồng. Con đi trước nha tía má.

Không đợi ông bà Sáu trả lời, Nguyệt Nga đã bưóc ra khỏi cửa sóng bước cùng với Tư Nhân Hậu ra đường. Nhân Hậu nắm tay cặp kè cùng đi qua khoảng vườn bên đầu hồi nhà băng qua ngả tắt về nhà. Vừa đi Nhân Hậu vừa hỏi thăm:
– Từ bữa qua tới giờ có nhiều chuyện xảy ra cho mày phải hông?
Nguyệt Nga nhìn bạn buồn buồn:
– Cũng hổng có gì. Hai cái anh Hải với lại anh Triệu có đến rủ tao đi Sài Gòn. Nhưng mà tao nghĩ mình ở quê mà lên trển chắc gì mần được việc gì…tao thụt lại.
Nhân Hậu kéo bạn nhảy qua cái mương nhỏ, cúi mình chun qua hàng cây. Nàng hòi nhỏ:
– Nghe Năm Trực nói là hai ảnh mần ăn trên Chợ Lớn Bình Đông mà.
Nguyệt Nga ừ:
– Cũng nghe vậy thôi chớ ai mà biết. Mà nói thiệt ra thì tao có biết Chợ Lớn Bình Đông là cái lạch cái mương nào đâu mà nói.
Nhân Hậu rành rọt hơn bạn:
– Từ chỗ mình đây hết một ngày sông thì ra tới Tân An Bến Lức, từ đó chừng vài ba bữa là tới bến Bình Đông. Nó đông vui lắm.
Nguyệt Nga thắc mắc:
– Nhưng mà mình sẽ mần ăn cái giống gì ở trển?
Nhân Hậu kéo bạn đi dọc theo con đường giữa hai hàng cau xanh, xa trong vườn cây mùi nhãn mùi mận thơm lừng. Nàng hít một hơi dài vừa trả lời bạn:
– Làm cái chuyện gì ở trển thì tao hổng biết rành. Caí ngày tao còn ở Tân An có đi qua đó mấy lần nhưng mà còn nhỏ quá hổng nhớ gì hết trơn. Mà mầy có đi đâu mà hỏi chi vậy?
Nguyệt Nga vỗ vai bạn:
– Thì hỏi cho biết hổng được sao?
Nhân Hậu lảng qua chuyện khác:
– Chớ có sự làm sao mà nhà mầy đi cúng ông Phật Đá?
Nguyệt Nga nét mặt vui trở lại:
– Ờ, tía tao thấy tao sao đó nên ổng nói mua nhang đèn hương hoa đến lễ ông Phật Đá cầu an cầu phước.
Nhân Hậu nhướng mày, ánh mắt long lanh sáng rực:
– Ờ, phải đó. Có tin có lành mầy ơi. Cái chùa đó linh lắm đó nha. Qua đó đừng có thề thốt bậy bạ mắc liền hà.
– Tao hổng biết đâu. Nhưng mà như vầy nè. Ba cái chuyện nầy sao tao hổng dứt khoát mầy ơi.
Nhân Hậu day qua ngó bạn:
– Chuyện gì hổng dứt khoát?
Nguyệt Nga nói bâng quơ:
– Thì có cái chuyện gì nữa.
Nhân Hậu đứng lại, day mặt ngón bạn:
– Mầy vẫn còn mang nặng trong lòng mấy cái chuyện cũ chưa quên?
Nguyệt Nga ngồi xuống thân cây ngã bên đường, tay ngắt mấy cái lá dại ở bụi cây gần đó, mắt ngó mông ra cánh đồng trước mặt chỉ còn trơ gốc rạ. Nhân Hậu hòi tiếp:
– Có chuyện gì mầy nói tao nghe?
Nguyệt Nga thở ra:
– Thì đâu có chuyện gì đâu. Tao mà bị chuyện gì nữa thì tao sống sao cho nổi. Bấy nhiêu tao đã chới với thần hồn lìa xác rồi.
Nhân Hậu ngồi xuống bên bạn ngó theo hướng bạn đang nhìn. Cánh đồng sau vụ gặt chỉ còn trơ gốc rạ, buổi sáng còn sớm nhưng đã có nhiều đứa trẻ trong làng chạy ra chơi ngoài đồng. Mùa gặt đã qua, nhà nào nhà nấy chuẩn bị đón tết cho nên làng xóm như vui hơn và người ta gặp nhau dễ dải với nhau hơn. Con mương bề ngang chừng 5 thước nước trong xanh thấy đàn cá nhỏ đang tung tăng đuổi nhau dưới mặt nước. Bên kia bờ con chim bói cá mà xanh óng ánh đang ngồi trên cành cây khô đợi chờ cơ hội. Đàn cá nhỏ vẩn bình yên lượn lờ dưới làn nước trong, đôi mắt con chim bói cá đảo qua liếc lại theo dòng nước. Có tiếng quạt cánh, con chim xanh mướt nhào xuống nước và nhanh chóng quay trở về cành khô gần bờ, trên mỏ đã có một vệt trắng óng ánh giẫy dụa. Mấy căn nhà nằm dọc theo bờ mương có nhà đã nổi lửa nấu cơm, làn khói lam như không muốn rời xa căn nhà nên quyện lại trên mái lá như vương vấn trước khi tan loãng trong không khí. Có tiếng heo kêu đòi ăn trong chuồng, tiếng chó sủa đầu trên vá có tiếng đáp lại ở xóm dưới, tiếng mõ trâu lộc cộc trong chuồng, tất cả tạo nên bức tranh quê đầm ấm thân quen. Nhân Hậu vẫn ngồi im, Nguyệt Nga bứt nắm lá trong tay ra thành từng mảnh nhỏ thả xuống giòng nước và lặng thinh nhìn theo.
Nhân Hậu kéo bạn đứng lên:
– Thôi đi cho kịp hông thôi ông bà già mầy đợi đó. Tao đã nói chuyện gì nó qua rồi thì ráng quên đi.
Nguyệt Nga cười như mếu:
– Thì tao có muốn nhớ nó đâu. Cứ lâu lâu thấy cái gì thì nó bắt nghĩ tới đứa con. Tao nghĩ tội nghiệp cho nó.
Nhân Hậu biết điều đó mà không biết nói sao với bạn. Nàng cố lựa lời:
– Thương con ai lại hổng thương. Nhưng mình đâu có muốn vậy đâu.
Nguyệt Nga lắc đầu:
– Tao cứ nghĩ mà tội nghiệp cho nó. Đã không có ba như người ta, còn mẹ thì đi hoài ở với ngoại dù sao cũng đâu có được như ở với mình. Tới cái tuổi đi học mới tính cho nó ra chợ để được đi học thì nó chết. Mầy nghĩ coi có buồn không? Cái hồi nó mới biết biết nó cứ nói tới ba, rồi nó hỏi ba đâu, tao đâu biết nói làm sao. Mới quên được chuyện đó thì nó chết. Tao chán qua mầy ơi.
Nhân Hậu chỉ còn biết thở dài kéo bạn đi cho mau. Đi gần tới nhà có tiếng ai nói chuyện ở dưới mương vọng lên. Hai người con gái bước mấy bước nữa đến một khoảng trống đã thấy Năm Trực bơi chiếc xuồng ba lá dọc theo mương. Nguyệt Nga kêu lớn:
– Anh Năm đi đâu đó?
Năm Trực đang bơi xuồng nghe kêu ngó lên bớ:
– Ủa, ngộ hông. Sao còn đi ở đây? Hai thằng đó nó đang chạy đi tìm comn Sáu nầy kìa.
Nguyệt Nga hòi lại:
– Tìm tui chi?
Năm Trực ghìm xuồng đứng lại giữa con mương, anh trảû lời:
– Tìm chi! Thì tìm rủ đi Sài Gòn chớ chi.
Nguyệt Nga day lại ngó Nhân Hậu:
– Ủa kỳ hông. Tui đã nói là tui không đi rồi mà.
Năm Trực cười:
– Thì biết đâu. Hai thằng đó nó nói nó chưa nhổ sào bữa nay đâu. Mai nó mới đi lận. Nó đang đi tìm con Sáu đó.
Nguyệt Nga nói:
– Ừ, tui biết rồi. Anh Năm có gặp thẳng cho tui nhắn là tui hổng co đi nữa đâu nha. Bữa nay tui lên chùa Phật Đá.

Năm Trực ừ một tiếng và bơi xuồng đi tiếp. Trên bờ Nguyệt Nga kéo tay Nhân Hậu bước đi. Một lúc sau khi im lặng không ai nói với ai lời nào, Nguyệt Nga lên tiếng:
– Hậu nè. Mầy nói cho tao biết theo như mầy thì mầy có nên bò làng đi hông?
Nhân Hậu im lặng không trả lời. Nguyệt Nga lặng lẽ bước song song với bạn chờ đợi. Không nghe bạn trả lời , Nguyệt Nga nhác lại:
– Hậu à. Mầy có nghe tao nói hông?
Nhân Hậu day đầu lại ngó bạn:
– Có. Tao nghe rồi.
– Mầy nghĩ sao?
Nhân Hậu tằng hắng mấy lượt mới nói:
– Khó quá. Mầy hỏi tao khó quá nên tao tính im luôn.
Nguyệt Nga lại nói:
– Làm sao mà khó. Mầy nghĩ sao thì nói ra chớ có gì đâu mà khó.
Nhân Hậu lắc đầu:
– Hổng phải như mầy nói đâu. Đã nói là tao hổng biết nghĩ sao hết cho nên mới là khó. Không ở trong cái cảnh của mầy thì làm sao mà nói được. Tao có là bạn thân thiết với mầy tao cũng hổng phải là mầy. Rồi tao làm sao có cái cảm giác như mầy đang có mà tao nói? Mầy đau khổ với cái cảnh trái ngang của mầy. Người ngoài ngó vôthì cũng nói vậy thôi chớ làm sao có cái đau đớn như mầy đang chịu? Mà đã không ở trong cái đau khổ như vậy thì làm sao mà khuyên. Nói cho thiệt tình ra thì những điều khuyên hoặc là an ủi chỉ là cái bên ngoài thôi chớ làm sao chia được những cái mầy đang mang nặng trong lòng. Đừng nói đâu xa nghen, nội cái chuyện mầy …mà nè, tao nói trước nhen…lỡ mà tao có nhắc lại chuyện cũ mầy cũng đừng có quá đau khổ nhen?

Nhân Hậu ngừng nói ngó bạn, Nguyệt Nga lặng lẽ đi bên cạnh bạn không nói. Nhân Hậu vẫn bước kế bên Nguyệt Nga, đôi mắt nhìn xuống đôi chân bạn, nàng thấy Nguyệt Nga vừa bước vừa dủi mấy ngón chưn xuống đất, những bước đi không bằng phẳng mà như có cái gì không yên ổn trong lòng. Nhân Hậu biết điều đó. Làm sao mà quên cho được? Một vết cắt nhỏ không để lại trên làn da vết sẹo, nhưng vết cắt lớn chắc chắn sẽ để sẹo. Vết thương trong lòng Nguyệt Nga nó không phải là chuyện bình thường mà ai cũng có thể chịu đựng nổi. Cảnh quê mùa lam lũ, con gái quê và chuyện hát hò tán tỉnh, chuyện yêu thương là chuyện bình thường, và có thể trao thân gửi phận cho người nào mình thích, nhưng đến cái chuyện xảy ra với Nguyệt Nga thì chưa có cô gái nào dám nghĩ đến. Nó to tát quá, nó đáng sợ quá. Nhân Hậu không dám nghĩ đến.

Nguyệt Nga vẫn im lặng đi bên bạn. Nhân Hậu nói nho nhỏ như sợ động đến vết thương vừa kín miệng của Nguyệt Nga:
– Cái chuyện năm xửa năm xưa nói thiệt là tụi mình chưa ai có kinh nghiệm, chưa có ai qua cái ải đó thì làm sao mà nói gì cho được? Làng xóm của mình từ ngày lập làng lập xóm có ai biết cái chuyện đó đâu. Nghe nó là hồi xưa lâu lắm rồi hồi còn ở chung lộn với Thổ thì bị như vậy thì có, nhưng mà sau nầy người mình có làng có xóm thì đâu có chuyện đó nữa đâu. Cướp bóc thường là mấy thằng Thổ, cho nên tao mới nói là không có ai giúp được gì cho mầy hết trơn, hết trọi. Ai ủi mầy cho khuây khỏa vậy thôi. Thời gian. Ừ! Người ta thời gian là liều thuốc chữa mọi bịnh. Mầy ráng đi chớ tao hổng dám có ý kiến gì cho mầy hết trơn. Đi hay ở là do tự ý mầy quyết định, tao có nói cũng là nói theo cái ý của tao thôi chớ tao biết gì về Sài Gòn mà khuyên hả Nguyệt Nga. Nói thì như thể là nói hàng hai ba phải mà thiệt ra nó là như vậy đó mầy ơi. Không ai ở trên cõi đời nầy giúp được mình hết trơn nếu mình không tự giúp mình. Hổng có cái chuyện nào nó giống cái chuyện nào hết trọi mà nói cái nỗi gì. Mầy nghe tao nói gì hông Nguyệt Nga?
Nguyệt Nga nói nho nhỏ:
– Tao nghe. Ừ, tao biết mầy là con bạn chí thiết với tao nên tao mới hỏi. Caí hồi đó mầy dắt tao đi Châu Đốc cũng vì muốn cho tao quên đi cái chuyện buồn. Bậy giờ mầy cũng nói cái lời chí tình…Tao biết rồi. Tao sẽ không buồn nữa đâu. Thôi mình đi cho kịp chắc tía má tao đã đi rồi.

Nhân Hậu ôm chầm bờ vai của Nguyệt Nga, họ siết chặt lấy nhau, hơi ấm hai người bạn chuyền cho nhau, Nguyệt Nga rưng rưng nước mắt. Giọt nước mắt không phải vì buồn thân tủi phận; mà giọt nước mắt vui mừng.

Đi chùa cúng vừa về tới nhà, Hải, Triệu cho người vô nhắn Nguyệt Nga rằng có đi thì ra mà đi. Số là ngày hôm qua chiếc ghe chưa nhổ sào, đến đêm Nguyệt Nga ngồi nghe chuyện từ miệng con bạn thân là Tư Nhân Hậu, cho nên Nguyệt Nga quyết định ra đi.
Con bạn thân chí cốt Tư Nhân Hậu là người có ăn có học, ở chợ Tân An trước kia đi học. Mỗi câu chuyện kể của Nhân hậu càng gợi cho Nguyệt Nga thêm tò mò cho nên Nguyệt Nga quyết địng ra đi. May mắn cho nàng bọn Hài, Triệu chưa nhổ sào vào giác trưa hôm qua cho nên bữa nay cho người vô kêu nàng.

Nguyệt Nga từ hàng bà tất tả đi vô nhà lấy vài ba bộ đồ, đôi dép, mấy món trang sức mua được tuôn vô trong chiếc túi cà ròn mà miệng thì kêu lớn ra ngoài:
– Ừ hai em về nói với mấy ảnh là đợi cho tui một chút xíu tui ra liền rồi đi luôn một thể.
Hai tên Hài và Triệu nghe nói Nguyệg Nga biểu đợi trong bụng đã vui mừng nên hát biều bọn trạo phu chua cắt dây lỏi vội mà hãy để miếng ván dài đợi Nguyệt Nga.
Con Sáu Nguyệt Nga tom gop1 ba cái đồ tế nhuyện vô một tuí xong đâu đó mới bước ra sau vườn keu má:
– Mà ơi…tía với má đâu rồi.
Bà Sáu đang lui cui ngoài vườn trả lời:
– Mầy kêu réo chuyện gì vậy.
Nguyệt Nga nói to vọng ra ngoài vườn:
– Má vô đây tui nói cái nầy.
Bà Sáu không chịu bước vô, bà kêu ngược con gái:
– Thì mầy bước ra đây mà nói nè. Tao lở dở tay ngoài nầy.

Nguyệt Nga bước ra ngoài vườn nói cho mẹ biết quyết định đột ngột vừa mới nẩy sanh trong đầu:
– Tui nghĩ cũng nát nước rồi. Với lại hồi đi chùa xin xâm tui thấy đi lập nghiệp phương xa là tốt. Cho nên bây giờ tui nói với tía má là tui đi.

Tuy rằng Bà Sáu khuyên con nên đi buôn đi bán cho quên chuyện buồn, nhưng khi nghe con đi, bà cũng cảm thấy xót xa trong lòng. Bà đứng im một hồi lâu mới nói:
– Ừa, thì mầy đã quyết thì tía mầy cũng hổng cản mầy… mà chừng nào mầy đi?
Nguyệt Nga thấy mặt mẹ đổi sắc, nàng không dám ngó mặt mẹ, trả lời:
– Tui đi liền.
– Hổng đợi ăn cơm rồi hẵy đi.
– Biết đâu nà. Đi giang ghe người ta mà. Thôi má để tui đi rồi có gì tui biên thư về sau.
Nguyệt Nga không đợi mẹ trả lời nàng đã quay lưng bước lẹ vô trong nhà quơ cái giỏ và ra đi một mạch.

Từ ngày người Việt từ đàng ngoài vô Nam lập nghiệp ở cái đất Sài Gòn, họ đã theo con kinh Rạch Cát đi lần xuống phía nam đến Cần Giuộc, Cần Đước, Soài Rạp hoặc họ cất nhà ở trên giồng cao của con sông Vàm Cỏ hoặc phárừng làm rẩy hoặc ngăn nước mặn làm đất ruộng. Đất Tân An gần Sài Gòn cho nên ngày một thêm đông lấn dần vô trong trong vùng Đồng Tháp Mười như Tân Thạnh , Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tầm Bôn. Thói thường hể đất lành là chim đậu. Đất Tân An ngày một đông vui, đất đai ngày càng mở rộng thêm ra chỉ có một điều là đất Tân An nhiều vùng không có nước ngọt, cái cảnh đổi nước ngọt lấy gạo trên các con rạch Tân Trụ, Bến Lức, Thủ Thừa là những hình ảnh quen thuộc đối với mọi người. Các giồng cao trong Đồng Tháp Mười vẫn còn có chỗ chưa khai thác hết cho nên còn rừng tràm, đước sình lầy nước đọng quanh năm có rất nhiều thú dữ nhiều nơi đường nước còn đi lại khó khăn ở hai đầu nguồn còn sông Vàm Cỏ.

Nằm ở vị trí thuận lợi cho việc giao thông giữa Sài Gòn và miệt lục tỉnh cho nên Tân An trở thành cửa ngõ và đầu mối mọi nguồn buôn bán đường nước trên sông. Thuyền bè muốn đi từ Sài Gòn xuống miệt dưới lục tỉnh phải đi qua Bến Lức, Vũng Gù…đi từ Rạch Cát qua Chợ Đệm, Bình Điền, Bến Lức, Thủ Thừa qua Vàm Cỏ Tây , Rạch Chanh và tới Mỹ Tho.. Các con kinh Trà Cú, Thủ Thừa, Bảo Định trở nên quan trọng trong việc vận chuyển đường sông từ Sài Gòn đến vựa lúa Miền Nam.

Ở Tân Long giáp giới Thuận An, dọc theo sông người ở buôn bán tấp nập đông vui, các ghe thương hồ chở than củi, lác, cà ròn, đệm, lu mái dầm qua lại tấp nập. Ở đoạn sông nầy có Bối Ba Cụm tức Cây Da hay có cướp bóc xảy ra. Đất Tân An nằm ở cửa ngõ Miền Tây Nam Bộ. Từ Tân An đi lần vô Đồng Tháp Mười , hồi xưa có tên là Tầm Phong Long. Cánh đồng nước nổi minh mông nối liền từ Tầm Bôn đến Hà Tiên, từ Ba Thắc đến Long Hồ. Dân mình đến đây tứ xứ khai khẩn để biến cánh đồng nầy thành nơi trù phú. Tuy nhiên cho tớiù bây giờ Đồng Nước Nổi Tháp Mười vẫn còn mang nhiều bí mật. Đất Láng Linh, Bảy Thưa, Núi Ông CẤm, Thất Sơn, rạch Trà Bông, rạch Ông Bường đi liền với công khai phá của Đức Phật Thầy và các đệ tử của Ngài, những tín đồ nhiệt tâm chân thành với tấm lòng vị tha lại tinh thông võ nghệ đã tự nguyện chấp nhận cuộc đời gian khổ đạm bạc, đối diện với hiểm nguy đi trước khai sơn phá thạch. Những tên gọi như Bửu Sơn Kỳ Hương, Quản Thành, Đạo Ngoạn, Đạo Xuyên ở mãi trong những câu chuyện truyền miệng của dân miệt ruộng.

Tân An nổi tiếng với gạo Chợ Đào. Câu nói truyền miệng “Gạo Cần Đước nước Đồng Nai” đã trở thành phong dao tục ngữ. Không phải một sớm một chiều mà gạo Chợ Đào nổi tiếng khắp lục tỉnh.. Các cánh đồng trên đất Tân An có hàng chục loại gạo lúa mùa khác nhau. Không biết từ đâu các loại gạo có chữ nàng đứng đầu: Nàng Tri, Nàng Rừng, Nàng Chồ, Nàng Quất, Nàng Co, Nàng Minh, Nàng Hương , Nàng Rẩy, Nàng Sóc..v.v. Nhưng trên hết thảy có Nàng Thơm ở chợ Đào còn cho đến hôm nay. Chợ Đào là một ngôi chợ nhỏ nằm trên bờ con kinh đào ăn thông với kinh Xóm Bồ chảy qua Mỹ Lệ, Cần Đước. Thời mới vô Nam lập nghiệp, Mỹ Lệ có hàng ngàn mẫu ruộng nhưng riêng gạo nàng Thơm chỉ có vài cuộc đất là chịu được loại gạo nổi tiếng nầy. Trào cộng hòa xã Mỹ Lệ có 3 làng là Vạn Phước, Long Mỹ, và Mỹ Lệ. Gạo Chợ Đào vừa dẽo lại vừa thơm ngon. Hột gạo chợ Đào được phân biệt như vầy. Hột gạo trắng đục, có một hột lựu màu hồng nằm ở giữa. Đó là đăïc điểm của gạo Nàng Thơm chợ Đào. Không ai biết giải thích tại làm sao. Muốn trồng thứ gạo quý nầy phải biết chọn đất, chọn thời vụ và chăm bón rất công phu. Có một điều nó càng quý hiếm vì nó không sanh sản nhiều và năng xuất không cao.

Nguyệt Nga tuy là đứa ít học nhưng nghe nhiều, cái tình yêu trong lòng Nguyệt Nga đối với mảnh đất vườn quê khó mà diễn tả. Cái mối thâm tình gắn liền với con mương, con rạch, với buồng cau cái cộ con trâu. Những đêm trăng đạp lúa trên sân, những lúc xây cây rơm ngoài góc vườn. Bây giờ bỏ ruộng đi theo ghe thương hồ lên tận trên Sài Gòn lập nghiệp. Nguyệt Nga rầu rỉ than thầm:
– Biết có được cái gì hông mà bỏ làng bỏ quê đi xa tít tắp.

Người dân miệt ruộng tuy nghèo nhưng không dám bỏ rẩy bỏ vườn mà đi. Nguyệt Nga chợt nhớ câu hát ví. Câu hát chê đám thanh niên thiếu nữ bỏ làng quê nghèo đi theo ghe thương hồ lên tận Sài Gòn làm phu khuân vát ở các chành lúa gạo trên các bến Bình Đông, Chợ Lớn. Cảnh bao luá nặng trên vai những phu khuân vát chạy bon bon nhún nhảy trên chiếc đòn dài bắt từ bờ ra các ghe bầu chở luá gạo:

“Đừng ham hốt bạc ghe chài,
Cột buồm cao, bao lúa nặng, tấm đòn dài khó đi.”

Bây giờ Nguyệt Nga ngồi đây. Nàng bất chợt thở dài ngao ngán chưa biết số phận ra sao ở ngày mai.

“Cái Răng, Vàm Xáng, Ba Láng, Phong Điền
Có thương em thì cho bạc cho tiền
Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê”

Con gái bỏ làng ra đi nhoi nhói trong lòng Nguyệt Nga từ hồi bước chưn xuống ghe đến bây giờ chưa nguôi.
Đang ngồi bó gối ngó mông ra sông nghỉ quẩn nghĩ quanh thì Hải bước ra nói:
– Cô Sáu sao không vô trong nghĩ cho khỏe còn ngồi bó gối chi đây?

Nguyệt Nga ngó day lại trả lời:
– Ngồi chơi anh. Ngó mông ra sông ra nước cho vui.
Hải bước lại đứng một bên:
– Có gì mà vui. Ở trong có cơm rồi đó. Vô ăn tối với tụi tôi cho luôn một thể.
Nguyệt Nga lắc đầu:
– Tui ăn hồi trưa ở nhà còn no. Hai anh cứ ăn đi.

Hải không chịu đi, bước đến gần hơn và nắm vai đẩy:
– Thôi đứng dậy đi vô ăn cơm. Cái cảnh nầy ngày mai, ngày mốt còn ngó được mà.

Hải vừa đẩy vừa kéo, Nguyệt Nga cực chẳng đả phải đứng dậy bước theo Hài vô trong mui. Bên trong một bữa cơm đã dọn sẵn. Triệu đang ngồi chờ. Thấy nàng bước vô, Triệu nhích qua một bên chỉ tay xuống miếng đòn kê và nói:
– Cô Sáu ngồi đây.
Nguyệt Nga ké né ngồi xuống, chiếc áo bà ba gió bay lên hở trống vùng bụng trắng ngần dưới ánh đèn măng sông. Hải ngồi xuống một bên. Nguyệt Nga ngó quanh hỏi:
– Còn ai nữa hông?
Hải vừa cười vừa so mấy đôi đủa trả lời:
– Đâu có ai. Tôi với nó thôi. Mấy đứa nhỏ nó ăn rồi.
Nguyệt Nga không nói thêm lời nào chỉ ngồi im. Triệu cầm đủa bưng chén đưa cho Nguyệt Nga:
– Thôi ăn đi.
Nguyệt Nga ngần ngại đưa tay đở chén cơm, mùi thơm của gạo Nàng Thơm, chợ Đào phà vô mũi; thứ gạo qúy của Mỹ Lệ bất giác làm cho Nguyệt Nga càng nhớ nhà hơn. Mỹ Lệ là vùng quê ngoại thân yêu của Nguyệt Nga. Hồi nhỏ nàng nghe kể rằng, khi mới sanh ra tía má nàng muốn đặït tên cho nàng là Mỹ Lệ, nhưng không biết vì sao bây giờ tên nàng là Nguyệt Nga. Dù Nguyệt Nga hay Mỹ Lệ cuộc đời cô gái quê vẫn ba đào trôi nỗi tha hương.

Triệu và cơm nhai lồm nhồm trong miệng. Hải ngồi một bên rót một chung rượu đưa cho Nguyệt Nga;
– Cô dùng một chút cho ấm bụng nhé?
Nguyệt Nga lắc đầu:
– Tui hông biết uống rượu.
Hải nài ép:
– Hổng có sao đâu. Đây không phải là rượu thường. Nó là rượu thuốc ngâm uống vô chống nước, chống bịnh ngã nước, lạ nước đó mà.
Nguyệt Nga một mực từ chối. Hải không ép, để ly rượu xuống trước mặt nàng và nói:
– Không nhiều thì nhấm một chút cho ấm thôi. Tôi để đó phần cô đó.
Hải cầm đủa ăn cơm. Nguyệt Nga ngó chén cơm trong tay im lặng chưa ăn. Còn bụng dạ nào mà ăn cho đành trong khi trong lòng còn ngổn ngang trăm mối. Đến giữa bữa ăn, Hải nài ép nhiều lần, Nguyệt Nga vị nể đưa ly rượu nhấm môi. Chất rượu cay cay ngòn ngọt thơm muì thuốc Bắc thầm qua môi vô đầu luỡi. Hải ngó nàng cười:
– Không sao đâu mà. Một chút cho dễ ngủ. Nếu cô chưa từng đi ghe đường xa cũng nên có một chút cho dễ ngủ. Hơn nữa muỗi ghê lắm, không có mùi rượu nó dám khiêng cô ném xuống sông đa.

Nguyệt Nga đâu có lạ gì muỗi mòng và sông nước. Nhưng thiệt ra thì nàng chưa lần nào đi ghe xa như vầy. Chiếc ghe bầu to dềnh dàng như vậy mà ở giữa sông Tiền cũng còn nhỏ rí như chiếc võng đong đưa. Nguyệt Nga nhai cơm. Chút rượu thấm vô đầu lưỡi làm cho hai má đỏ hồng dưới ánh đèn. Vừa nhớ nhà, vừa mệt vì một ngày đi xa hai mắt nàng như muốn nhắm lại. Tiéng nước vỗ ở đầu mũi ghe, và hai bên lườn ghe như một điệu nhạc đều đều làm nàng càng buồn ngủ hơn. Aên vừa hết chén cơm thứ nhứt, nàng đã bỏ đủa xin thôi. Hai thanh niên vừa ăn cơm vừa hỏi chuyện. Nàng nghe tiếng được tiếng mất.

Cuộc đời của Nguyệt Nga chưa có được một ngày nào vui vẻ hạnh phúc. Tuổi đời vừa mới tròn trăng đã bị tai nạn không chồng mà chửa. Người đời có nói “Không chồng mà chửa mới ngoan, có chồng mà chửa thế gian sự thường.” Không biết ai đã nói ra cái câu như vậy, nhưng với Nguyệt Nga ở cái tuổi vừa mới lớn nó trở thành câu nói mĩa mai xỉa xói vô tim gan, vô tận những ngóc ngách của con tim chưa biết rung động vì tình. Trai gái chốn quê mùa dân giả có bao giờ có những rung động lâm ly như vậy. Nguyệt Nga chưa từng biết mơ mộng là gì, nàngcũng chưa một lần rung độn trước những lời tán tỉnh thô kệch quê mùa của đám thanh niên trai tráng trong làng. Có một lần con bạn thân là Tư Hậu nói nói tỉ tê những tình cảm lâm ly tiểu thuyết cho Nguyệt Nga nghe. Những mối tình trai gái có làm xôn xao cõi lòng cô con gái nhà quê. Nguyệt có mộng có mơ, có những chiều sau khi đi làm đồng về, Nguyệt Nga có ngẩn ngơ thả hồn lảng đảng theo tiếng chim vịt kêu chiều, nghe tiếng con bìm bịp kêu nước lớn nước ròng…bấy nhiêu rồi thôi, thì đùng một cái nàng lâm vô cảnh “không chồng mà chửa mới ngoan” Ê chề! Nhục nhả! Đau đớn! Nguyệt Nga ra đi cho đến một ngày con lớn đem về nhà ngoại …Nguyệt Nga không nghĩ ngợi tiếp; tiếng sóng vẫn phập phồng phòm phọp bên be thuyền, hai thanh nhiên đang ngất ngưỡng bên mâm cơm trên sạp ván. Buổi chiều xuống thấp, mấy miếng ráng vàng ở chơn trời, vàng vàng lốm đốm như cơm cháy trong đáy nồi, loãng ra và nhập lại nhiều hình thù kỳ dị múa may trước mắt nàng. Chuyến đi nầy kể như đi biệt không có ngày trở về. Không biết từ ngõ ngách nào trong lòng nàng nổi lê ý nghĩ chia ly kỳ lạ đó. Đã bao giờ Nguyệt Nga đi như vầy đâu? Đi đến một nơi không biết và đã ra đi không biết lối quay về.
“Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.”

Đi từ đầu nguồn con sông Vàm Cỏ xuống chợ Tân An, quay qua chợ Mỹ Tho ngã ba Tham Lương bến sông trước cồn Phụng vòng lại sông Tiền đi về Đồng Tháp mà đã xa là qua xa rồi. Ngày xưa con gái đi từ U Minh Thượng qua đến U Minh Hạ là coi như đi biệt không biết đường về. Bây giờ nàng còn đi xa hơn nữa. Con đường sông quanh quẹo biết mấy ngày mới đến chốn thị thành? Nguyệt Nga vuốt lại mái tóc dài bay tung trong gió, sữa lại vạt áo bà ba mà hồng phấn. Chiếc áo màu hống phấn dễ thương ông Sáu mua cho con gái trong dịp tết năm nào bây giờ đem ra mặc cũng vừa vặn khít khao. Chiếc áo bà ba ôm tròn tấm thân “mòn con mắt” của nàng, nâng cao hai gò ngực phập hồng như hai ngọn hỏa diệm sơn dưới làn áo mõng. Nguyệt Nga ngó quanh mặt đỏ rần rần. Hai mươi tuổi đã có một lần sanh nở nhưng chưa lần nào biết hơi ấm của tình yêu. Nguyệt Nga có cảm giác rạo rực xuân thì nhảy lăn tăn dưới làn áo mõng. Khe khẻ rùng mình, nàng không biết vì gió lạnh hay tại vì một lý do thầm kín nào khác. Suy nghĩ mông lung chạy quanh dưới làn da, và những mạch máu nhỏ chảy rậm rật dưới làm da như con trâu cổ lồng lộn băng băng trên cánh đồng trống sau mùa gặt. Nó mặc sức phóng như bay rồi chạy vòng quanh đám trâu đang ngơ ngác chống sừng lên ngóng.
Nguyệt Nga len lén, nhè nhẹ đứng lên đi vô trong khoang ngồi xuống dựa lưng vô vách ván hai mắt lim dim muốn ngủ. Gió vẫn lay động bên ngoài

Nguyệt Nga đang nằm lim dim con mắt nàng ngũ lúc nào không hay, trong cơn mơ nàng thấy ăn nằm với người mình thương yêu. Hai người thề non hẹn biển như trong tuồng hát bóng, cải lương. Người yêu củ anàng là một thanh niên đẹp trai, cao ráo, có mái tóc bồng bềnh, có giọng nói ngọt ngào du dương êm ái như tiếng đàn nhị, đàm kìm…Bên tài nàng có tiếng chàng thủ thỉ, chàng đưa nàng ra bến vắng bên sông, hai người lên một chiếc xuồng to lớn đang chòng chành trên sóng, ánh sáng lờ mờ trong khoang của chiếc ghe thiệt trử tình và gợi cảm. Chàng đã dìu nàng nằm xuống và hôn hít nàng khắp chỗ. Nguyệt Nga rợn người, khắp mình nổi gai khoái cảm, chiếc áo bà ba màu hồng phấn bựt hàng nút bóp tự lúc nào mà nàng cũng không hay không biết; chiếc cằm lún phún mấy cộng râu ngắn cọ quẹt trên tấm ngực trần, nàng vặn vẹo tấm thân tròn lẳng cười rúc rích. Nguyệt Nga có cảm giác lạ bởi giọng cười của chính nàng. Người nàng đang được ôm ấp trong một vòng tay rắn chắc và những âu yếm nàng chưa bao giờ có trước đây. Tự trong cổ họng nàng phát ra những tiếng rên không kiềm chế nổi. Bàn tay người tình trong một đưa lần xuống phẩn bụng và nhè nhẹ tuột lần lần chiếc quần lãnh Mỹ-A xuống thấp. Nguyệt Nga không biết mình đang mơ hay tỉnh, cảm giác của nàng bồng bềnh nửa thiệt nửa hư. Nàng bỗng mở choàng đôi mắt, ngơ ngác ngó quanh. Nàng không nằm mơ, những cảm giác nàng cứ tưởng trong một giấc mơ đang xảy ra trước mắt nàng. Nguyệt Nga không tin ở chính mình khi biết có một tấm thân trần truồng đang đè nặng trên thân thể nàng. Người đàn ông ham hố hôn hít khắp thân thể nàng, mùi rượu xông lên nồng nặc. Nguyệt Nga ú ớ la , tiếng người đàn ông phì phò bên tai, nàng biết Hải đang ở trên người nàng.
– Em nằm im đi…cho anh đi nha…anh yêu em.
Nguyệt Nga giẩy giụa:
– Không…anh bỏ tui ta không tui la lên bây giờ.
Giọng Hải năn nỉ:
– Được mà….được mà, cho anh một chút thôi…chiều anh một chút thôi…anh thương em.
Vừa nói Hải vừa đùng ngón chưn của y cố đẩy chiếc quần của Nguyệt Nga xuống thấp. Nàng chống cự quyết liệt, một tay đẩy y ra, tay kia nắm chặt chiếc quần không cho y tiến xa hơn nữa. Bao nhiêu cảm giác rạo rực biến mất và thay vô đó lànổi lo sợ và cảm giác uất ức trào lên cổ. Hải thô bạo ghì chặt tấm thân nàng và ép chặt nàng xuống sàn thuyền. Đêm có lẽ đã qua khuya, bốn bề im phăng phắc, chỉ còn nghe tiếng nước vỗ và gió thổi ồn ồ ngoài cánh cửa gổ. Nguyệt Nga thất thế, sau một hồi chòi đạp, thấm mệt, nàng nghẹn ngào xuống nước:
– Anh Hải …anh thả em ra đi. Thương gì mà kỳ cục vậy anh ơi. Tha cho em đi mà anh ơi.
Hải cũng thấm mệt nhưng chưa chịu thả nàng ra. Y thở phì phò:
– Anh thương em thật mà. Anh thương em mà. Cho anh đi.
Nguyệt Nga bình tỉnh nằm im. Nàng nói:
– Anh nói thương mà anh đè ẩu em như vầy sao? Đừng mà…người ta thấy chắc em chết.
Hải cũng nhỏ nhẹ, y ngừng tay không thô bạo như trước nhưng vẫn vuốt ve mơn trớn:
– Anh không thường em làm sao anh ăn nằm được với em. Bây giờ tụi nó ngủ hết rồi…cho anh đi nhé…anh sẽ cưới em làm vợ:
Nguyệt Nga bình tỉnh hơn, nàng hết còn lo sợ rối trí như trước:
– Đàn ông các anh nói không thiệt chút nào…ai mà tin cho nổi.
Hải thề thốt:
– Anh nói thiệt mà.
Nguyệt Nga nghiên đầu qua một bên tránh cái hôn của y. Nàng dỗ dành:
– Nếu thương thiệt thì bỏ tay ra cho em ngồi lên cái đả. Chuyện này….nay mai cũng được mà.
Hải một hai năn nỉ, Nguyệt Nga một mực chối từ. Cuối cùng biết không thể làm hổn được, Hải tiếc rẻ chống tay ngồi dậy dựa lưng vô vách ván. Nguyệt Nga hú hồn lồm cồm bò dậy gài nút áo và rút sát vô trong góc thuyền. Hải đánh lửa đốt thuốc. Y nhìn Nguyệt Nga chăm chăm. Y nói:
– Em lại đây ngồi bên anh đây nè. Anh nói chuyện này cho em nghe.
Nguyệt Nga không nhích nhíc, nàng nói nho nhỏ:
– Thì có chuyện gì anh cứ nói đi, tui ngồi ở đây tui nghe cũng được mà.
Hải ném điếu thuốc đang hút qua cửa sổ nhỏ rớt xuống sông, y bò qua phía Nguyệt Nga đang ngồi. Nàng khôngbiết tránh vô ngõ nào nên đành ngồi im co rút hai đồi gối sát lên ngực. Hải ngồi sát một bên choàng tay qua cổ nàng, Nguyệt Nga nhẹ nhàng gở tay y ra. Nàng cố giữ cho giọng nói nhẹ nhàng và bình tỉnh:
– Anh…anh đừng làm … người ta thấy.
Hải lắc đầu:
– Không có ai đâu.
– Nhưng mà em hông muốn mà.
– Em còn giữ kẻ gì nữa, đâu phải còn con gái đâu mà em sợ.
Nguyệt Nga trợn tròn đôi mắt, nàng mở miệng không nói nên lời. Có một luồng hơi nóng tử dưới ngực trào ngược lên cổ, nàng có cảm giác muốn ói. Mặt đỏ rần như người uống rượu, hai bàn tay nắm chặt mà vẫn không kèm giữ nổi cơn run. Nguyệt Nga bò vội vàng qua bên phía cửa sổ, thò đầu ra ngoài và nôn ọe. Quay trở vô nằng nằm vật xuống sàn thuyền, hai giòng nước mắt trào ra hai bên khóe. Hải biết mình lỡ lời nên im bặt. Nàng để mặc cho nước mát tuôn trào, từng tiếng nấc uất nghẹn trào ra. Nguyệt Nga khóc thút thít.
– Trơi ơi là trời…
Nàng muốn phóng mình qua của sổ nhảy đại xuống sông, nhưng kịp ghìm lại. Nàng khóc tức tưởi, những giọt nước mắt tuôn trào vẫn không trôi được nỗi thống khổ đang đầy ứ ở trong lòng. Nàng chỉ còn biết kêu trời.

Bên ngoài trời đã rựng sáng, Hải đã bỏ ra ngoài từ lúc nào. Nguyệt Nga kéo tấm chiếc dắp ngang lên tới ngực và nằm im. Không biết nàng khóc đã bao lâu. Cơ thể nàng ê ẩm, đầu óc đăïc sệt nhức nhối. Miệng đắng, môi khô. Nàng có cảm giác như vừa trải qua một cơn bạo bịnh.
– Ừ y ta nói đúng mà. Mình đâu còn là con gái nữa đâu…Trời ơi là trời.
Nàng im lặng một chặp và suy nghĩ tiếp:
– Không còn là con gái thì làm sao? Đâu có phải ai muốn ăn nằm làm gì cũng được hay sao? Hứ.

Nguyệt Nga vừa thương cho mình vừa tức cho mình, sao lại quyết định đi giang ghe lên đây làm gì để cho người ta khinh dễ, coi thường. Nước mắt lại ứa ra. Nguyệt Nga không còn thiết tha gì đến chuyện gì nữa. Những ý nghĩ tự tự lỡn vỡn trong đầu. Chỉ cần nhảy đại ra cửa sổ nhỏ kia là nàng sẽ giủ sạch được nợ đời. Rồi mẹ, rồi đứa con, những cảnh đời lần lược hiện ra từng cảnh một như cuốn phim chạy chậm trong óc. Nguyệt Nga nhắm chặt đôi mắt, cố xua đuổi những ý nghĩ về qua khứ đang hiện ra trong trí nàng.
Ngồi dựa lưng vô vách ván vừa tức tưởi vừa khổ đau, nàng thiếp đi từ hồi nào không biết. Trong giấc ngủ chập chờn, Nguyệt Nga thấy mình đang đi giữa một khu vườn đầy hoa vạn thọ, hoa cúc …tất cả một màu vàng hực hở vây quanh nàng. Nguyệt Nga tung tăng nhảy chưn sáo qua từng luống hoa mơn mởn còn đọng nước. Nàng cúi xuống giơ tay nâng một nhành hoa vạn thọ, những những cánh hoa nhỏ mum múp ốp sát bên nhau he hé những giọt long lanh, ánh nắng rọi nhấp nháy trên những giọt nước làm bảy sắc cầu vồng. Nguyệt Nga tiếp tục bước những bước thong dong đi hết luống hoa nầy qua đến luống hoa khác, mùi vạn thọ thiệt kỳ. Nàng lẩm bẩm:
– Ngộ ghê , bông vạn thọ có mùi thơm? Hay là hoa cúc vàng?
Một mùi hương thoang thoảng bay vô mũi, Nguyệt Nga lấy làm kỳ, tưừ nào tới giờ hoa vạn thọ, hoa cúc đâu có mùi hương. Nàng ngó quanh, đâu có loại bông nào khác ngoài cúc với vạn thọ. Tiếp tục bước và tiếp tục ngất ngây trong mùi hương thơm chung quanh. Đến cuối một luống hoa, nàng thoáng thấy một cái bóng in tuồng như có người đang ngồi. Nàng lên tiếng chào:
– Chào Dì. Dì đang tưới nước đó hả.
Cái bóng đen ngồi khuất bên một khóm vạn thọ bông to, cành lá xum xuê. Chắc người ta chưa nghe. Nàng lẩm bẩm và đi gần hơn nữa. Đứng sau lưng người đàn bà, mà nàng nghĩ là chủ vườn. Nguyệt Nga lên tiếng chào:
– Thưa Dì.
Vẫn im lặng. Hoi nhíu cặp chân mày, Nguyệt Nga tằng hắng, nói to hơn:
– Dì ơi cho cháu hỏi chút.
Người đàn bà day lại, sém chút nữa nàng bật ngửa té lăn cù ra đất. Người ngồi ở đó là …con bạn thân thiết của nàng. Tư Nhân Hậu. Nguyệt Nga định thần ngó kỷ.
– Đúng là mầy rồi. Ủa mầy làm gì ngoài nầy? Mầy lên liếp trồng bông thọ hồi nào tao hổng hay.
Tư Nhân Hậu vẫn ngó nàng chăm chú nhưng không trả lời. Nguyệt Nga ngồi xuống bên cạnh, giơ tay ngắt một bông cúc đư a vô miệng cắn, liếm môi lầu bầu:
– Rõ ràng là con Tư Hậu mà. Mầy làm gì mà ngồi im ru vậy Tư Hậu?
Vẫn không có tiếng trả lời. Nguyệt gio tay vỗ vai:
– Nè Hậu! Mầy có nghe tao nói gì hông mậy?
Hoảng hốt! Thất kinh!…”con Tư Hậu” bỗng nhích xê ra làm nàng vỗ hụt. Nàng bất chợt cười thành tiếng, chồm tay tới vỗ mạnh vô lưng bạn:
– Mầy đừng có nhát ma tao nữa à nghen. Đang buồn thúi ruột nè mà mầy còn giõn nữa.
Cái bóng người nhích tới làm nàng hụt, chới với và té nhào tới trước, ngã lăn đùng vô luống hoa. Có tiếng đàn ông:
– Cô ngủ ở đây suốt đêm hà cô Sáu?
Nguyệt Nga mở choàng đôi mắt. Triệu đang đứng trước mặt nàng, chăm chú nhìn nàng và lặp lại câu hỏi:
– Sao hông vô trong khoang trong mà ngủ?
Đến lúc nầy Nguyệt Nga mới hoàn hồn. Nàng bối rối vuốt mái tóc rối , sửa lại vạt áo, lí nhí trả lời.
– Xin lỗi cậu Hai, tại tui ngủ quên.
Triệu chép miệng:
– Khổ chưa…chớ hồi khuya cô đi đâu mất tiêu. Khi tôi ăn cơm xong ngó quanh cô đâu mất hà. Tôi cũng mệt quá nên bò vô khoang ngủ khò không biết trời trăng gì hết trơn.
Nguyệt Nga đư ahai bàn tay chà chà hai bên màn tang cho tỉnh táo, và nói:
– Dạ.
Triệu dợm bước ra ngoài, bỗng ngoái đầu, cất tiếng hòi:
– Cô thấy thằng Hải đâu không? Hồi tối chắc tui say quá cho nên tui không biết nó ngủ ở đâu.
Nguyệt Nga lắc đầu, bụng rủa thầm:
– Ngủ ở đâu! Cậu có thiệt là hổng biết chuyện gì hông!
Triệu vẫn vô tình bước ra ngoài nói nhắn lại:
– Nuớc ngọt ở ngoài khoang sau, vệ sinh gì đi rồi lên mui ăn cơm. Sắp tới rồi, chừng vài giờ đồng hồ nữa là tới Bình Đông rồi.
Nguyệt Nga ngồi im không nói. Triệu bước ra ngoài. Có tiếng Hải nói:
– Hồi tối mầy say quá, mầy đâu có biết gì đâu.
Tiếng Triệu:
– Biết gì?
Tiếng Hải:
– Thì tao nói vậy thôi chớ đâu có gì.
– Tới đâu rồi?
– Qua khỏi Tân An rồi.
Nguyệt Nga không lắng tai nghe nữa, nàng bò dọc theo khoang trong và luồn ra cửa đi về phía sau. Vừa ngồi súc miệng đàng lái, nàng vừa nghĩ đủ chuyện. Thì ra vừa rồi nàng ngủ nằm mơ thấy bạn là Nhân Hậu. Vốn thích màu vàng nên trong mơ nàng thấy toàn bông cúc với vạn thọ. Nghĩ tới Nhân Hậu càng buồn hơn.

Cây cối hai bên bờ chạy thụt lùi, một câu kệ nàng đã nghe ở đâu đó bỗng hiện ra trong trí.
“Tuy thân ở cỏi ta bà
Mà tâm linh đã thoát ra cửa phiền.
Từ vô thỉ nhân duyên cấu kết,
Tuồng ảo hóa diễn hết mới xong.”
Có thể đó là câu kệ hồi mấy năm về trước khi theo Tư Hậu đi Châu Đốc và một bà thầy tu tiên đã nói với nàng. Bà còn nói cái số của nàng mang nặng nghiệp chướng oan khiên phải chịu nhiều sầu bi trước khi được sung sướng. Không biết sao bây giờ câu kệ hiện lên trong trí! Thần thờ, Nguyệt Nga cầm cái gáo múc nước trên tay bất động. Gió thổi hây hây, chiếc thuyền chở khẳm nên đằm, Nguyệt Nga vẫn bất động. Có tiếng nói nho nhỏ đàng sau lưng:
– Chị ơi cho em lấy nước nấu cơm.
Nguyệt Nga giựt mình, day lưng lại. Thằng nhỏ phụ trên ghe đang cầm nồi đứng đàng sau:
– Ô ! Chị quên…cho chị xin lỗi nha.
Thằng nhỏ cười tươi tắn:
– Hổng sao đâu. Chị xong chưa? Anh Triệu hỏi chị ở trỏng cà.
Không biết sao, tự nhiên Nguyệt Nga mắc cở đỏ mặt. Nàng luống cuống:
– Ừ, xong rồi nè.
Đưa cái gáo dừa cho thằng nhỏ, nàng lò dò đi vô trong. Triệu đã bước ra tới nơi.
– Cô Sáu ở ngoài nầy mà tôi đi tìm đàng trước. Khoẻ chưa?
Nguyệt Nga lí nhí:
– Khoẻ. Cậu tìm tui có gì hông?
Triệu cười:
– Không có chuyện chi. Thấy vắng thì hỏi thôi.
Triệu cười và nói tiếp:
– Chỉ sợ cô không quen rồi …lỡ mà rớt xuống sông thì tôi phải ở tù.
Nguyệt Nga lẩm bẩm “Rớt xuống sông. Phải chi mà được rớt xuống sông thì đỡ nhục.” Đầu thì suy nghĩ như vậy mà miệng thì nàng trả lời:
– Cậu coi tui như con nít hổng bằng.
Triệu cười:
– Đâu có cô Sáu. Tôi nói thiệt đó mà. Có một bận tôi đi trên Hậu Giang, hôm đó ban đêm lại có mưa giông cho nên có một người rờt xuống sông, may mà ngưòi ta biết lội.
Nguyệt Nga thấy mắc cười, hỏi:
– Vậy sao?
Triệu gật đầu, bước né qua một bên cho Nguyệt Nga đi qua.
– Thiệt chớ ai nói dốc làm gì.
Hai người im bặt, nàng bước nép qua một bên đi vô khoang. Triệu day lưng bước theo:
– Cô lên Sài Gòn có tính gì chưa?
Nguyệt Nga ngồi ghé xuống sàn ghe và nói:
– Tính gì? Tui có tính đi đâu mà tính. Mà nói thiệt cậu nghe, tui có quen ai ở trển đâu mà tính chớ.
Triệu bước lại ngồi kế một bên:
– Nếu mà Sáu không chê thì về làm cho tôi.
Nguyệt Nga bị bất ngờ. Nàng thiệt thà:
– Làm gì? Tui chưa biết làm gì hết trơn.
Triệu bật lửa chânm thuốc hút. Nhả khói mù mịt trong khoang. Hít mấy hơi liên tiếp, Triệu mới nói:
– Thì có gì làm nấy. Dễ mà.
Nguyệt Nga ngần ngừ:
– Tui cũng nghe anh Năm Trực nói sơ qua về cậu Hai…nhưng mà tui hổng biết làm gì hết. Nào tới giờ mần ruộng hông à.
Triệu nhìn thẳng vô mắt nàng thăm dò:
– Chớ sao tôi nghe anh Năm Trực nói là cô đi buôn bán gì ở trên chợ đó mà.
Nguyệt Nga mờ ớ:
– Ừ, thì cũng có ở chợ một chặp…nhưng toàn là theo người ta thôi.
Triệu đắn đo lời nói:
– Nói thiệt Sáu nghe nhé. Nếu mà không chê, không sợ cực…tôi sẽ có việc cho Sáu làm.
NguyệtNga để ý thấy Triệu đã đổi giọng xưng hô. Trong giọng nói có chút lưu tâm đến nàng. Nguyệt Nga cảm thấy ấm áp. Đã từ lâu lắm, có lẽ từ ngày còn con gái, nàng chưa bao giờ nghe được một giọng nói ngọt ngào trầm ấm như vậy. Nàng xúc động.
Chiếc ghe đang qua một khúc sông rộng, hai bên nhà cửa vườn ruộng xum suê, Triệu im lặng nhìn Nguyệt Nga, gió thồi rì rào, nằng đã lên cao quá một con sào. Giòng nước trong xanh thấy đáy. Nguyệt Nga ngồi im ngó mông ra sông nhớ nhà…Con sông Cổ Chiên, đoạn chạy ngang qua chợ Vĩnh Long, bề ngang rộng gần một cây số ngàn, đối với Nguyệt Nga thời thơ ấu là biển cả mênh mông, những buổi sáng nươc lên càng mêng mông, đứng từ cồn ngó qua chợ Vĩnh Long mù mù trong sương. Mỗi buổi sáng, mỗi buổi chiều, Nguyệt Nga thường ra khoảng sân sau nhà ngó qua chợ và lòng mơ ước được có một lần qua bên đó. Tuổi thơ của nàng quanh quẩn trong miếng vườn đầu doi, không được đi học, phải ở nhà giữa em cho người lớn đi làm. Con lạch nhỏ chạy ngang đầu vườn bắt từ sông Cổ Chiên và nơi đó Nguyệt Nga lớn lên với đám bạn nhỏ èo uột, bụng lớn da đen nghẻm lội sông như rái cá leo cây như khỉ. Tuổi lớn lần, và đôi lần Nguyệt Nga có những cảm giác khác lạ từ trong tấm thân tròn lẳng tuổi 13. Có nhũng đêm trăng, những buổi chiều mặt trời lặn bên kia nóc chợ ngói đỏ, nàng mơ ước bâng quơ . Rồi theo gia đình bỏ làng,bỏ khu vườn mơ ước dời về sâu trong đồng. Đám bạn nhỏ bây giờ là đám thanh niên trai tráng lực điền. Cảnh có khác, người có khác nhưng ước mơ không khác. Những đêm trăng bên cộ lúa, bên góc vướn, đầu sông cuối lạch, theo Tư Hậu, Ba Lụa, Năm Trực, Sáu Bảnh hó hát chọc ghẹo…Nhưng chưa một lần nào nàng được nghe những lời nói ngọt ngào tỏ dấu hiệu lưu ý đến nàng. Tai họa đã ụp xuống đời nàng khi bước qua tuổi tròn trăng. Đề bây giờ mớ ước vẫn chỉ có trong những cơn mơ. Lời nói của Triệu bình thường mà sao trong đó Nguyệt Nga nghe được tiếng lòng nàng rung động. Cái thuở nghịch ngợm, chọc ghẹo, những lần đụng chạm với những thân thể khác giống, chưa lần nào nàng thấy xúc động như lần nầy. Nàng mơ hồ thấy có điều gì đó bất an thích thú. Triệu vẫn ngồi im, Nguyệt Nga vẫn ngó mông ra sông. Giòng sông ở đây nước trong xanh không như sông Cổ Chiên nước đục bốn mùa.Nước có màu son. Những con nước tháng 9 tháng 10 đổ về mang màu nâu nâu đỏ ở gần bờ, nước ở giữa giòng đục màu cát pha đất vàng nâu. Con sông đến từ đâu và đi về đâu, chẳng bao con nhỏ Sáu thèm hỏi tới. Nó chỉ mơ ước được lội ngang qua sông đi về phía chợ có ngôi nhà to lợp ngói đỏ. Có một lần Nguyệt Nga bơi chiếc xuống ba lá muốn qua sông thì trời đổ cơn mưa giông. Tối đêm hôm đó được một trận đòn bầm tím thịt da. Những thằng con trai trong làng lớn chồng ngồng vẫn bận quần xà lỏn đầu quấn chiếc áo rách bươm chẳng có bao giờ biết nỗi mơ ước trong lòng con Sáu. Nhờ chiếc cầu khỉ chênh vênh bắt ngang con lạch lớn đầy những về lục bình bắt liền hai xóm ven sông, con nhỏ sáu mới biết được xóm Đông trên cù lao. Ở xa về phía cuối tầm con mắt, con Sáu chỉ thấy những xóm, những làng chìm trong rừng cây xanh ngắt một màu. Nỗi nhớ, niềm mơ theo thời gian đã mờ phai trong ký ức. Cho tới hôm nay.
– Nước ở đây trong quá hả cậu Hai.
Triệu nhỏ nhẹ:
– Ừ, nước ở đây trong veo hà, nhưng nước nầy nầy có nhiều phèn. Nguời ta nói bỏ cục xà phòng xuống đó nó không tan.
Nguyệt Nga trả lời như trong mơ:
– Vậy sao. Câu Hai đi nhiều biết nhiều.
Triệu vẫn nhỏ nhẹ:
– Ừ, Sáu có muốn đi không?
Nguyệt Nga ngơ ngác như con gái mới lớn:
– Đi đâu cậu Hai.
– Thì đi với tui.
– Cạâu đi về Sài Gòn mà? Thì tui đang đi với cậu nè.
Triệu cười nhẹ:
– Thì đi Sài Gòn…ý tui muốn nói là sau nầy cà.
Nguyệt Nga lập lại câu nói:
– Đi đâu cậu Hai?
– Sáu hỏi dần lân hoài.
Nguyệt Nga ngơ ngác:
– Tui hỏi thiệt mà. Bây giờ tui đâu có anh em bà con ở đâu đâu mà đi. Tui đi bận nầy hổng biết bao giờ có tiền để về thăm quê.
Triệu thờ dài kiên nhẫn:
– Thì có chịu hay không cái đã.
Nguyệt Nga đã biết cái tâm ý của cậu Hai, nhưng lòng nàng, người con gái chưa chồng với một lần sanh nở đâu biết nói gì hơn. Con gái quê mùa dù cho có ước mơ cũng không thể nào dám nói lên điều mơ ước. Với Nguyệt Nga, càng bở ngở lạc lõng hơn. Có những suy nghĩ không biết nói ra bằng tiếng nói. Có những niềm vui bất ngờ không nói ra được bằng lời. Nguyệt Nga mím chặt đôi môi im lặng. Muốn nói. Biết nói gì!
Triệu nhìn Nguyệt Nga đắm đuối không che dấu. Ánh mắt như tóe hào quang, như xói mòn da thịt nàng. Nguyệt Nga có cảm giác rờn rợn trên cơ thể. Bức rức. Xốn xang. Nguyệt Nga ngồi im chết cứng một chỗ. Mỗi cử động bây giờ đối với nàng thiệt khó khăn. Nàng có cảm giác thân thể nàng dán chặt xuống sạp thuyền, tay chưn nàng tê dại, muốn nhích nhích bàn tay cũng khó khăn. Ngồi lâu, tê cứng, NguyệtNga đâm ra bực mình, cổ họng như khô và khát nước. Nàng lí nhí:
– Khát nước quá đi!
Triệu vô tình:
– Khát nước? Nước nè.
Triệu chồm tay qua vuông cửa sổ sau lưng bưng ra ngoài chiếc bình ủ và một cái ly thủy tinh có vẽ hình hoa sen hoa súng.
– Nước nè.
Nguyệt Nga ngượng nghịu thò hai bàn tay run khan nhận ly nước trà âm ấm từ tay Triệu, và nàng lí nhí tiếng cảm ơn trong cổ họng. Hành động càng ngaỳ càng kỳ kỳ của Nguyệt Nga làm Triệu chú ý.
– Sáu làm sao vậy? Trúng gió rồi. Để tui lấy đồng xu cạo gió.
Nói là làm liền. Triệu khom người chun qua cánh của sổ vô trong khoang. Lát sau quay trở ra trên tay có một đồng xu và chai dầu nóng. Mở nắp chai mùi thơm nồng tràn ngập khoang thueyền.
– Có kỳ không? Sáu có thể tự xoa lên hai bên màng tang, và xoa trước ngực chỗ chấn thủy cho nó ấm.
Nguyệt Nga lí nhí như lần trước. Nàng thấy bình tỉnhhơn và cười thầm trong bụng. Cuời cho tánh nhút nhát của nàng.
Nguyệt Nga hơi choáng váng, trong người ngầy ngật như say sóng, đầu óc mơ hồ hoang mang, biết rằng Triệu đang tỏ tình tỏ ý bóng gió rằng y thích nàng. Như con chim bị đạn, nàng nghi ngờ, rụt rè và lo sợ cho miệng lưỡi thế nhân. Người con gái chỉ có một thời để mơ mộng và cũng có một thời để xây dựng hạnh phúc gia đình. Nguyệt Nga hẫm hiu đã đi qua tuổi mộng mơ bất đắc dĩ. Nàng thở dài không nói.
Triệu nhìn nàng nói:
– Bôi dầu nóng cho nó ấm, chắc bị cảm mạo thương hàn rồi đó.
Cầm chai dầu nóng trên tay, Nguyệt Nga bôi một chút trên đầu ngón tay trỏ hít hít vô mũi và xoa trên 2 màng tang. Hơi nhức đầu, Nguyệt Nga nhăn mặt. Triệu nói tiếp:
– Hay là cô Sáu để tôi kêu tụi nhỏ nó nấu cho cô miếng cháo nghen Sáu?
Nguyệt Nga không trả lời, nhưng qua ánh mắt của nàng, người thanh niên ngồi trước mặt đã biết. Anh ta quay vô trong khoang thuyền kêu lớn:
– Mấy đứa đâu hết rồi.
Không nghe tiếng trả lời, anh ta xổ một tràng xí-lô xí-là riu ríu như chim kêu. Có tiếng nói từ khoang trước. Triệu quay người sang ngó Nguyệt Nga, không dấu vẽ quan tâm và đắm đuối trong ánh mắt. Anh ta nói vừa đủ nghe:
– Tôi biết Sáu đang mệt, đang trúng gió cần nằm nghỉ ngơi. Sáu muốn ngủ một chút không?
Nguyệt Nga lắc đầu nhè nhẹ. Nàng rất sợ, nỗi lo sợ lần nầy không phải từ lòng nghi ngờ, nó phát xuấtø từ lòng thương cảm. Nỗi đau đớn từ bao lâu nay được xoa dịu vuốt ve. Lần đầu tiên, nàng nhận được sự ưu ái nhẹ nhàng từ một người khác phái. Ngây ngất ! Nàng hơi ngây ngất không phải vì đầu nhức mắt hoa, nhưng vì những lời ngọt ngào từ cửa miệng của Triệu. Chàng trai không hay biết, anh ta cứ ngồi im ngó nàng.
Mâu thuẩn! Xáo Trộn! Những cảm giác khác biệt nổi lên cuồn cuồn như sóng trào, nước cuốn đang đẩy Nguyệt Nga rơi xuống bờ vực của sự sung sướng chơi vơi.
Triệu vẫn nhẹ nhàng êm ái rót mật vô tai Nguyệt Nga:
– Tôi biết, đi ghe lần đầu không quen dễ bị chóng mặt lắm. Nhưng riết rồi sẽ quen. Sáu cứ nằm nghỉ một lát thì khoẻ lại thôi mà.
Nguyệt Nga nhẹ nhàng khép hờ đôi bờ mi mắt lại, cảm nhận trào dâng như bồng bềnh trên mây và bay trong gió. Thoải mái, dể chịu; nàng không muốn cười nhưng ở khóe môi hơi nhếch lên như mảnh trăng non, máu nóng lan lên mặt. Lâng lâng cảm giác dịu kỳ. Nguyệt Nga nhắm mắt lại để mặc tình cho cảm giác đưa đi. Tiếng của Triệu như có như không, ru hồn nàng vào mộng:
– Tôi biết Sáu mệt lắm, thôi ngủ được thì ngủ đi nha. Tôi đi ra.
Một bàn tay nhẹ nhàng nắm lấy tay nàng. Nguyệt Nga mở bừng đôi mắt. Từ trong đáy mắt nhấp nháy ánh sao Khuê. Nàng không muốn Triệu rời khỏi khoang thuyền trong lúc này. Nàng không nói, không cầm giữ, nhưng bàn tay tự động mở ra nắm lấy bàn tay của Triệu. Anh ta siết nhẹ và quay đi và định bò ra ngoài khoang. Hốt hoảng như vừa chợt mất vật gì quý giá. Nguyệt Nga bấu nhẹ cánh tay Triệu. Anh ta ngừng lại, quay lui. Nhìn thẳng vô đôi mắt nàng.
– Tôi cứ tưởng Sáu mệt nên không muốn quấy rầy phá giấc ngủ của Sáu.
Nguyệt Nga rủa thầm trong bụng:
– Đồ quỹ gì đâu không hà. Hổng lẻ hổng biết tấm lòng của người ta hay sao mà tính bỏ đi.
Ýù nghĩ chạy nhanh trong đầu, cái miệng vẫn ngậm câm như hến; Nguyệt Nga cất tiếng rên nho nhỏ…mạch máu chạy rần rần như luồng điện phóng qua. Bàn tay nắm chặt hơn. Triệu khe khẻ vuốt nhẹ.
– Ngủ chút đi cho khỏe nha Sáu. Cháo nóng có hành sẽ làm cho khoẻ lại.
Không lẻ nào Nguyệt Nga phải nói ra bằng lời là cầm giữ anh ta lại và biểu “đừng đi?” Khó cho nàng quá. Từ nào tới giờ NguyệtNga chưa hề biết nói lời âu yếm, năn nỉ, trăng hoa với một người nào. Khó quá. Nàng chỉ biết ư ư trong cổ và bàn tay siết chặt thêm. Cảm giác ấm áp lan đến cổ làm nàng nghẹn lại. Như ngày còn nhỏ được mẹ ôm vô trong lòng dỗ dành với lời ru ngọt ngào.

Một giọt nước ấm lăn tròn theo khóe chạy dài trên má…Nàng để mặc cho nó lăn đi. Một! Hai! Ba! Và bao nhiêu giọt là bấy nhiêu xúc động trào dâng trong lòng.
“Ai buồn, ai khóc thiết tha
Tôi vui, tui cũng chan hòa giọt châu”
Triệu nhìn thấy. Anh ta nhẹ nhàng đư atay lên quẹt mấy giọt nước mắt vừa lăn xuống má nàng. Bàn tay khe khẻ vuốt ve, Nguyệt Nga như sống trong cơn mơ, đầu nàng không biết làm sao, ai xô ai đẩy đã nghiêng qua tựa lên vai Triệu từ lúc nào. Triệu choàng tay qua vai nàng vổ nhẹ trên vai, bàn tay kia vẫn nắm chặt tay Nguyệt Nga. Hai người ngôí trong tư thế đó thật lâu. Nguyệt Nga không còn biếtthời gian trôi qua, tất cả đều vô nghĩa trước sức chấn động trong tim. Cả thân thể nàng nóng hực, cảm giác êm ả len nhẹ trong từng thớ thịt. Nàng thoải mái buông lơi tất cả để cho nó tự do ngụp lặn trong vùng ánh sáng hạnh phúc đang xâm chiếm toàn thân.

Bên ngoài nắng đã lên cao quá một con sào, ánh nắng ban mai chiếu xiên khoai vô trong vách ván, lọt qua cánh cửa sổ kéo dài một vệt màu vàng lợt trên sàn thuyền. Chiếc ghe bồng bềnh trôi theo giòng nước, tiếng máy xành xạch như văng vẳng đâu xa lắc xa lơ. Nguyệt Nga nằm trên chiếc sạp gỗ trong vòng tay siếtchặc của Triệu từ hồi nào nàng cũng không hay không biết. Triệu đã dìu nàng đến chiếc “đi-văng” và nàng không cưỡng lại. Cả hai người im lặng. Nguyệt Nga vừa sung sướng hạnh phúc vừa mắc cở e dè. Cái cảm giác lộn xộn, trái ngang, ham muốn, ngại ngùng giằng co níu kéo Nguyệt Nga nghiêng ngửa. Hơi thở nóng hổi của Triệu đang nằm một bên phà vô mang tai gây nên cảm giác nhột nhột khó nói. Mũi nàng vừa ngửi được mùi đàn ông từ thân thể trần trụi của Triệu. Chiếc mền mỏng phủ ngang qua người, bấy giờ Nguyệt Nga mới biết mình đang nằm trong vòng tay của Triệu không một mảnh vải che thân. Hơi đỏ mặt, nhưng nàng vẫn nằm im nuốt nước miếng và khẻ nhắm mắt lại tận hưởng những gì đang mơn man xoa dịu thân thể tâm hồn nàng.
Mở mắt ra nhìn chung quanh. Cơ thể như giản nở và rời ra từng thớ thịt. Mơ hay tỉnh? Triệu vẫn nằm một bên. Khẻ nghiêng mình qua ôm lấy nàng. Anh ta nói, vẫn giọng nói nhỏ nhhẹ:
– Sáu có trách tôi không? Tôi yêu thương Sáu.
Tự nhiên một dòng nước mắt trào ra Nguyệt Nga không cầm được. Đây là giọt nước mắt tủi thân hay giọt nước mắt sung sướng? Triệu hoảng kinh hỏi giật giọng:
– Sao vậy Sáu? Tôi làm gì mà em khóc?
Nguyệt Nga chỉ biết im lặng. Lòng nàng ngổn ngang. Vui hay buồn. Sung sướng hạnh phúc hay đau khổ trớ trêu? Nàng không biết. Có thể nó lẫn lộn giữa hư ảo và thật. Nằm im. Thật im, nghe lòng mình râm rang niềm hạnh phúc. Có thể lắm. Có thể nàng đang hạnh phúc. Triệu vẫn hỏi bên tai:
– Nghĩ thế nào xin cho tôi biết.
Nguyệt Ngathở dài:
– Biết cái gì? Cậu muốn biết cái gì? Tui nghĩ cái gì bây giờ?
Anh ta ngồi lên trên đi văng, tấm thân trần lực lưỡng đỏ au vì nắng cháy. Anh ta trả lời:
– Tôi muốn biết em có chịu làm vợ tôi hay không?
Nguyệt Nga chới với. Đã ăn nằm với người ta rồi mà còn nói gì nữa đây. Nguyệt không hiểu được cái gì đã xảy ra cho nàng. Nàng đã dâng hiếncho Triệu tất cả những gì còn lại. Nàng yêu anh ta? Hay trong cơn mộng mị của xác thịt đã đẩy nàng rơi vào vòng tay của Triệu. Bất chợt người bạncủa hắn-Hùng- và những việc xảy ra đêm qua. Hùng đã cưởng hiếp nàng trong cơn say và nàng đã chống cự, bây giờ Triệu, bạn của Hùng, đã ăn nằm với nàng giữa thanh thiên bạch nhật. Chỉ mới có mấy giờ đồng hồ mọi chuyện đã xảy ra quá nhanh. Nguyệt Nga cúi mặt. Đời nàng có còn gì nữa đâu mà “treo cao giá ngọc” Đã mất tất cả rồi. Tiếng Triệu nói bên tai:
– Tôi thật là muốn lấy em làm vợ.
Vẫn im lặng. Triệu nói tiếp:
– Hay là tôi đã xử ức cho em? Tôi thật lòng yêu thương em Sáu à. Tôi không có nài ép em ăn nằm với tôi.
Nguyệt Nga ngó sửng lên gương mặt Triệu.
– Ừ, người Hoa cũng là người. Ngưòi ta còn đàng hoàng hơn người Việt mình.
Y có thiệt muốn xây dựng vợ chồng? Nguyệt Nga nhìn y và suy nghĩ như vậy…Anh ta vẫn chờ đợi. Nàng ngó mông ra cửa sổ, đưa tay vuốt tóc một bên. Nàng ngồi lên tìm quần áo mặc vô. Triệu vẫn ngồi im nhìn.
– Cậu muốn cưới tui làm vợ? Thiệt hông câu hai? Đừng chọc tui tội nghiệp mà cậu hai.
Triệu đưa hai tay ra đàng trước phân bua:
– Đâu có! Đâu có! Tôi muốn thiệt đó Sáu.
– Thôi đi. Câu giởn chơi tội nghiệp. Chuyện câu ngủ với tui thì coi như là hông có đi. Tui cũng không biết làm sao mà tui lên giường với cậu. Cậu khinh tui lám phải hông?
Triệu kêu “Trời!” và bước xuống đi văng:
– Ý trời ơi! Tôi mà có ý nghĩ gì xấu cho Hà Bá bắt tui đi.
Nguyệt Nga vẫn ngồi im. Sự xúc động qua đi và nàng đang nghĩ đến Hùng. Đêm qua y mò vô đè ẩu nàng và đòi ngủ. Y là bạn của Triệu, biết đâu 2 người nầy mưu kế gì đây? Tại sao từ sáng tới giờ Hùng đi đâu không nghe tiếng y? Hồi đêm, Hùng cũng nói những lời y như Triệu đang nói với nàng. Y nói muốn cưói nàng làm vợ. Thiệt không? Mẹ nói đàn ông con trai như là con bướm con ong. Như con chuột chun qua ống tre, lời nói ngon ngọt hôm trước hôm sau đã quên mất rồi. Hùng đi đâu? Y làm hông được nên y đẩy Triệu vô chớ gì? Thôi thì mình lở dại một lần với Triệu cũng coi như giấc chiêm bao.
Nàng lắc đầu:
– Câu Hai à, cậu hổng sợ tui lơn tuổi hơn cậu hả cậu Hai?
Triệu cười:
– Sáu nói cái gì? Bộ tưởng tôi không biết hay sao? Năm Trực là bạn, trước khi tời nhà ông Sáu, tụi này đã biết Sáu rồi mà.
Nguyệt Nga nhăn mặt.
– Anh Năm đã nói cái gì với Cậu?
– Nói gì đâu. Tôi chỉ biết là Sáu nhỏ tuổâi đừng có nói láo đi.
Nguyệt Nga bớt xúc động. Nhưng cảm giác hạnh phúc, êm ái qua đi thật mau. Nàng trở lại khép kín:
– Cậu có biết nhà tui như thế nào đâu mà cậu đòi cưới tui?
Triệu cười tin tưởng:
– Sao lại không? Em Sáu muốn tôi kể cho nghe không?
Nguyệt Nga nhìn mặt anh ta nàng biết y nói thiệt. Nàng chống chế yếu ớt:
– Tôi không nói cậu hai không biết. Cái ý của tui là….tui như vậy đâu có xứng với cậu Hai đâu?
Triệu đốt một điếu thuốc thơm. Thả khói bay ra cửa sổ, y mạnh dạn hơn:
– Biết. Tôi biết hoàn cảnh của em sáu nên tôi thương. Thật tình là tôi thương yêu em Sáu.
– Còn tía má của cậu thì sao?
– Em đừng hỏi nhiều. Tôi đã lờn rồi mà. Tôi có công việc làm ăn…Cha mẹ tôi sẽ bằng lòng. Ông bà muốn có cháu nội.
Nguyệt Nga không nói nữa, nàng ngồi bó gối im lặng. Thằng nhỏ trạo phu bưng vô khoang tô cháo cá bốc khói thơm phức. Triệu đón lấy tô cháo, y đạt nó lên đi văng và nói với Nguyệt Nga:
– Cháo cá đó Sáu. Cá lóc đó nhé. Em sáu ăn cho nó nóng. Lát nữa tôi trở lại. Bây gìờ để cho em yên.
Nguyệt Nga lí nhí gì đó không rõ, Triệu bỏ đi ra ngoài. Còn lại một mình, Nguyệt Nga nhìn tô cháo cá bốc khói nghĩ ngợi. Nhìn giòng nước lặng lờ trôi, hai bên bờ sông là nhũng khu rừng dừa nước ngút ngàn, xa xa có mấy xóm nhà. Đây là đâu? Nguyệt Nga tự hỏi. Nàng nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ con. Nhớ đến con sông Cổ Chiên và cái nóc chợ Vĩnh Long trong sương mờ. Nhó cha nhớ mẹ lòng Nguyệt Nga quặn thắt. Bà mẹ nàng thất học, nhưng nhiều kinh nghiệm sống đời. Ông sáu, cha nàng, có chút chữ vừa đủ để đọc nhựt trình và nghe la-dô hiểu những tin tức. Ông Sáu là một nông dân cày sâu cuốc bẩm. Ông đúng là mẫu tá điền ưng ý của các chủ điền. Sức khỏe và biết quyền biến, thẳng thắn cương trục, suốt cuộc đòi của ông chưa có làm điều ác nhơn thất đức. Như bao nhiêu già đình trong xóm Doi, ông có nhiều con. Con là của, người ta nói như vậy. Nguyệt Nga là đứa thú sáu, xinh đẹp, nết na…Ông Sáu đã bao lần nhắm rể “đông sàng” cho con gái nhưung chưa được toại nguyện thì xả ra câu chuyện Nguyệt Nga bị nạn. Thương con rồi thương cháu, ông bà sáu thương luôn đúa con của nàng. Nó vừa mới lớn thì tai nạn ập vô. “Họa vô đơn chí phước bất trùng lai” Nguyệt Nga như thấy cả bầu trời sụp đổ đè ép lên giá đình nhỏ bé của nàng. Nếu không có tía má, có bạn tốt như con Tư Nhân Hậu thì làm gì con Sáu Nguyệt Nga có mặt giờ nầy? Rồi chuyện gì sẽ xảy ra nếu nàng nhận lời xin cưới của Triệu? Hạnh phúc có thiệt đã trở lại với náng sau bao nhiêu mất mát đau thương? Con tạo khéo trêu người! Phải chi có Tư NhơnHậu ở đây mìnhhỏi ý nó coi sao. Con Tu cái dáng người thon gọn, thông minh, có nhiều hiểu biết, tuy không sắc sảo như nàng, nhưng nó được cái tốt bụng và dễ thương cho nên được lòng bạn bè. NguyệtNga nghĩ tới con bạn Tư Nhơn hậu mà ngó sửng chén cháo nóng đang hết bốc khói trước mặt. Nàng đói như cồn nhưng miệng không thấy thèm ăn. Cầm cái muỗng bằng thiết lên húp thử một miếng. Nàng chép miệng:
– Ý, ngọt thiệt là ngọt. Cá tươi, gạo trắng có hành có tiêu hèn gì mà không ngon không ngọt.
Chén cháo nóng bốc khóc thơm lừng, Sáu Nguyệt Nga nhớ con cá sông Cổ Chiên, con cá to bằng bàn tay người lớn, có vảy bạc lấp lánh nấu ngót bỏ hành lá ăn nóng trong những bữa cơm trưa đạm bạc của những ngưòi theo ghe thương hồ. Đưa muỗng lên miệng húp một miếng, nàng liếm môi, cái môi hơi khô sau một đêm ân ái mây mưa với Triệu. Nàng bất chợt đỏ mặt khi nhớ lại cảnh trăng gió đêm qua. Lần đầu tiên trên chiếc sạp ván lắc lư trong khoang thuyền bồng bền, có chút rượu ngấm trong dòng máu đang rậm rật, phơi phới hân hoan. Một đêm nàng tự ý hiến thân, Sáu Nguyệt Nga có cảm giác ấm áp trong lòng. Sự đụng chạm xác thịt với Triệu đem đến cho nàng lần đầu sự thoải mãn, xoa dịu những ấm ức thua thiệt. Cảm giác gò bó, bị ép buộc, hoặc trao đồi không còn nữa. Hai má nàng ửng lên màu hồng phấn. Ngước mắt len lèn dòm qua chỗ Triệu ngồi, rồi nhè nhẹ thờ dài. Triệu ngồi im theo dõi mọi cửa động của Nguyệt Nga để dò ý tứ. Phần Triệu cũng áy náy không yên. Y không phải là con trai tân mới lớn, nhưng gặp Sáu Nguyệt Nga, không hiểu sao y bỏ bụng thương thầm, thương thiệt. Cả hai đang ngồi chung một khoang thuyền và hai suy nghĩ khác nhau dù họ đang nghĩ về nhau.
Triều dò dẫm:
– Sáu ăn không quen hả. Chắc là tụi nhỏ nấu không ngon.
Sáu Nguyệt Nga bỏ muỗng vô tô cháo, lấp bấp trả lời:
– Không, không phải đâu. Tui ăn được mà cậu.
– Ráng ăn cho hết khi cháo còn nóng nó sẽ giải cảm. Tốt đó. Phải chi mà ở trên bờ tôi ghé qua tiệm thuốc cất một toa cho Sáu uống đổ mồ hôi là khoẻ liền hà.
Sáu Nguyệt Nga không dấu vẽ mặt cảm động. Giọng nói đã dịu xuống:
– Cảm ơn cậu Hai Triệu.
Triệu cười:
– Sao Sáu cứ kêu tôi là cậu hai hoài. Tôi đâu phải thứ hai đâu. Tôi đứng thứ tư trong nhà
Sáu Nguyệt Nga bẻn lẻn đỏ mặt cuí đầu. Triệu mạnh dạn hơn, anh lết gần tới ngồi bên khẻ vuốt ve.
– Sáu không giận là tôi mừng lắm. Đợi chiều này tới Bình Đông tôi đưa sáu về nhà cho gia đình biết mặt.
Sáu Nguyệt Nga lặng thinh múc từng muỗngcháo đưa lên miệng. Nàng tự nghĩ thầm:
– Có phải ông trời đã ngó nghĩ đến mình? Đã cho mình tới bến bờ hạnh phúc sau những oan khiên mất mát kia?
Sáu Nguyệt Nga nhắm mắt lại không dám nghĩ tiếp. Tư Triệu xáp gần vô vuốt ve càng bạo dạn, miệng thủ thỉ lời đường mật. Sáu Nguyệt Nga như bay bổng tận lưng trời chỉ biết ngồi đó mà nghe “đờn khu sáo thổi” Chiếc ghe bầu vẫn xuôi con nước trôi phăng, gió lồng lộng, mặt trời đã gát mái nhà độ hai con sào. Aùnh nắng loang loáng trên mặt sông gợn những đợt sóng nhỏ. Có con chim bay từ xa đổ lại cất tiếng kêu quang quác.
Tư Triệu nổi máu cải lương:
– Em Sáu thấy không, như con chim kia nó lẻ bạn tiếng nó kêu khàn câm khàn đặc, nó vỗ cánh bay ngang như không muốn nổi , muốn sa xuống mấy lần…Em Sáu có thấy hay không?
Sáu Nguyệt Nga mần thinh ngồi thu lu gọn lỏn như dựa vô thân thể cường tráng của Tư Triệu đang liên tu bất tận.
– Đó, anh nói đâu có sai đâu cà. Em Sáu thấy đó mà, con chim lẻ bạn con chim chết, hà huống gì con người, có phải không em?
Anh xuống giọng xàng xê:
“Ôi! Vì thương mà phải bỏ ngai vàng, vì thương mà thành chim, thành chim rồi hóa đá…thương thì phải khổ! Nhưng càng khổ lại cành thương…ơ!!! Thương bạn chung tình….ơ!!!”
Sáu Nguyệt Nga như tỉnh như mê không còn biết đâu là bến bờ, bỗng dưng nàng nấc lên, thút thít. Giọt nước mắt lại chảy ra. Lần nầy là giọt hạnh phúc , giọt tràn trề. Tư Triệu siết chặc bàn tay quanh đôi vai nhỏ nhắn của Sáu Nguyệt Nga vỗ về.

Hải bất ngờ xuất hiện bên ngoài cửa dòm vô, Sáu Nguyệt Nga giựt mình trườn ra khỏi bàn tay đang si61t chặt vai nàng, ngượng ngập sửa lại vạt áo. Hài không ngạc nhiên, ngó vô trong nhu không thấy Sáu Nguyệt Nga. Y cất tiếng hỏi trống không:
– Có ra ăn trưa không đó mầy?
Tư Triệu bò ra khỏi buồng, trà lời:
– Aên chớ sao không. Tới đâu rồi.
Nói xong y đứng thẳng người lên bẻ mình ngó quanh. Hải trả lời:
– Mê mang tàng tịch thì còn biết trời đất gì nữa.
Tư Triệu đưa hai bàn tay xoa mạnh khắp mặt:
– Mê mang cái gì. Sáng giờ mầy trốn ở đâu?
Hài cười chúm chím:
– Ngủ chớ trốn đâu.
Y cúi mình ghé tai Tư Triệu:
– Xong rồi hả. Ngon lành không? Làm thiệt đó à?
Tư Triệu nghiêm nét mặt:
– Đừng giỡn chơi mầy. Thiệt giả cái gì ở đây?
Hải cười lớn:
– Thôi đi cha nội. Tao thấy hết rồi. Suốt đêm ở trỏng cho đến trưa trờ trưa trật mà không bò ra nổi thì tao biết liền. Tao né đi cho mầy làm ăn mà còn làm bộ hỏi.
Tư Triệu không nói không rằng, bước qua mé bên, vịn tay đi lần ra trước mũi. Y kêu lơn:
– Hai đứa đâu rồi? Cơm nước gì chưa tụi bay?
Hải nói theo:
– Cái đó tùy mày à. Mầy muốn lấy luôn thì cứ việc chớ có ai cản đản gì mầy đâu.
Tư Triệu đi luôn ra ngoài. Sáu Nguyệt Nga ngồi trong khoang nghe rõ hết, nàng bối rối, loay hoay chưa bò ra khỏi khoang. Những lời đối đáp giữa hai gã thanh niên làmnàng lo lắng:
– Hổ lý nào hai người này có mưu đồ thâm ý gì riêng? Í mà mặc kệ, tới Sài Gòn rồi tính sau.
Khi quyết định chủ ý rồi, Sáu Nguyệt Nga bò ra khỏi khoang. Hải vẫn còn đứng đó, nàng cất tiếng chào:
– Anh Hải!
Hải đang đứng day lưng lại, nghe tiếng chào đàng sau, y vội vàng xoay người trở lại. Tỉnh queo như không có chuyện gì xảy ra:
– Ủa…em dậy rồi đó. Ngủ được không?
Sáu Nguyệt Nga vuốt tóc:
– dạ được anh. Bao giờ mình mới tới anh?
– Còn chừng non nửa buổi.
Sáu Nguyệt Nga ngồi ghé vô bên trái cánh cửa khoang thuyền. Hải đứng dựa lưng vô nắp khoang. Cả hai người day mặt ngó ra hai hướng khác nhau. Hai người im lặng không biết nói gì thêm.
Hải gặp Sáu Nguyệt Nga, y nói năng tỉnh queo chừng như đã quên câu chuyện xảy ra hồi đêm qua. Phần Sáu Nguyệt Nga không thể nào quên. Nhìn mặt Hải ghê sợ, tất cả những chuyện đã, những kinh hoàng của bao nhiêu năm trước vào một buổi chiều trên cánh đồng lại hiện về trong trí. Sáu Nguyệt Nga lo sợ, hoang mang. Như con chim bị tên, nàng nghi ngờ có chuyện mớ ám xảy ra do tên Hải sắp xếp. Những cảm tình vừa mới chớm dành cho Tư Triệu chưa kịp bén rể trong lòng nàng nay chập chờn muốn bay xa. Sáu Nguyệt Nga rùng mình mấy lượt. Cuộc đời gian dối lọc lừa xảy ra hàng giờ hàng phút chung quanh, những cô gái quê như con chim mới tập bay xa ổ mẹ làm sao tránh khỏi. Chỗ nương tựa duy nhất, chỗ trao gửi thân phận bây giờ của Sáu Nguyệt Nga nơi đất khách quê người không còn vững chắc, đáng tin và an toàn như nàng xây đáp mộng mơ trong đêm qua.
Nhìn cái bản mặt điển trai của Hải , đôi mắt hơi xếch rất nam tánh, cái miệng cười tươi Sáu NguyệtNga càng thấy lộ rõ ra bản chất gian ác, xảo quyệt của một tên hiếp dâm, điếm đàng. Tự nhiên trong lòng Sáu Nguyệt Nga ghét cay ghét đắng Hải, nàng sắp y vào hạng những tên gian ác đã hảm hại đời nàng…và trong lòng nổi lên mối thâm thù, một ý chí cương quyết muốn trả thù. Bằng cách nào chưa biết, tự trong lòng Sáu Nguyệt Nga chớm lên ý nghĩ trả thù cho hả dạ. Vết thương lòng đã kín miệng nay bật máu trở lại. Sáu Nguyệt Nga xót xa tủi hổ với chính nàng.
Bên kia, Hài nói bâng quơ:
– Em tính làm sao hà em. Chiều nay ghe cặp bến em về đâu?
Sáu Nguyệt Nga lặng thinh, Hải tiếp:
– Em khôngbiết đo 1thôi. Anh nói cho mà nghe nhé. Cái đất Sài Gòn, Chợ Lớn nó mênh mông thiên địa, đường ngang ngõ dọc rối như là mớ chỉ câu, chớ không phải như ở quê chỉ có một lộ nằm giữa thôn làng đâu mà em biết. Lạng quạng là tụi nó thịt em liền.
Sáu Nguyệt Nga tiếp tục ngồi lặng thinh. Hải day mặt ngó nàng, y hỏi tiếp:
– Có bà con thân nhơn gì ở trển không?
Đến nước đó Sáu Nguyệt Nga không thể ngậm miệng, nàng trả lời:
– Dạ cũng có mấy người bạn…nhưng mà đi bất thình lình như vầy chưa kịp hỏi nhà.
Hải nhìn chăm chú vô mặt Sáu Nguyệt Nga, giọng y nhẹ nhàng:
– vậy em tính sao đây? Hay là em về nhà anh ngủ tạm mấy bữa rồi tính tới.
Sáu Nguyệt Nga đâm phân vân, thú thiệt:
– Dạ chưa biết sao đây. Cái hồi đi thì mạnh dạn, nhưng đến đây rồi thì hổng biết mần sao đây. Mà cậy Hai…ủa mà…cậu Tư chủ ghe nói là có việc cho tui làm mà?
Hải cười:
– Hơi sức đâu mà đợi chớ. Bây giờ nếu em chưa biết tính thế nào thì anh tính giúp cho. Mà em có chịu không cái đả.
Sáu Nguyệt Nga chới với như con diều đứt dây, chao đảo ngả nghiêng như cánh chim trong cơn bão. Không biết tin ai bây giờ. Nàng đánh nước đôi:
– Chậm chậm tới nơi rồi mới tính được hông?
Hải cười không nói, y quay lưng đi.
– Thôi được em có đói bụng thì ra ăn cơm với tụi nầy luôn. Chừng khoảng vài giờ nữa là vô đến Sài Gòn rồi đó.
Sáu Nguyệt Nga ngồi lại một mình, bó gối trong hai vòng tay ngó mông ra hai bên bờ sông. Bây giơ đã thấy ruộng vườn nhà cửa. Có mấy nơi có nhà ngói đỏ au, và con đường lớn xe chạy nằm bên mé trái dòng sông. Xe đò chạy lên xuống đông vui. Làng xóm nằm hai bên dọc theo con lộ trải nhựa. Nàng lẩm bẩm:
– Phải chi bây giờ có con Tư Nhân hậu ở đây thì đỡ biết bao nhiêu.
Nhìn tới trước tương lai mờ mờ mịt mịt, suy nghĩ của Sáu Nguyêt Nga chạy lung tung, quầy đạp lùng bùng như con cá thia thia mới về trong chậu. Chạy loang quanh một lúc, suy nghĩ quay trở lại với gia đình. Nàng nghĩ đến cha, ông Sáu già.
– Hổng biết bây giờ ổng đang làm gì ở nhà. Cái giác nầy
là cái giác ổng lai rai nhậu ba sợi với mấy ông bạn già đây mà. Còn bà Sáu. Má đang làm gì bây giờ hả má? Con đi như vầy ai giúp má tưới rau, liên liếp, bắt sâu cho mấy giồng cải ngọt trước sân nhà. Má ơi, Tết nầt không biết con có tiền để về thăm tía má hay không. Tại sao con đi như vầy hà má? Ừ, mà tại sao má xúi con đi làm chi vậy má? HỔng lẽ má mắc cở với hàng xóm cái chuyện cũ mèm cũ rục của con?
Sáu Nguyệt Nga sống trong thế giới tưởng tượng, mắt vẫn nhìn ra trước, nơi có dòng sông và con thuyền chở khẳm chạy vo vo lướt rên mắt sông. Một thằng chưn sào đang ngồi hút thuốc sau lái, cần lái kẹp trong nách và nó nửa nằm nửa ngồi phà khói thuốc lên bầu trời trong xanh không chút tư lự.
Nguyệt Nga kêu nó:
– Em! Nè em vô đây chị nhờ chút được hông?
Thằng nhỏ ngóc đầu lên hỏi:
– Chị kêu em hả?
– Ừ, em đang làm gì đó, vô đây ngồi chơi chị nhờ chút được hông?
Thằng nhò đang cầm bánh lái lắc đầu:
– Không được đâu, ăn đang ngồi giữ lái không bỏ đi được. Mà chị cần chuyện gì cứ nói đi.
Sáu Nguyệt Nga không biết nàng kêu thằng nhỏ làm gì. Tự nhiên nàng có cảm giác cô đơn, nàng muốn nghe được tiếng người và có người ngồi để nói chuyện. Nàng hỏi theo thói quen:
– Ừ thì thôi, mà nè…em ở đâu?
Thàng nhỏ ngồi thẳng lên, ngò Sáu Nguyệt Nga:
– Chị hỏi quê em đó hả?
– Ừ…em ở Sài Gòn hả.
Thằng nhỏ lại lắc đầu:
– Đâu có. Em quê ở Cái Mơn.
– Chèn ơi…vậy mà chị tưởng đâu em là bà con với cậu Tư Triệu.
– Đâu có đâu. Em làm mướn…nhưng mà lâu rồi cũng đâu được mấy năm.
Nghe giọng thằng nhỏ vui vẻ, dễ dàng và chơn tình chất phát, nàng có cảm tình. Nàng hỏi tới:
– Chà…Cái Mơn cây trái nhà vườn thiếu gì tại sao em lại đi Sài Gòn làm thuê chi vậy.
Thằng nhỏ cười:
– Chị nói cũng phải….nhưng nhà em nghèo không có vườn, tía em gửi em lên cho bà Dì nuôi, em ở với bả thời gian bả cũng nghèo nên em xin làm cho anh Tư Triệu…mà chị là vợ mới cưới của anh Tư hả.
Nguyệt Nga chới với bất ngờ trước câu hỏi thẳng thừng của nó:
– Í, ai nói với em như vậy? Vợ đâu mà vợ.
– Hí….hí…
Thằng nhỏ cười hí hí không trả lời. Sáu Nguyệt Nga đâm lo…
– Ủa sao có chuyện lạ vậy? Ai nói với em?
– Đâu có ai nói.
Nguyệt Nga càng hoang mang.
– Vậy làm sao em lại hỏi chị như vậy?
– Trời ơi…dễ ẹt mà không biết nữa. Thì chị ngủ với anh Tư cả đêm hổng làm vợ thì cũng là nhơn tình chớ gì mà không biết.
Chết…Sáu Nguyệt Nga la hoảng một câu vô nghĩa. Chuyện gì mình chưa biết mà cả làng đều biết hết rồi, mắc cở chết đi. Trên chiếc ghe nầy có bao nhiêu người và họ như thế nào nàng chưa biết, vậy mà họ đã biết nàng rành mạch như coi hát tuồng.
– Anh Tư Triệu đi đâu rồi?
– Aûnh ngồi trước mũi kia chớ đâu.
Nguyệt Nga nói lãng sang chuyện khác:
– Eâm đi làm mướn cho người ta như vầy mỗi năm em có về thăm nhà hông?
– Dạ có chớ chị…mà đâu có cần gì đợi năm. Cái ghe chở mướn nầy nó đi qua đó hoàimà.
– Ờ, chị quên mất. Cái Mơn nổi tiếng là nhà vườn mà. Cây ăn trái thôi thì quá thể phải hông?
Thằng nhỏ khoái chí tử, giọng nói hãnh diện thấy rõ:
– kể gì…trái cây ngon nhứt mà chị. Thôi, biết cơ man naò mà kể…nào là bòn bon, chôm chôm, măng cụt, sầu riêng…mà nhứt là sầu riêng ngon nhứt. Mà nè, sầu riêng là của người mình, người mình chưa biết mà người tàu họ khoái nhứt hạng. Chị biết hông?
Sáu Nguyệt Nga trả lời gọn lỏn:
– Hông.
Vùng Cái Mơn nức tiếng là những vườn cây ăn trái xum xuê. Sầu riêng Cái Mơn nổi tiếng cơm nhiều, nhỏ hột. Vườn cây ở Cái Mơn chằng chịt mương vườn. Những vườn cây trái được lên liếp, đất móc từ hai bên đổ lên thành liếp cao, những cái mương nhỏ hai bên liếp dùng để dẫn nước. Trong vườn chỉ có những lối đi nhỏ để gánh trái cây ra, những con mương lớn dẫn nước từ sông vô các mương nhỏ và những cái mương nhỏ đưa nước từ ngoài sông vô và giữ nước lại cho cây mà không cần phải tưới nước. Con mương lớn nằm ở hai đầu vườn thông ra sông bằng cái bộng làm bằng thân cây dừa, hoặc bằng ống cống ciment có lưới chận. Nước lớn nước ròng đem phù sa vô mương. Mỗi năm chất phù sa làm lấp con mương, chủ vườn phải vét mương cứ 2 năm một lần. Chất bùn non màu mỡ gà là phân bón thiên nhiên rất tốt cho cây. Có những con mương lớn hàng năm còn có cá tôm đủ ăn hoặc làm mắm ăn quanh năm. Có nhiều nhà vườn có những con mương lớn có thu huê lợi nhờ ở số cá cá tôm sinh sản trong mương. Một cách nuôi cá tự nhiên.
Sáu Nguyệt Nga có đi qua Cái Mơn mấy lần, ông Sáu, cha nàng rất mê những vườn cây. Cũng nhờ những vườn cây và sông nước đầy cá tôm mà miền Nam trù phú, sầm uất, cuộc sống của người dân luôn được ấm no.

Leave a Reply