home Truyện Dài Cánh Đồng Nước Nổi (6)

Cánh Đồng Nước Nổi (6)

56. Nghe nhắc đến Lép làm hai Hường nhấp nhỏm không yên. Tên Năm ngừng lời để dò phản ứng của hai hường. Hai Hường ngồi một đống, y tiếp:
– Cứ tỉ như ông Hội Đồng đó…chú nghĩ mà coi già khú đế mà có 3 bà vợ nè, còn nhà cửa ruộng vườn của y cò bay thẳng cánh chó chạy ngay đuôi mà chưa hết…Y làm gì mà nhiều vậy chớ? Chú nghĩ coi nghen…con người ai cũng hai cái tay một cái đầu chớ phải 3 đầu sáu tay đâu mà nhiều dữ thần làm vậy. Chú nghĩ tui nói có đúng hông? Ừa còn con Mén nữa, con hai Mén phơi phới thơm như muí mít mà lại đi làm bé chả, chú nghĩ coi có ức không? Phải chi chả làm vua làm chúa gì thì hổng nói….đàng này chả cũng là con người mà.
Tên Năm bỗng đổi giọng:
– Chú muốn con Hai Mén về làm vợ chú hông? Tui không nói cho con Lép nó biết đâu à.
Hai Hường cãi liền:
– Mà con Lép có phải là vợ tui đâu mà tui lo.
Năm cười lớn:
– Bậy! Đừng có nghĩ bậy mà hổng nên hổng phải nghen chú Hai. Dù sao con Lép nó cũng ăn ở với chú hết lòng từ ngày nó còn là một đứa mồ côi chú cũng hoàn cảnh như nó…sao nay chú chưa gì mà muốn phản bội nó sao.
Y ngừng lời nhấp một ly. Y nói tiếp:
– Nhưng mà hông sao. Tui biết mà, tuổi trẻ thanh niên rày đây mai đó bồ bịch mèo chuột chút xíu đâu có sao đâu mà chú ngại. Hồi tui ở cái tuổi của chú tui cũng vậy mà. Nhưng có một điều quan trọng tui muốn chú nhớ. Chú có nghe tui nói gì hông?
Hai Hường mờ ớ:
– Dạ nghe chớ anh Năm.
– Được, chú khá lắm. Chú là thành phần tổ chức đang cần. Chú có đủ điều kiện để theo anh em. Nhưng hôm nay chỉ có bấy nhiêu thôi. Chú về suy nghĩ đi rồi vài mươi bũa nửa tháng gì đó chú Tám đây sẽ hẹn gặp lại chú. Chú nhớ cho một điều này quan trọng nè. Một là mình làm anh em, hai là chuyện chú với con hai Mén sẽ đến tai ông Hội Đồng. Chú muốn chọn điều nào tùy chú đó nha. Thôi mình ăn nhậu đi.

Hai Hường lùng bùng lỗ tai, y không biết ba người đàn ông nầy cần gì ở y. Họ ăn nói những chuyện mà y chưa bao giờ nghĩ tới. Những chuyện không ăn nhậu gì đến y hết. Nhung y cũng mường tượng được là y bị bắt chẹt vào ngõ cùng. Y lắc đầu mấy lượt và đứng dậy kiếu từ:
– Anh Năm với mấy anh ở lại nhậu chơi đi nghen…tui phải về có công chuyện. Bữa nay gặp lần đầu để tui mời mấy anh một chầu nầy làm quen.
Bây giờ người đàn ông tên Bảy mới lên tiếng:
– Ê! Đâu có được chú em, để đó cho tụi nầy. Chú cứ đi lo công chuyện của chú cho xong đi Tụi nầy biết chú hào sảng đúng điệu nghệ dân chơi nên mới đến rủ chú đi nhậu đó chớ. Về đi , về lo cho xong công chuyện đi nha. Bữa nào gặp lại.

Hai Hường lẳng lặng không nói không rằng quay lưng đi một nước. Vừa đi y vừa nghĩ lung lắm. Y bước đến chân đầu cầu ván mà y không hay biết chút xíu nữa là vấp té ngã nhào. Y bước lên cầu ván, trước khi bước vô khoang trong y ngó ngoái lại coi thử 3 người còn ngồi đó không. Nhưng xa quá và trời đã mờ mờ nên không thấy gì. Thở hắt ra một hơi dài Hai Hường bước thẳng vô khoang trong. Một tay trai bạn cùng ghe thấy y quay trở về chạy ra ồn ào:
– Ý trời đất quỷ thần ơi! Anh đi đâu mà mất biệt vậy anh Hai, có người tìm anh nè.
– Ai vậy?
– Thì cái bà nào đó…í mà cô…ai mà biết anh đi đâu. Tui thấy xị rượu còn để đây tô canh nguội ngắt mà không biết anh đi đâu. Cổ nói lát nữa, chặp tối sẽ lại nữa đó. Cha chả…ngon dữ anh hai, coi bộ anh đắc hàng nghen.
Người thanh niên nhe răng cười khoái trá tiếp:
– Tụi nó nói anh có nhậu hông thì qua chỗ tụi nó, tui thì đã rồi bây giờ đi ngũ.
Hai Hường ngồi phịch xuống sạp móc gói thuốc ra, gói thuốc bị gãy gập làm hai nhăn nhúm. Móc ra một điếu vuốt cho thẳng thớm Hai Hường bật quẹt châm lửa, làn khói thơm nồng, ánh lửa lóe lên trên đầu điếu thuốc soi gương mặt nhăn nhó của y. Người bạn cùng ghe chìa tay ra:
– Cho tui điếu anh hai.
Hai Hường ném gói thuốc qua chỗ người thanh niên. Rút một điếu châm lửa rít một hơi dài anh hỏi:
– Anh đi đâu về mà mặt mày bí xị như đưa đám vậy anh Hai.
Hai Hường ngó người bạn lắc đầu không nói. Người bạn tò mò:
– Có chuyện gì thì anh nói ra đi tụi em đâu có để anh thiệt đâu.
Và người thanh niên hăng hái:
– Tụi mình dù hèn cũng thể chớ anh. Aên đồng chia đủ mà, sống chết có nhau chớ. Anh bị tụi nào ăn giựt hả, hay là bị gái nó gạt? Chà, cái chuyện gì chớ chuyện gaí thì tụi này chịu thua nha, hổng làm gì được đâu. Đù…mẹ đánh lộn với con gái chán lắm.
Hai Hường vẫn tiếp tucï làm thinh. Câu chuyện người đàn ông tên Năm nói với y hồi chiều này trong bàn nhậu làm y suy nghĩ. Y cứ nghĩ hoài mà không ra. Tại sao đám người này tìm y? Họ muốn ở y chuyện gì? Mà tổ chức gì gì đó là tổ chức gì mới được chớ? Cái đám nầy làm sao biết chuyện y với con Lép hồi năm hồi nẳm. Cứ theo cái điệu nầy thì họ đã biết rỏ quê quán của y, chuyện con Lép….Điều làm y suy nghĩ muốn bể cái đầu nhứt là họ vô tình gặp y tò te mèo chuột với chị Hai Mén hay là họ cố ý theo dõi y. Y lầu bầu than thở:
– Đù…mẹ năm xui tháng hạn gặp cái nạn nầy.
Người thanh niên ngó y:
– Anh nói cái gì anh Hai?
– Ờ…ờ hổng có gì đâu. Đù …mẹ tao nhậu mới có mấy xị mà nhức đầu quá. Rượu gì mà dỡ ẹt.
Người thanh niên cười:
– Thì bây giờ đi giải nghể đi. Làm vô mấy ly nữa là hết liền hà. Hay là nhào xuống sông bơi một vòng là tỉnh rụi liền.
– Bơi là mầy bơi đó. Nhào xuống cho Hà Bá kéo luôn sao mầy. Trúng gió thì có bà mà đở.
Thanh niên cười:
– Hay là tui dzới anh Hai vô chợ kiếm mấy đứa con gái tán phét chơi cho giả rượu. Tui có quen một con kia ngọt lắm. Nó ca sáu câu mùi rịu hà. Tui coi cái bộ tịch của nó chắc cũng chịu đèn rồi. Biết đâu xáp vô có chỗ ăn chỗ ngủ anh Hai.
Hai Hường nằm bật ngữa ra ván sạp thở phì phì:
– Mầy có đi thì đi đi….hổng lẽ tao với mầy chết chung một “lổ” coi sao được. Tao cũng thèm lắm mà thôi để bữa khác. Bữa nay tao xỉn quá trời đất rồi.

57. Hai Hường tiếp tục nắm im ngó trời. Bầu trời đầy sao lấp lánh, nước sông xập xình chiếc ghe bầu, thân hình y lắc lư theo nhịp sóng vỗ. Y có cảm giác lâng lâng như người đi trên mây. Y chóng mặt thiệt sự, cần cổ lợn cợn, cái bụng nhốn nháo. Y xoay mình nắm nghiêng, người bạn của y ngồi dựa mạn thuyền bên kia bập phì điếu thuốc. Y bỗng hỏi:
– Mầy nói hồi chiều có ai kiếm tao hả? Cổ có nói tên gì hông?
– Tui hổng nhớ, nhưng mà cổ thứ Hai. In tuồng…như là hai Mén thì phải.
Hai Hường nhổm dậy la thầm:
– Chết mẹ…nó đi đâu trên nầy.
Hai Hường tỉnh rượu ngồi nhổm dậy:
– Mầy nhớ lại coi, hình dạng, tóc tai mặt mày người ta ra làm sao…mầy cứ mờ ớ in tuồng làm tao chán quá.
Người thanh niên ngó Hai Hường chăm bẳm:
– Ủa, mà sao anh Hai có cái vẻ như là nóng nước đỏ gọng lắm thì phải. Ơ! Thì tui hổng nhớ tui nói in tuồng chớ làm sao. Úi, mà thây kệ bà nó, nếu chỉ mà cần anh Hai thì chỉ mò tới kiếm nữa bây giờ. Ê! Hỏi thiệt anh Hai nghen, anh có tới mầy bà vợ lận anh Hai. Coi cái tướng vậy mà nhiều vợ quá sá. Mỗi bến sông là một bà hả anh Hai.
Hai Hường nạt nộ:
– Vợ cái mã ông già mầy. Đ.M vợ với con cái gì, hổng biết là ai mà vợ con.
– Ủa mà sao anh nóng quá vậy? Hổng phải thì thôi chớ làm cái bộ gì …coi anh cà. Thôi xỉn rồi ngủ đi cha, tui đi xuống bến tán dóc với mấy con nhỏ gánh nước.
Người thanh niên bước đi cất tiếng ca một bài tân cổ giao duyên, người đi rồi tiếng ca còn văng vẳng vô tai Hai Hường …”Em gái vườn quê, tuổi còn trong trắng, dầm mưa giải nắng mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm” và anh xuống câu vọng cổ ồ ề trật nhịp: “Em gái vườn quê ơi xin em đừng đợi, đừng chơ,ø đừng mong, đừng trách…anh biết người em gái kia vẫn tháng năm mòn mỏi đợi….chờ Anh đãø ra đi qua mấy độ trăng rằm…” Hai Hường mặc cho tiếng ca vô tai nầy chun qua tai khác. Y nằm thiêm thiếp không phải y say, y ngủ mà vì trong lòng y đang nổi phong ba. Trở mình qua bên này chán rồi y lăn qua bên nọ. Chiều nay gặp lại mấy người đàn ông, trong đó anh Năm đã bắt quả tang y đang xà nẹo với con Hai Mén vợ nhỏ ông Hội Đồng. Cái tội nầy khó tha, ông Hội Đồng mà biết được thì y có nước trốn biệt. Cái thời bây giờ không phải như ngày xa xưa thời vua quan phong kiến, cũng không phải cái thời Nam Kỳ Quốc có ông Tây mũi lỏ bảo hộ, nhưng chánh thể Cộng Hòa cũng còn rớt lại mấy ông Hội Đồng, Hương Quản ở trong làng với tiền muôn bạc vạn, quen lớn biết nhiều thế lực ba chê, dân đen mà lạng quạng ở tù như chơi. Đó là chưa nói “mấy ảnh” ở trỏng nữa. Mấy ảnh không phải là ông hương ông xã mà mấy ảnh có súng, mấy ảnh mò ra đường quốc lộ bắn người ta chết tươi. Hai Hường nằm nghiêng, nằm ngửa, lăn qua trở lại trên tấm ván sạp và y ngủ khò hồi nào không hay. Con thuyền chòng chành trên giòng sông Tiền, từ đây xuống chợ Mỹ Tho, Rạch Miễu chừng một ngày đường sông. (Tỉnh Mỹ Tho còn có tên là Định Tường, diện tích chừng 2.000 km2, dân ít đất rộng có thành phố Mỹ Tho là chính với các quận huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo… phía bắc giáp Long An, phía tây giáp với Đồng Tháp Mười, phía đông tiếp giáp với cửa Soài Rạp và biển Đông, phía nam giáp Bến Tre (Kiến Hòa.) Thị xã Mỹ Tho cách thành phố Sài Gòn 70 km. Khí hậu vùng sông Tiền giang chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình năm 27 độ C, lượng mưa trung bình. Các sông chính: sông Tiền, Gò Công, Bảo Định và nhiều kinh đào thuận tiện cho giao thông đường thủy. Từ Định Tường có thể đi Sài Gòn hoặc Nam Vang bằng đường sông. Đường bộ chính của Định Tường là quốc lộ 4, chạy xuyên qua các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Là tỉnh đồng bằng, địa hình Định Tường chia thành ba vùng rõ rệt: vùng cây trái ven sông Tiền, vùng Đồng Tháp Mười và vùng ven biển Gò Công. Tiền Giang có đường biển rất nhiều cá, đất đai phì nhiêu, là một trong những vựa lúa lớn của đồng bằng sông Cửu Long. Mỹ Tho là nơi hội tụ đủ loại sản vật và hoa trái nổi tiếng như mận hồng đào Trung Lương, vú sữa Vinh Kim, xoài cát, cam sành, ổi sá lị Cái Bè. (Đinh Tường Xưa và Nay -Huỳnh Minh-Danh Lam Thằng Cảnh Nam Phần)
58. Bà Năm Hương đi chợ buổi sáng sớm con gái bà là cô Tư Hậu bơi xuồng chở bà đi, khi về bà quá giang xuồng người khác. Đến nhà vào khoảng xế trưa, con gaí bà, cô Tư Hậu chưa về, cô cùng với bạn là cô Ba Lụa đi thăm bạn. Hai người vô tình gặp cô Sáu Nguyệt Nga tại nhà chị Tư. Chiều hôm đó cả ba cô gái cùng giang xuồng về một lần.
Tư Hậu ngó thấy bạn mình là Sáu Nguyệt Nga bèo nhèo như tấm giẻ lau nên thương cảm, cô đưa đề nghị:
– Sáu à, tui nghĩ bà về nhà giác nầy chắc bà cũng hổng có làm gì, bà qua nhà tui một chút cho tỉnh táo rồi tối về nha.
Sáu Nguyệt Nga nhìn bạn cảm ơn, đôi mắt vô hồn trông như buổi chiều trời giăng đầy mây xám trước cơn mưa. Ba Lụa đốc vô:
– Thì về làm gì giác nầy. Cơm trưa ăn rồi mà cơm tối thì chưa tới bữa. Thôi qua phức nhà con Tư Hậu kiếm cái gì ăn rồi mình nói chuyện sau. Đi đi…mình đi đi. Tui quay mũi xuồng vô nhà nó đây nha.

Sáu Nguyệt Nga vẫn chưa nói lời nào để mặc tình cho hai người bạn gái muốn làm gì thì làm. Nguyệt Nga đã thay chiếc áo bà ba cổ tròn màu xanh điểm bông trắng li ti. Từ ngày về chợ, Sáu Nguyệt Nga không có bộ áo bà ba nào màu đen hay màu nâu giống như các cô gái quê thường mặc khi ra ruộng. Hôm nay trở lại làng cũ, Nguyệt Nga chọn cho mình chiếc áo màu xanh trang nhả không quá lòe loặt không giống ai so với các bạn cùng trang lứa trong xóm. Nguyệt Nga không muốn gây ấn tượng xấu với người thân quen. Đầu nhức lâm râm như có đàn kiến đang bò bên trong, đôi mắt vẫn còn đỏ hoe sau những biến cố trong buổi sáng. Nguyệt Nga ngồi thẳng lưng, Nhân Hậu ngồi đối mặt với bạn, Lụa bơi xuồng ngồi đàng sau. Nhân Hậu ngó bạn hồi lâu rồi nhỏ nhẹ lên tiếng:
– Nga nè, lần nầy Nga đừng có đi đâu nữa, nói cho cùng thì không ai thương mình bằng ông bà cha mẹ. Oång bả hay la hay rầy nhưng cha mẹ nào cũng thương con. Từ cái ngày năm đó tui tưởng đâu Nga sẽ được sung sướng tấm thân…đâu có mà ngờ chuyện gì đâu nó tới liền liền như vậy.
Nhân hậu ngừng nói thăm dò ý của bạn. Nguyệt Nga nghiêng đầu vục nước rửa mặt. Kéo chiếc khăn đang quần trên đầu xuống lau mặt, mắt nhìn Nhân Hậu tỏ dấu cảm ơn sự an ủi của bạn. Nhân Hậu mạnh dạn hơn tiếp lời:
– Nói thiệt Nga nghe nghen, đâu phải cuộc đời con người ta hổng lấy được chồng là chết đâu cà. Thanh niên trong xóm mình cũng có người thương Nga mà Nga hổng biết đó thôi. Phải chi ngày đó đừng bỏ làng ra chợ thì cũng yên ấm tấm thân rồi.

Nghe nhắc đến chuyện cũ, Nguyệt Nga nét mặt dàu dàu ngồi làm thinh, Lụa bơi xuống sau lái nháy mắt với Nhân Hậu biểu im. Nhân Hậu giựt mình cười cho qua chuyện, miệng lẩm bẩm:
“Thiệt là bậy bạ, ăn mắm ăn muối nói sảng gì đâu không hà.” Nàng ngồi sát qua một bên bạn choàng tay ôm vai Nguyệt Nga:
– Thôi bỏ qua nghen, bây giờ về nhà kiếm chút gì ăn rồi mình nói chuyện sau.

Chiếc xuồng bấm mũi tấp vô con lạch nhỏ, Lụa múc mạnh mái dầm bơi ào ào xuyên qua mấy hàng dừa đang rủ bóng xuống con mương. Nhân Hậu dứng lên nhảy phóc vô bờ khi chiếc xuồng chưa ủi vô bải, cột xuồng vô gốc cây vói tay ra nắm tay Nguyệt Nga kéo lên:
– Con Lụa đem mấy cái giỏ lên giùm cho tao nghen, tao chạy vô trước.
Nắm tay bạn, Nhân Hậu kéo bạn bước qua vườn cau vô sân nhà đàng sau, bà Năm Hương đang múc nước trong khạp nghe tiếng động ngước lên.
– Mèn ơi dữ thần hông. Mầy đi đâu mà lâu quá trời vậy tư? Thằng Sáu nó mới qua tìm mầy đó.
Ngó thấy Sáu NguyệtNga đi một bên, bà chào:
– Hèn lâu dữ a. Con Sáu về chơi đó hả?
Nguyệt Nga khép nép nhỏ nhẹ như nàng dâu mới về nhà chồng:
– Dạ thím Năm khoẻ hông?
Bà Năm đứng thẳng người lên, kéo chéo khăn lau mép dính nước cốt trầu:
– Cũng thường thôi mầy ơi. Cha chả, ăn bận coi đẹp quá đi chớ, ngó cái bộ mầy như rắn mồng năm vậy. Về chơi bao lâu?
Nhân Hậu nhăn mặt cười:
– Chèn ơi, má nói má hỏi la-phanh nó biết đường đâu mà trả lời. Má đang làm gì đó.
Bà Năm cười trả lời con:
– Ừa, ông già mầy ổng nói ổng ể mình muốn ăn cháo gà, sẵn tao cũng thèm tao bắt con gà mái dầu ở trỏng nấu nước làm gà, mầy về kịp phụ tao một tay.
Rồi bà Năm quay lưng đi vô nhà sau khi ngó Nguyệt Nga nói:
– Mầy ở lại chơi nghen Sáu.
– Dạ thím Năm.
Ba Lụa từ đàng xa la lớn:
– Còn tui ngoài nầy nữa thím Năm ơi.
Bà Năm Hương đứng lại ngó quay lui nhìn thấy Lụa đang đi vô vườn, bà cười:
– Con quỷ mầy, mầy đi với con Hậu từ sáng đến giờ đó hả?
Lụa bước vô sân trả lời:
– Dạ thím Năm, hồi sáng thím thấy đó mà. Mèn ơi lát nữa vô nhà kể lại thím Năm nghe.
Nhân Hậu nạt lớn:
– Cái con quỷ nhiều chuyện.

Bà Năm lắc đầu bước luôn vô nhà bếp. Ba cô gái kéo theo vô nhà, Lụa bỏ giỏ đệm xuống đất thở hắt ra:
– Thím biết sao hông. Con Tư nó mới đoản hậu ghê, mua cho cố vô rồi nó bắt tui xách muốn quẹo xương sống. Trên đường ngoài sông lớn vô đây nó ngồi như bà hoàng bà chúa nó bắt tui bơi xuồng đổ mồ hôi mẹ mồi hôi con.
Nhân Hậu cười to:
– Má tao bả biết mầy hết ráo rồi Lụa à, đừng có thêm bớt cho mất công, bữa nay bả có cháo gà đó nói thêm vô chút nữa bả cho cái phao câu.
Lụa ngồi phịch xuống bộ ván:
– Thiệt tình, tao mà nói thêm cho mầy, có con Sáu nó làm chứng đó nghen.
Bà năm Hương mĩm cười. Nhân Hậu kéo bạn ngồi xuống bộ ván day qua bà năm Hương nói:
– Má có nấu cơm chưa? Tui có mấy con cá trê đây, nấu nồi canh bầu với cá trê ăn cho mát.
Bà Năm la con:
– Đã nói là ba mầy ể mình muốn ăn cháo nấu cơm làm gì?
Nhân Hậu nhăn mặt:
– Cháo ăn mau đói, tui bắt nồi cơm để tối ăn. Ba chén cháo thì thấm béo gì.
Nhân Hậu lấy nồi xúc gạo đi nấu cơm.

59. Căn nhà ấm lên nhờ có đông người, ông Năm Hương ngồi ở nhà trên bắt tréo chân chữ ngũ uống trà ngó vườn cây đợi bữa cơm chiều. Thằng Út Giữa nằm ngửa trên bộ ván ngoài hàng ba đập ruồi miệng ca nghêu ngao. Bữa cơm chiều rồi cũng dọn lên. Nhà Năm Hương đông người nấu một nồi cơm to để giữa bộ ván, nồi cháo bốc khói thơm lừng để một bên, dĩa gỏi ga xé phay thộn bắp chuối, dĩa bún xào lòng gà, thịt gà chặt miếng, nồi cá kho và nồi canh cá trê nấu với bầu. Mấy đứa em Nhân Hậu về chưa đủ chỉ có thằng Ut giữa với con Tám thêm hai người bạn gái ngồi chật bộ ván ở giữa nhà.
Nhân Hậu xới cơm ra chén, thằng Ut giữa giựt chén trên tay chị Tư nó:
– Chị để tui ăn cháo trước.
Nhân Hậu nạt em:
– Mầy làm cái gì mà giựt trên tay tao, thủng thỉnh chớ làm gì như chết đói mấy mươi đời vương vậy hả.
Thằng Út nhăn mặt:
– Chị làm tàng hoài, giựt cái gì mà giựt, hồi chiều anh Sáu ảnh kiếm chị đó.
– Lảng nhách. Kệ ảnh. Lóng rày mầy đi với ảnh miết đó nghen, ảnh nhắn nhe gì với mầy?
– Aûnh nói lâu rồi ảnh chưa gặp chị, chị đi đâu mà đi hoài?
Nhân Hậu bỗng dưng đỏ mặt:
– Cái anh nầy mới là kỳ đó nha, tao đi đâu thì kệ tía tao chớ ảnh hỏi làm gì?
Ông Năm Hương húp cháo sột sột:
– Hai đứa tụi bay như chó với mèo. Lo mà ăn đi để còn dọn dẹp tối hù rồi kia cà.
Ông để chén cháo xuống phản, ngó Nhân Hậu nghiêm nghị:
– À, còn chuyện của mầy ra làm sao hả Hậu?
Nhân Hậu ngước nhìn dò xét:
– Chuyện gì là chuyện gì vậy ba?
– Chuyện mầy với thằng Sáu chớ chuyện gì nữa?
Nhân Hậu mấp máy đôi môi muốn nói gì đó rồi lại im. Ông Năm Hương ngó vợ:
– Còn bà?
Bà Năm nhìn chồng:
– Tui sao ông?
– Bà là mẹ nó bàbiết chuyện của nó chớ?
Hai cô gái từ nãy giờ ngồi làm thinh nghe ông Năm bà Năm nói chuyện dừng tay lóng tai nghe. Ông Năm bỏ đủa xuống vói tay sau lưng đập muỗi, gải sồn sột, tắng hắng mấy lượt:
– Tui nghe nói là thằng Sáu nó chịu con Tư nhà mình, nhưng lâu rồi tui không nghe bà nói gì nên tui mới thuận miệng hỏi luôn. Thì con gaí nó lớn rồi nhắm được thì gả phức cho rồi, con gái con lứa lớn rồi thì chuyện dựng vợ gả chồng nên tính cho nó sớm.
Không biết vô tình hay hữu ý ông Năm vừa nói vừa ngó Sáu Nguyệt Nga. Bà Năm thủng thỉnh múc canh bầu từ trong nồi ra tô, thằng Út thò đủa gắp con cá trên trong nồi bỏ vô chén. Nhân Hậu trở đầu đủa gỏ tay em:
– Cái thằng này hổn ghê chưa. Sao mầy thò đủa huậy trong nồi?
Thằng Út thụt tay lại la lớn:
– Chị Tư!
Bà Năm Hương la hai đứa con:
– Tụi bay thiệt tình như là chó với mèo, có khách ở đây mà làm như còn con nít con nôi. Thằng Ut mầy cũng lớn rồi đó nghen, tươm tướp như thằng con nít.
Ông Năm Hương lắc đầu, đưa tay cầm chung rượu, ông quên mất câu chuyện đang nói dở dang. BàNăm cũng lờ đi luôn. Nhân Hậu đỏ mặt ngó hai người bạn ngồi bên. Sáu Nguyệt Nga cúi đầu nhai cơm, cái nhìn vô tình của ông Năm Hương làm cho cô thót bụng, nỗi ám ảnh trở lại với cô, cầm đôi đủa chén cơm cô và không vô, búng cơm trong miệng chợt nghe đắng nghét. Sáu Nguyệt Nga lòng lạnh như đồng, mọi chuyện đối với nàng bây giờ không còn ý nghĩa gì nữa. Những lời Nhân Hậu khuyên, những lời an ủi của Lụa, những lời chỉ vẽ chân tình của hai vợ chồng ông Năm Hương không làm cho Nguyệt Nga vui lên chút nào. Mặc ủ mày châu như con gà mắc nước. Nguyệt Nga thẩn thờ ngồi im bên mâm cơm măïc cho mọi người cười nói. Càng tủi cho phận mình, Nguyệt Nga không biết đổ lỗi cho ai, nàng càng hận ông Trời. Nàng muốn la hét thiệt to cho hả nỗi uất ức cất chứa trong lòng. Những câu hỏi lộn xộn hiện ra trong đầu. Số phận có hay không? Ông Trời có mắt hay ông trời mù, Tiên Phật Thánh Thần, các đấng thiêng liêng, ông bà ông vãi ở đâu…Nguyệt Nga muốn bật khóc. Nàng đã làm lầm làm lỗi gì mà nàng phải chịu cảnh trái ngang. Không khóc nhưng nước mắt tự dưng ứa ra hai bên khóe. Ông Năm Hương nhâm nhị ly rượu đế, đưa cay mấy miếng thịt gà xé phay, ông ngồi trầm ngâm. Bà Năm vừa ăn bà vừa trông chừng ra cửa như mong đợi đám con sắp về. Bất chợt bà thở dài:
– Mấy cái đứa nầy đi đâu mà biệt dạng từ bảnh mắt tới giờ vẫn chưa về vậy ông?
Ông Năm Hương đăït ly rượu xuống bộ ván, ngó vợ, lắc đầu:
– Bà sao mà khéo hỏi, thì nó đi chơi, đi ra đồng ra ruộng biết đâu mà nói. Ui, nó đi đâu thì kệ tía nó, mình con bầy mà bà sợ gì?
Bà Năm hứ một tiếng:
– Ông làm con tui như gà, mất con nào kệ mẹ nó hả, mất rồi đẻ đứa khác hả? Ông hổng mang nặng đẻ đau nên ông đâu có thương, có lo gì đâu.
Năm Hương không trả lời vợ, ông nhìn qua đứa con gái lớn của ông:
– Hậu à, mầy nghĩ mà coi má mầy bả nói như vậy coi có đúng hông mầy? Mầy coi tao có thương tụi nó hay không?
Nhân Hậu biết tía ngà ngà say, mấy lúc gần đây tía nàng sức khỏe giảm sút cho nên vô vài ly đã ngà ngà và hay nói chuyện đời xưa, nhớ những thời gian còn ở trên thị xã Tân An. Ông hay đề cập đến chuyện quốc sự-chánh trị. Nhân Hậu cố gắng cười để đưa bữa ăn trở lại bình thường. Nhìn con bạn ngồi im một đống chần vần mặt ủ mày châu, nghe bà già ông già nói chuyện bao đồng, Nhân Hậu tự thấy mình có trách nhiệm điều hòa không khí.
– Ba nói thì cũng phải mà má nói nghe cũng thông. Nhưng làm sao bữa nay phát cái chứng gì mà nói toàn chuyện gì đâu không hà. Nghe chán muốn chết.
Năm Hương cười với con:
– Mầy ba phải quá trời.
Bà Năm bỏ đủa xuống, đứng lên bước trở vô bếp:
– Tao đi lấy thêm thịt gà. Tính để dành phần cho mấy đứa nhỏ nhưng thôi, có cháo húp ấm bụng được rồi, phần gà xé phay cho ông già mầy ổng nhậu.
Ông Năm Hương cười cười ngó theo bưóc chưn của vơ, nói:
– Mầy thấy hông Tư, bả nói gì thì nói chớ bả cũng đâu có bỏ tao được đâu mầy. Bà làm vương làm tướng gì tao hổng biết, nhưng chắc cú một điều là tụi bay hổng ra đời nếu hổng có tao. Con hông cha như nhà hông nóc mà mậy.
Năm Hương rung đùi khoan khoái nhấp thêm một ngụm rượu, ông tiếp:
– Nhớ nghe tụi bay, như thể cái nhà mà hổng có cái nóc tao đố làm sao mà tụi bay ở cho được. Nè, mưa, nắng…í chu mẹt ơi, đủ thứ bấttiện hết trơn hết trọi.
Nhân Hậu bụm miệng không giám cười, nàng ngó hai đứa bạn. Nguyệt Nga đang nhai cơm cầm chừng, Lụa đang nhướng mắt nhìn ông Năm Hương ra cái điều đang lóng tai nghe, cái miệng nó chúm chím cười. Nhân Hậu nuốt lẹ miếng cơm trong miệng, ngắt lời:
– Ba nói như thiệt hổng bằng.
Năm Hương trợn mắt dòm con gái:
– Ủa, chớ mầy tưởng tao nói giỡn chơi chắc? Đó là chuyện thực tế mà mầy. Tao hổng nói sai bao giờ.
Nhân Hậu cố nín cười khi nhìn thấy Lụa chăm chú như nuốt từng lời của ba nàng. Không biết Lụa tin thiệt hay giả bộ, nhưng ngó vẽ mặt của Lụa, Nhân Hậu biết nó đang lóng tai nghe:
– Thì tui có nói ba nói giỡn chơi hồi nào đâu. Tui nói là cái chuyện cái nóc nhà ba ví von nó đâu phải nhu ba nói đâu à?
Năm Hương cười ha hả day người qua ngó con:
– Vậy nó làm sao mầy nói tao nghe coi. Tao biết mầy có đi học. À, mà tao cho mầy đi học chớ ai. Phải hông?
Nhân Hậu biết cha nàng đang say nói năng không đầu đuôi. Bà Năm Hương bưng dĩa thịt gà bước ra từ nhà bếp. Bà chồm người ngang qua mâm cơm để nó sát bên chỗ ông Năm ngồi:
– Đó, ông ăn cho phỉ bữa nay đi nha. Lâu qua rồi tui không thấy ông ăn ngủ không điều nên cũng đâm ra lo. Hồi chiều này nghe ông muốn ăn gà xé phay tui làm liền.
Ba cô gái kín đáo ngó nhau trao đổi ánh mắt thông cảm. Trước mặt họ sự biểu lộ tình yêu thương của đôi vợ chồng già đáng kính trọng. Nguyệt Nga càng tủi thân. Nàng lên tiếng như muốn phá tan những nỗi sầu đang chất chứa bên trong:
– Chú thím Năm tình ghê tụi bay ơi. Tao thiệt thấy mà ham luôn.
Bà Năm vẫn tỉnh rụi:
– Cái gì mà tụi bay nói tình?
Nguyệt Nga nuốt vội vàng miếng cơm:
– Thì cháu nói là thấy vợ chồng thím Năm như vậy tui ham chớ sao?
Bà Năm vẫn còn nụ cười hiên hậu trên môi:
– Ngó vậy mà khổ lắm đó Sáu. Cái gì cũng vậy hết trơn, số mạng chớ hồi đó thím đâu có biết mặt ổng là ai. Hồi đó …hồi đó
Ông Năm Hương chận ngang:
– Cái gì mà hồi đó, hồi đó hoài. Ý là bà muốn nói hồi đó bà bị ba má bà ép lấy tui chớ gì?
Bà Năm ngồi xuống, tay bà cầm chén, một tay cầm cái vá múc cháo. Bà lắc đầu:
– Cái tật nó lớn hơn cái tuổi. Ông sao hổng chịu bỏ cái tật tươm tướp. Tui nói như vậy hồi nào?
Năm Hương trả lời, giọng ông hơi yếu:
– Thì tui đồ chừng là như vậy thôi. Chớ tại làm sao mỗi lần nói đến chuyện tui dzí bà thì bà cứ ngúng nga ngúng ngẩy là cớ làm sao?
– Cũng ông hông hà. Hổng sợ mấy đứa con nít nó cười.
Lụa cười chúm chím:
– Chú Năm thím Năm coi bộ còn gân dữ nha. Còn hơn là tụi cháu cãi lộn nữa đó.
Bà Năm hiền từ nhỏ giọng:
– Trẻ gì nữa con Ba mầy. Hơn nữa đời người rồi còn gì. Có ổng thì có, ai thuở đời nghe chưa rõ đã nhảy vô bản họng chận trái khế người ta rồi. Phải hổng có mấy đứa làm chứng ổng giám vu oan giá họa cho thím ắn hiếp ổng lắm đó.
Năm Hương cười hềnh hệch không trả lời. Nguyệt Nga hỏi:
– Cứ coi cái chuyện của chú thím Năm đây, tui nghĩ là hồi còn trẻ chú thím thương yêu nhau lắm phải hông?
Năm Hương nhảy vô liền:
– Nói nào nào ngay, hổng thương sao có cả chục đủ đầu trong nhà đó Sáu. Nói ra bả lại nhảy vô bản họng chớ thiệt ra bả làm như chỉ có bả là thương con thôi hè. Con gà nó còn biết thương con hà huống gì mình tụi bay.
– Thì tui có giành thương mình ên tui đâu cà. Tại ông nói làm tui thấy ghét.
Năm Hương bỗng đổi giọng nói trây:
– Ừa, ghét tui mà con cái nó lủ khủ, nếu mà bà thương tui có nước bây giờ nó ở trong nhà như một bầy gà rồi hén.
Bà Năm hứ:
– Aên nói tầm ruồng hổng sợ tụi nó cười cho thúi đầu?
Năm Hương cười ha hả, mấy cô gái cũng cười theo. Được nước Năm Hương khề khà nói luôn:
– Nhân tiện đây tao nói cho mấy đứa nghe luôn. Cái thói thường hể ăn ít thì no lâu mà ăn nhiều thì tức bụng. Cái gì cũng vậy, cái đời bây giờ nó tân tiến quá mạng cho nên con trai con gái nó biết với nhau trước, nó còn đi qua đi lại trước khi mẹ cha cướihỏi. Tao nói thiệt, cái hồi đó tao với bả đâu có biết mẹ gì đâu. Nghe nói sao hay vậy, rồi về với nhau mới ăn ở mới nẩy ra cái tình thương nhau. Mà tao kinh nghiệm, hễ mà mình chìu nhau quá, mình thỏa mãn quá thì nó mau chán. Cái đó là thanh niên đời nay hay mắc phải đó. Còn tao với bả…hì…hì…ăn cầm hơi nên lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi…hổng bứt ra được. Chỉ có cái tội là tao với bả…
Năm Hương nói tới đó ngừng lại, ngó vợ, bà Năm lặng thinh. Không nghe vợ nhảy nhổm nhảy dựng lên, Năm Hương cụt hứng nói tiếp:
– Tao với bả ông thầy bói nói là cái tuổi khắc khẩu.
– Hèn gì. Lụa bất ngờ xen vô.
Năm Hương hả một tiếng lớn, day qua ngó Lụa:
– Sao? Con Ba mầy nói sao?
Lụa cười:
– Dạ thì cháu nói hèn gì mà chú dzới thím hể mở miệng ra là có chuyện liền hà.
– Ừa, khắc khẩu còn hơn là khắc mạng.
Nguyệt Nga rướn người lên, bẻ mình, ngồi sát vô mâm hơn. Nàng có vẻ đang chú ý nghe. Năm Hương ngó quanh mâm cơm, tay chỉ thằng Út:
– Cái hồi bả có bụng thằng nầy nè, bả khó ăn khó ở, đi coi tuổi thì nó sẽ khắc mạng, nó làm cho bả rêm mình rêm mẩy, nhưng nó lại hạp với tao. Cái mạng quý hơn cái miệng cho nên thà tao với bả khắc cái miệng mà ăn đời ở kiếp còn hơn.
Nguyệt Nga hỏi tới:
– Là sao chú Năm, tui hổng hiểu.
Năm Hương, chồm tay qua bàn thờ trên nóc tủ đứng làm bằng cây mít lên nước vàng bóng có vân đen nổi rõ trên từng thớ gỗ. Lật qua lật lại mấy trang, Năm Hương chìa ra cho mọi người ngó thấy tấm bản đồ hình vuông với chi chít con số và chữ trên đó.
– Đây kêu bằng dịch số bát quái, nói di chuyển trong vũ trụ trời đất, nó chi phối đời sống con người mà con người không thể nào chối bỏ được.
Nguyệt Nga nhón sát gần hơn nhìn cho kỹ:
– Ủa vậy ra đây là cái lá số con người ta kêu bằng tử vi gì đó hả chú Năm.
Năm Hương lắc đầu:
-Hông. Đây là lá số …cái gì …mẹ họ, ổng mới nói mà tao quên mất tiêu. Mà thôi để tao nói tiếp. Con người của mình đây là một vũ trụ nghen, hể đất trời chuyển động là con người mình chuyển theo…A…do đó mỗi con người khi sanh ra đời đã có sẵn cái nghiệp trong mình rồi. Nghiệp lành hay nghiệp dữ do mình tạo ra…Cũng tỉ như ông bà ngày xưa nói là “Con là nợ vợ là oan gia nhà là nghiệp cướng”…cái đó kêu bằng…mẹ họ bực thiệt mà, cái đầu lóng rày sao mà nói trước quên sau. Ổng mới nói với tao đây mà.
Bà Năm chận lại:
– Cái gì? Ông nói cái gì? Tui là oan gia hả? Chời ơi, ông ăn nói hổng sợ con cháu nó nghe.
Nhân Hậu chúm chím cười hỏi:
– Con thấy quyển sách nầy đâu phải của ba đâu cà. Lâu nay con đâu có thấy ba đọc bao giờ đâu….mà sao ba nói có pho có phách rạch ròi quá vậy ba?
Năm Hương nhìn con cười vui vẽ:
– Thì của ông thầy trên núi Cấm đó chớ đâu…hồi hổm ổng xuống ăn giỗ mầy nhớ hông? À, ổng nói nhiều chuyện mà tao quên …còn quyển sách ổng bỏ quên tao để trên bàn thờ, lâu lâu đem ra coi…hình…Nói nào nào ngay tía mầy đâu có đến nỗi dốt hả Tư? Nói ra thêm mắc cở, cái chữ nầy thì tao chịu thua, có mấy ông sư trên chùa mới đọc được thôi.
Lụa thắc mắc:
– Chữ gì vậy chú Năm? Giống chữ Tàu hả chú.
Năm Hương lật lật mấy trang sách chỉ vô mấy cái hình.
– Cũng na ná như chữ Tàu nhưng không phải chữ Tàu đâu , chữ nầy kêu bằng chữ Nôm. Sách của ông thầy ổng truyền lại cho học trò.
Đám con gái “Ồ” lên một lượt. Út giữa ngồi mõi lưng tự nãy giờ, bây giờ bẻ mình tuột xuống ván:
– Thôi tui đi xuống, ngồi nghe hoài hổng hiểu gì hết trơn.
Năm Hương không để ý, ông nhìn mấy đứa con gái nói tiếp:
– Như con Tư đây học là học tiếng quốc ngữ đó. Tiếng nầy mới có chừng vài trăm năm chớ mấy. Cái thời ông nội mầy còn sống vẫn còn học chữ Nôm, chữ Hán, chữ Tây mà, tới cái đời tao coi như đứt đường liên lạc. Đã nghèo mà thêm cái dốt nữa thì coi như suốt đời ngu.
Năm Hương chợt thở ra cảm khái nói tiếp:
– Nhưng cũng may, tuy tao nghèo nhưng còn có con Tư nó đi học được chữ quốc ngữ, nhưng nói nào ngay, giăïc giã hoài thôi về mần ruộng kiếm ăn …nên chịu cảnh mù chữ luôn chớ biết nói sao bây giờ?
Lụa bỗng chen vô hỏi trớt hướt:
-Mù chữ có phải là tại cái số, hay cái nghiệp gì hông chú Năm?
Năm Hương đớ người ra, nhíu cặp chân mày, ấp úng:
– Ừa, hỏi nghe được, nhưng mà như vầy. Hôm nào tao mới trả lời còn bữa nay coi như giữa sông chìm xuồng đi.
Bà Năm dọn chén đũa, đậy nắp nồi cơm. Lụa,Nhân Hậu, Nguyệt Nga và mấy đứa em cùng đứng dậy phụ một tay dọn dẹp. Năm Hương rề rề chuyển qua bàn uống nước đăït giữa nhà gần bên bộ ván ăn cơm. Ông kêu con gái:
– Con Tư mầy lấy cái bình ủ, cái phích nước chế cho tao ấm trà. Lát nữa tụi bay muốn nghe chuyện thì tụ tập ra bàn tao nói chuyện cho nghe.
Nhân Hậu từ trong nhà bếp đi lên trên bay bưng một dĩa bánh in, tay bưng thủy đựng nước. Đăït dĩa bánh xuống bàn và nói với ông:
– Má nói bưng cho ba dĩa bánh in ăn chơi uống nước tra, sau là đãi mấy đứa bạn của tui hèn lâu mới gặp. Cũng nhân tiện đây nói chuyện cho con Sáu Nguyệt Nga nó vui lên một chút. Cái gì mà coi mặt nó như đưa đám hổng bằng. Tết với nhứt sắp sửa tới rồi lo mà vui vầy lên cho nó hên đầu năm mới chớ.
Ông Năm Hương lấy cái phích nước sôi chế ra ấm trà, tráng sơ một lượt, nhón một nhúm trà bỏ vô bình, chế nước sôi, tráng qua một lượt đổ ra sau đó chế nước sôi vô đầy đậy nắp bình lại. Lụa ngó ông chăm chăm coi ông chuẩn bị bộ đồ trà đến việc chế nước trà, nàng lên tiếng:
– Coi cái bộ chú Năm đây cũng rành quá sá hả chú Năm?
Năm Hương ngước lên ngó Lụa, hỏi:
– Mầy nói rành là rành cái gì vậy Ba?
Lụa cười:
– Thì tui nói chú rành ba cái vụ uống trà nầy chớ gì.
Năm Hương co một chưn để lên ghế, tay bưng tách trà đưa lên miệng nhấp một miếng, rồi hỏi:
– Ủa! Sao mầy biết?
– Thì tui ngó cái cách chú chăm chút cái bình trà thì tui đoán chừng như vậy.
Năm Hương cười:
– Mầy nói trật lất rồi. Tao đâu có rành ba cái vụ nầy. Nói thiệt ra thì làm gì mà có rảnh để làm ba cái chuyện như vầy.
Lụa ngạc nhiên:
– Chú nói sao chớ, hổng biết rành sáu câu sao chú mần cái tay nhiển nhừ, coi cái bộ tịch của chú giống y chang mấy ông uống trà tàu trong chuyện đời xưa.
Năm Hương cười nhưng không trả lời. Nhân Hậu cầm một cái bánh in đưa qua cho Nguyệt Nga:
– Nè, mầy ăn thủu coi tao làm có được hông?
Lụa cầm một cái cắn làm đôi, la lớn:
– Mèn đét ơi, tao mới cắn có một cái mà nó muốnchạy tuột vô cần cổ rồi?
Nhân hậu cười:
– Cái tật của mầy lúc nào cũng sớn sát, lụp chụp hổng bao giờ chịu yên.
Lụa cười hí hí, tay bưng ly nước hớp một ngụm lớn.
– Giỏi lắm đó nha. Mầy là nhứt xứ anh hùng rồi đó. Chèn ơi, làm cái bánh in ngọt ngào với lại mịn ơi là mịn. Coi cà, trên cái mặt bánh còn có mấy cái bông nữa chớ. Đâu có thua gì ngoài chợ đâu cà.
Ông Năm Hương ngồi im nhấp nháp tách nước trà, chân co lên ghế, ngó đám con gái rồi ông nở nụ cười chúm chím. Trong lòng Năm Hương vui vẻ nhìn đám con ông đứa đang nằm ngủ lăn lóc trên tấm phản, đứa thì đang cải lộn và đứa con gái rượu của ông càng lớn càng xinh đẹp và có cái tâm thuần phát. Với Năm Hương, đời sống càng lúc càng khó khăn hơn xưa, đất ruộng bỏ hoang ngày càng nhiều vì chiến tranh. Ông chép miệng:
– Thiệt chán.
Lụa day lại cười hỏi:
– Chú chán tụi nầy quá hả chú Năm. Chắc nghe tụi con gái nói chuyện tầm phào chán ngắt hả chú.
Năm Hương huơ tay lia lịa:
– Đâu có. Đâu có đâu. Tụi bay cứ chơi đi, ăn bánh nè, ăn uống nước cho vui. Dễ gì có được ngày hưỡn đải như vầy.
– Dạ cảm ơn chú Năm…Ừa lát nữa tui phải hỏi chú chuyện nầy mới được. Hồi nãy nói rồi mà quên…bây giờ để cho con Sáu có hoàn hồn lại rồi nói chuyện mới dzô được.
Năm Hương cười dễ dải:
– Ừa, tùy ý tụi bay.
Nhân Hậu ôm vai Nguyệt Nga kéo sát vô mình, nàng thì thầm:
– Mày im để tao nói cho nghe. Chuyện gì cũng vậy hết trơn từ từ rồi giải quyết, đầu còn có đó mà mầy lo gì. Tao nói thiệt cho mầy nghe hén, ona có đầu nợ có chủ. Ai làm gì người đó sẽ chịu. Hổng phải tao nói chuyện ở ngoài đời đâu, ở trong cái chỗ huey62n bí cũng vạy thôi. Hể gieo gió thì gặt bão chớ lo gì. Mầy cứ nhớ đi hễ làm lành thì gặp lành mà làm dữ thì gặp ác.

60. Nhân hậu đang huyên thuyên tỉ tê cho bạn nghe thì Nguyệt Nga bỗng ngước mắt lên hỏi ráo hoảnh:
– Ủa, như vậy thì tao làm cái gì mà chịu nhiều điều cay dắng quá vậy?
Tới chỗ nầy Nhân hậu bí lôí, nàng đang loay hoay tìm cách nói chuyện cho bạn vui nào có ngờ đâu con nhỏ Nguyệt Nga hỏøi ngang nàng đàng bí lối. Thở một hơi dài, Nhân Hậu nói nhỏ vô tai bạn:
– Mầy thì đâu có làm gì đâu, nhưng mà như vầy…mầy là chủ nợ mầy cho người ta vay rồi sau nầy người ta trả cho mầy chớ mất đi đâu mà lo?
Biết Nguyệt Nga không đồng ý với câu nói trớt huớt của mình, Nhân hậu kéo bạn về thực tế:
– Thôi ăn bánh uống nước chơi đi. Hồi nào nói chuyện đó nữa, chớ bây giờ bỏ qua một bên đi.
Lụa góp ý:
– Bỏ thì hổng bỏ được, nhưng mà ghim đó bữa nào mình nói nữa. Tao cũng vậy đó, tao hổng chịu cái chuyện cho vay cái kiểu đâm bang bữa của như vậy đâu. Thiệt tình mà nói thì cái chuyện tình cảm nó nhiêu khê chằn ăn trăn quấn lắm chớ hổng phải chơi đâu.
Nhân Hậu cười:
– Cái con Lụa bữa nay nói nghe được gướm đó chớ. Nè, thường cho mầy cái bánh nè.
– Tao thèm cái bánh của mầy lắm đó chắc?
Năm Hương để tách nước trà xuống bàn, kêu ba đứa con gái:
– Tao ngồi nãy giờ nghe tụi bay nói vòng vòng không hà. Muốn nghe chuyện đời thì ngồi sát vô đây.
Lụa nhảy phóc lên ghế trước nhứt, miệng la hoang hoát:
– Phải rồi chú Năm, hồi nãy chú có nói đứa nào muốn nghe thì chú nói cho nghe, tui thiệt là muốn nghe lắm, hồi nãy có nói với chú rồi. Còn con Sáu nầy nè cũng hổng phải vừa gì đâu…nó hỏi lung tung ai mà biềt cho hết được mà trả lời cho nó. Chú nói cho nghe đi.
Năm Hương sửa bộ:
– Nói thiệt với mấy đứa chớ tao mà biết cái khỉ khô gì mà nói, chẳng qua là mình sống trên cuộc đời mình nghe mình thấy rồi học hỏi thôi. Ông 70 còn học ông 71 đó. Học thì biết chừng nào mới hết.
Nghe con Sáu có chuyện buồn thì tao đây cũng buồn lây, tao biết tía mà mầy mà. Nhưng tao nói cho bây nghe nó như vầy ..ở trong trời đất qúy nhứt là cái đạo, cái nhân đạo làm con người. Tụi bay biết đó, cái sanh trong trời đất, nào người nào thú nào là cỏ cây, bởi ai cũng biết chỗ ái tình dâm dục là một việc tồi bại, đáng mắc cở với đới. Nhưng mà tại sao con người lại muốn vô chỗ đó? Cái nầy là do cây đắng nó sanh trái đắng, cái tâm ý của bọn mất nhơn tánh con người, hoặc giả là nó sanh trong một nơi chốn mà cái giống nó không tốt. Cái này là do chỗ cha mẹ nó không có dạy cho nó, như cái chuyện mà mầy bị hồi năm nẵm đó. Cái nầy là cái nhóm đó không được tốt mới sanh ra cái đám ăn cướp trốn nup1 trong rừng. Người ta có nói “Tội hữ sở khuy, tội quy vu trường.” Caí người làm đầu tàu mà không được dạy thì cái đám đi theo nó cũng làm bậy theo.

Nhân Hậu kêu ông Năm Hương:
– Ba!
– Gì mậy?
Nhân Hậu dòm Nguyệt Nga dò ý:
– Cái chuyện năm xửa năm xưa từ cái đời bà cố hỷ ba kể lại làm gì? Còn ba nói chữ tàu chữ tây ở trỏng ai mà hiểu.
Năm Hương bản tánh không khề khà nhưng lâu nay rỗi rảnh đi dạo xóm thăm bà con, lên thất thăm vài ba ông đạo tu hành trên núi học hỏi được nhiều điều, nhứt là qua miệt Thủ Thừa đến ruộng mía bên Đức Hòa Đức Huệ gặp mấy ông Cao Đài bên Tây Ninh qua làm ăn mở đất nói nhiều điều lý thú. Từ đó Năm Hương kể lại cho mọi người nghe cũng là dịp ông học hòi…cái vốn thì ít mà nói như ông thì không còn chuyện để nói nên ông cà rà vừa nói vừa nhớ. Nói khề khà nâng tách trà lên nhâm nhi, để tách trà xuống vỗ vế vỗ đùi y như đang đóng tuồng làm bọn nhỏ ngáp lên ngáp xuống. Nghe con gái hòi ông Năm Hương vỗ đùi cái bốp:
– Nói như mầy thì đâu còn gì để nói. Caí gì mà hồi nãy tao nghe lóm mầy nói oan có đầu nợ có chủ…thì tao mới nói câu chữ cho tụi bay nghe. Câuchữ đó có nghĩa làNgười làm lớn không giữ mình thì làm gương xấu cho những người đi theo. Và tội lỗi đó người lớn phải gánh. Cái chuyện của con sáu tuy là nó qua tám mươi đời vương nhưng mà nó mới. Mới ở cái chỗ là làng mình từ nào tới giờ đâu có ba cái chuyện đó xãy ra cho nên tao mới nhắc để bay coi đó mà né thôi mà.
Đó là nói về mặt đới đó nha. Còn cái mặt đạo thì nói như vầy cho con Sáu nó bớt buồn nè. Oan ức không cần bày tỏ, vì bày tỏ là chuyện học dạo không có kiên cường. Chuyện gì cũng có nhân có quả hết tụi bay ơi. Mình không gây ra cái nhân bây giờ mà mình gây ra cái nhân từ cái đời cố hỷ bây giờ nó mới sanh cây sanh trái cho nên mình hứng chịu chớ có than van. Người ta nói “Chí tử bất biến.” Có chết cũng cũng đổ lòng phài “thủ tử thiện đạo” giữ cái đạo lành một lòng không đổi không thay. Caí người hiểu đạo lý thì nên chịu nhịn, chịu lép các việc. Chịu oan khiên, oan ức đăïng lập chí mà tu hành. Tụi bay đừng có nói bậy mà mang cái tội. Trời cao có mắt mà nhà tối có thần đó nghe tụi bay. Sẵn đây tao nói baì vè bài kệ nầy cho mà nghe nè.
“Nét phấn vẽ tợ tranh vân cẩu
Cảnh tang bồng trầm lệ thủy ngư phi.
Ngọc Hoàng soi tỏ thấy đường đi
Đuốt tạo hóa soi thì xem sáng lạn
Sao Bắc Ddẩu xẹt tia rơi chớp nhoáng
Aùnh Nam Tào thấp thoáng chiếu hào quang
Dải Ngân hà giăng thẳng dọc ngang
Bầu mặt nhựt chiếu chan hòa thế giới.”
Nói vậy nghe có thỏa mãn tụi bay hông?

Lụa ngáp dài day lại ngó Nguyệt Nga, bẻ mình nhăn mặt.
– Nghe chú nói vậy thì hay như vậy chớ tui thiệt là hổng hiểu nổi huyền cơ rồi đó. Tui chỉ biết chuyện trước mắt thôi.
Năm Hương cười:
– Nói thiệt bay nghe nghen, tao đây mà đôi khi còn bù trất huống gì tụi bay. Nhưng mà nè, cái gì nó cũng có đâu có đuôi hết trơn hết trọi đó. Nếu mà mình biết thì mình cứ đi, còn đuôi mù hông hiểu thì thôi mình cứ tin như vậy để khỏi bị phạm hổng nên đâu. Cứ nhớ như vầy:
“Trăng thu rọi khách nhìn nhau thích thú
Trăng thu tàn nào ai tự nhủ biết ra sao?
Hồn văn minh phong tỏa khắp trùm bao
Bóng ảo ảnh xô nhào trang tuấn kiệt
Thân quý trọng giữ gìn tâm minh triết
Hình thiết tha chớ mà miệt cõi phù hoa.”
Cái gì rồi nó cũng đi qua hết thôi.
Năm Hương nói đến đó nhìn quanh thấy 3 cô gái đã uể oải nên ngừng lời. Ông kêu con gái:
-Thôi tao đi ngủ, con ba mầy ngồi chơi với bạn…tại tụi bay muốn nghe nên tao nói cho nghe…cái gì hổng nghe được thì bỏ qua. Nhưng nhớ là Trên đầu có trời, ông trời ổng có mắt hổng có gì qua khỏi ổng đâu. Thôi tao đi ngủ. Ông Năm Hương day lưng đi vô buồng. Bước qua cửa không biết ông đi làm sao vấp cái nghạch cửa chúi đầu sắp té, ông la oang oát:
– Mẹ họ, cái nghạch cửa bữa nay sao cao như vầy. Thôi tao đi ngủ nha.
Ba cô gái bụm miệng cười , Nhân hậu che miệng nói nhỏ:
– Ba tao lóng rày yếu đi nhiều lắm, uống vài ba ly vô là ngất ngư như cá say thuốc. Còn ăn nói thì tầm bậy tầm bạ bị má tao la hoài.
Nguyệt Nga cái miệng cười như hai con mắt vẫn còn long lanh ngấn nước mắt ở trong khóe. Lụa cười to nhứt. Nghe NhânHậu nói vừa dứt, Lụa xáp vô liền:
– Mầy nói như vậy ổng nghe ổng buồn, chớ tao thấy ổng nói chuyện đời xưa nghe lọt tai lắm.
Nhân Hậu ngó bạn:
– Tao coi cái bộ tịch của mày chắc mê chuyện phong thần rồi?
Lụa nhăn mặt:
– Chuyện phong thần!
Nhân Hậu cười bí mật:
– Chớ còn gì nữa. Nhưng mà tao nói thiệt cho nghe. Mầy tin là phải rồi.
Lụa nghi ngờ:
– Mầy âm mưu gì đây con quỷ?
Nhân Hậu lắc đầu:
– Mày sao hay nghi ngờ lòng tốt của người khác quá đi. Tao nói thiệt đó mà. Hổng có gì hết trơn hết trọi.
Lụa nhiùu mày nhưng không hỏi tới nữa. Bà Năm Hương từ trong buồng bước ra, tay cầm tráp đựng trầu cau. Bước lên phản ngồi. Ba cô gái chợt im lặng. Bà Năm thủng thỉnh mở tráp lấy một lá trầu xanh, màu xanh ngăn ngắt óng ánh dưới ánh đèn như có nước. Nhìn ba cô gái bà Năm lên tiếng:
– Ủa sao tự nhiên im ru bà rù vậy tụi bay. À! Hay là đang nói chuyện tầm ruồng thấy tao ra nên nín khe chớ gì.
Lụa mau miệng:
– Đâu có đâu thím Năm. Đang nói chuyện …à mà chuyện phong thần.
Bà Năm đang cắt lá trầu, ngừng tay, ngó lên:
– Tụi bay nói chuyện tàu? Chuyện ông Khương Tử Nha?
– Không phải đâu. Lụa đính chánh.
Bà Năm lắc đầu:
– Vậy thì tao hổng biết. Tao chỉ biết chuyện Phong Thần của Tàu thôi hà. Mà nói nào ngay, cũng biết theo tuồngt tích cải lương hát bộ thôi chớ hổng có đọc truyện.

61. Ba cô gái lặng thinh, bà năm cũng không nói gì thêm, bà tiếp tục công việc têm trầu của bà. Tay bà cầm chiếc dao nhỏ bằng 2 ngón tay, cán dao bằng tre, chẻ lá trầu ra làm 2 phần dọc theo sống lá bắt đầu từ cái cuống. Lá trầu được cắt ra làm 2 phần đều nhau, bà cất vô trắp một phần, cầm nửa lá trên tay trái, tay phải bà khiều một ít vôi trong gói giấy trét đều một lớp mõng trên lá trầu, gấp 2 mép lá vô trong và từ từ cuốn lại bằng ngón tay cái tròn trịa. Bà dùng đầu nhọn của cây kim sắt xoi một lỗ nhỏ vừa bằng cuống lá trầu và xỏ cuống lá vô để giữ cho miếng trầu không bung ra. Bà để xuống tráp và bắt đầu công việc như cũ để têm miếng trầu thứ hai bằng nửa miếng lá trầu còn lại. Bà mãi mê trong công việc như quên rằng có ba cô gái ngồi bên. Căn nhà im vắng như không có người, bà Năm ngừng tay, ngước lên.
– Ủa, bộ lạ lắm sao mà tụi bay ngó trân trân vậy?
Cũng Lụa nhanh nhẩu nhứt. Cô gái cười:
– Hổng lạ gì, nhưng đâu biết làm gì đâu thì coi thím làm cho biết.
Bà năm cuí xuống tiếp tục việc của bà, và bà nói:
– Chuyện dễ ẹt có gì đâu mà coi. Mà hổng có chuyện gì thì về ngủ đi chớ ngồi làm chi đó.
Ba cô gái ngó nhau cùng cười. Bà Năm không biết rằng con gái đã “tùng tam tụ ngũ” thì có đủ thứ chuyện để nói. Nhưng bữa nay Nguyệt Nga mặt ủ mày chau làm cho họ mất hứng. Cái dư hương của những câu chuyện do ông Năm Hương kể còn để lại trong lòng những cô gái những ấn tượng không vui về đời sống làm họ phải suy nghĩ.
Bà Năm têm xong miếng trầu thứ hai, bà bỏ vô miệng nhai với một miếng cau tươi. Mùi vôi, mùi trầu, mùi cau thơm nồng thoảng qua mũi mọi người. Bà Năm nhai rau ráu nhìn thấy ngon như bà đang nhai mía.
Lụa hỏi:
– Thím Năm à, tui nghe nói ăn trầu tốt răng hả thím Năm.
Bà Năm ngừng nhai, miệng bà trệu trạo lúng búng nước trầu. Giọng bà khó nghe, đớt đớt:
– Chao h…ổng…b…iết.
Lụa cười:
– Thím nói cái gì?
Bà Năm xuống phản bước ra cửa, phun nước cố trầu ra sân:
– Tao hổng biết. Thì có nghe nói như vậy. Thời bây giờ con gái để răng trắng, văn minh tiến bộ. Còn tao thì nhai trầu cho chắc răng.
Lụa cười:
– Mỗi thời mỗi khác chớ thím.
Bà Năm vuốt tóc ra sau ót, lắc đầu:
– Tao hổng thấy khác chút nào. Cái hồi tao còn nhỏ tao cũng đi chưn đất, bây giờ lớn rồi cũng đi chưn đất. Cái hồi nhỏ tao đi hôi cá tát đìa, thì bây giờ thằng Út của tao cũng đi hôi cá tát đìa. Khác gì đâu.
Lụa không biết nói làm sao. Trong lòng nàng vẫn biết có cái khác cái mới đối với nàng:
– Nhưng tui thấy có khác đó thím. Tỉ như tụi con gái nè, cũng xe xua chưng dọn áo bông, áo cánh coi đẹp hơn chớ.
– Thì con gái phải chưng dọn là phải rồi. Nhưng cái ý của tao nói là tụi bay cũng đi chưn đất như tao hồi đó thôi.
Nhân Hậu mường tượng như có một điều gì không nói ra được, không diễn tả được đời sống của những người như bà Năm, mẹ nàng, Nhân Hậu nói qua chuyện khác:
– Tao thấy má tao nói có phần đúng. Tao hông biết nói sao, nhưng mà in tuồng như là nó làm sao đó. Tại sao mắc mớ gì dem mấy cái chuyện tào lao đó ra mà nói. Má nói chuyện hồi con gái của má cho mấy đứa nó nghe nè co phải vui hơn không.
Bà Năm vẫn nhai trầu, bây giờ trong miệng bà có thêm cục thuốc xỉa to tướng lận dưới vành môi trên:
– Tao có gì đâu mà nói. Hồi trào của tao thì ông già bà già nói sao hay vậy. Cái hồi đó trào Tây mà. Nhưng mà vầy, để tao nói tiếp chuyện hồi chiều tao muốn nói mà còn dang dở. Nói cái chuyện vợ chồng con cái cho nghe. Chuyện vợ chồng là chuyện trăm năm, cái này người ta nói là tục lệ ngày xưa. Nói thiệt cho tụi bay nghe , vợ chồng chưa thấy mặt nhưng mà lấy nhau rồi thì như vầy.
“Rủ nhau xuống bể mò cua
em về nấu quả mơ chua trên rừng
Ai ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau!”
Tụi bay nghe có sướng hông chớ, ở đó mà nói chuyện biết trước, đừng có hòng mà tò te như tụi bay bây giờ. Tuy nói thì làm vậy đó nhưng mà cũng hay ho kể gì. Để tao nhớ coi nè.
“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
– Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
– Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ!
Chim vào lồng biết thuở nào ra!”
Cái đó kêu bằng luật bù trừ cho con người ta đó. Cái đất mình nó xưa bày nay làm. Tao cũng hông biết đúng sai hay dỡ ra ra làm sao…buồn thì nói chơi mà nghe thôi…ông bà mình nói sao mình hay vậy.
Bà Năm Hương tỉ tê nhai trầu rì rầm nói chuyện dưới bóng đèn. Tiếng ông Năm ngáy trong buồng vọng ra tới ngoài phòng khách. Bà Năm cười tiếp:
– Đó, tụi bay coi. Tao với ông Năm đâu có biết mặt mủi gì đâu mà có con đủ chục. Bà chỉ vô Nhân Hậu: Con nầy là thứ Ba nè, con ba Hậu…tụi bay biết rồi đó. Con người ta cố nhứt hết thảy là ăn ở có nhân có đức, có hậu với người ta. Aên ở mà hổng có hậu thì cũng tỉ như cái xuồng không có đáy.

Những ngày giáp tết việc đồng áng vừa xong , nhà nào cũng lo chuẩn bị tết cho nên làm đủ các thứ bánh để ăn tết, nào bánh phồng, bánh tét, bánh in, thèo lèo cứt chuột…v.v. Bánh in dễõ nhứt cho nên nhà nào cũng có. Ba cô gái vừa ăn bánh in vừa uống nước nghe bà Năm Hương kể chuyện đời qua ca dao như chuyện cổ tích. Mấy ông già, mấy thanh niên rảnh rỗi cũng thường hay dạo xóm uống rượu nói chuyện đời lai rai như vậy. Có nhiều chuyện nói đi nói lại nhiều lần mà người nghe vẫn không thấy chán, hoặc là những lần nghe trước rồi quên đi nên chưa thấy chán và vẫn nghe như mói ở đôi ba lần sau. Càng nghe càng như mới. Các thanh niên, tá điền trong xóm ít chữ nhưng cái lòng thì đại lượng hải hà, “tứ hải gia huynh đệ” bốn biển là anh em, những khi có rượu vài ba ly cũng rề rà nói đi nói lại những chuyện cũ nghe như đĩa hát Tinh Hoa cũ mèm nhai đi nhai muốn nhão mà người nghe cũng cứ nghe hoài. Nói chuyện đời là nói như vậy. Bà Năm Hương nhổ nước cốt trầu, quẹt mép, tằng hắng, xuống giọng:
– Có câu như vầy…Bà ngưng ngang day qua mấy đứa con gái hỏi: Mà tao nói xà quần như vậy tụi bay có chán hông?
Ba cái miệng cùng cười, vừa cười vừa ngáp:
– Hổng chán đâu.
Bà Năm Hương lặp lại:
– Có câu như vầy
“Sơn bình, Kẻ Gốm không xa
Cách một cái quán với ba quãng đồng
Bên dưới có sông, Bên trên có chợ
– Ta lấy mình làm vợ nên chăng?
Tre già để gốc cho măng.
Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.”
Hồi xưa đi lấy vợ là như vậy đó, cũng mùi rịu chớ. Phải hông?
Ba cái miệng của ba cô gái cùng một nhịp:
– Dạ.
Bà Năm không để ý ba cô gái; bà tiếp cái ý của bà trong câu chuyện:
– Thiệt ra mà nói thì thời buổi nào cũng vậy hết. Cái tình nó tại trong lòng, trong cái bụng chớ đâu phải nó đi từ ngoài đi vô. Có phải hông? Phong tục thì mỗi nơi mỗi khác. Người ta hổng biết là tại vì hông được học, được chỉ chớ có phải người ta muốn đâu cà. Tao thì thấy “kiến tố bảo phát” cứ sôáng tự nhiên như người mình là quí lắm rồi. Thiệt ra có trăm phương vạn kế cũng hổng qua khỏi cái ông trời. Mà thôi, để tao trở lại cái chuyện gái trai cho mà nghe. Bà phun cổ trầu cái phẹt ra ngoài sân- Bà tiếp: Hồi đó cái đám trai làng nó o mèo như vầy:
“Công anh đắp luống trồng chanh
Chẳng được ăn quả, vin cành cho cam
Xin đừng ra dạ bắc nam
“Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”
Huống “tam thu nhi bất kiến hề”
Í mẹ họ bà cố nội ơi. Cứ học được ở đâu rồi truyền miệng với nhau “Nhứt nhựt bất kiến như tam thu hề” nhưng mà có biết mẹ gì đâu. Nghĩ cũng mắc cười, người nói cũng như người nghe có biết mình nói mình nghe cái con mẹ gì đâu. Í vậy mà thương mới chết. Thương nhau đứt ruột đi lận.”
Ba cô gái nháy mắt nhau cười. Nhân Hậu nói với mẹ:
– Má à, bây giờ má biết là cái gì chưa?
Bà Năm chùi cổ trầu dính trên mép, bà cười:
– Mầy nói cái gì? Biết cái gì?
Nhân Hậu lập lại:
– Má biết cái :Nhứt nhựt bất kiến…” đó chưa.
Bà Năm cười hè hè, nước cổ trầu muốn phun ra ngoài. Bà vừa cười vừa lau miệng vừa nói với con gái:
– Í trời đất ơi. Cái câu đó thì bây giờ biết rồi. Cái hồi ba mầy với tao về ở chung ổng nói rồi. Mầy bao nhiêu tuổi là tao biết bấy nhiêu. Oång xà nẹo tao hoài thì tao mới biết đó chớ. Cái tuổi đó chèn ơi, hổng “gặp” một ngày một lần, hai lần…híhíhí… nó nhớ gì đâu.
Nguyệt Nga nhỏ nhẻ:
– Cũng hay.
– Cái gì hay? Bà Năm hỏi.
– Thì cái chuyện của chú thím.
Bà Năm cải chánh:
– Đâu phải cái chuyện của tao. Chuyện đời mà. Còn chuyện tao có chút béo đó hà.
Nguyệt Nga thở dài:
– Ra vậy cái hồi đó khoẻ hơn bây giờ.
– Sao mầy nói như vậy?
– Thì tại hồi đó người ta ăn ở với nhau có cái tình.
– Bây giờ cũng vậy chớ có khác gì. Cái gì cũng vậy hết trơn. Nhà nào có đèn nhà đó sáng.
Nhân Hậu bất thình lình cười thành tiếng khi nghe bà Năm nói.
– Cái gì? Má nói cái gì. Đèn nhà ai nấy rạng..chớ cái gì mà nhà nào có đèn nhà đó sáng…
Bà Năm cười hè hè:
– Thì cũng có lúc trớt hướt chớ. Mà hổng phải tao nói dạy khôn cho con Sáu chớ. Người ta nói là đồng nào cỏ nấy. Nếu mà mình sống trong làng với nhau như mầy biết đó, có ai hại mình đâu. Nói mầy đừng buồn, chuyện của mầy là do người ở đâu nó kéo về chớ phải thanh niên trai tráng của xóm mình đâu mà mầy trách.
Bà Năm đương không phát xuống giọng xề:
“Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu
Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu
Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia” Mầy nghe chưa…cầu tre lắt lẻo nhưng cầu tre, cầu ván là cầu của xóm mình, quê mình.
Nói hổng phải nói chớ con gái quê nó chung tình dữ lắm. Tao hổng khen đâu. Chắc tụi bay có nghe rồi cái câu như vầy.
“Mẹ già phơ phơ đầu bạc
Có hay chàng ở đâu đây
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.
Từ khi gặp mặt giữa đàng
Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay
Có hay thì nhứt đánh nhì đày hai lẽ mà thôi
Thủy chung em giữ trọn mấy lời
Chết em chịu chết, lìa đôi em không lìa.”
Tụi bay nghe có tình có nghĩa hông? Nói thiệt ra thì mình hổng khen người mình đâu, mà nó thiệt là như vậy. Cũng tỉ như con gà nó lai thì làm sao nó có giống rặt ròng tốt được. Cái nào nó sọc dưa, nó ốc trâu là nó lai rồi đó.

62. Bà Năm Hương xổ một hơi rồi bà cười với ba cô gái:
– Nè, con Sáu ơi, thím Năm nói với cháu như vầy nè, cứ tình thiệt mà nói nghen…Thôi bây giờ về lại làng đi, cái làng cái xóm của mình coi vậy mà được. Đi đâu cũng vậy thôi mầy ơi. Tao nghĩ chuyện đã cũ rồi.
Bà Năm nói nhưng bà Năm không biết con sáu Nguyệt Nga vừa ăn nằm bất đắc dĩ với Hai Hường ngoài chợ hồi xế trưa nầy. Cái chuyện ăn nằm nó làm cho con Sáu Nguyệt Nga mắc cở, khôn ba năm dại một giờ, tuy không còn là con gái thanh tân, nhưng Sáu Nguyệt Nga cũng chưa lần nào tự ý cho người khác đụng vô cái lưng quần. Hổng biết ma đưa quỷ dắt hay sao mà trưa nay nó ra làm vậy. Nguyệt Nga càng nghe bà Năm khuyên càng mắc cở và tủi thân.
Bà Năm sẵn trớn nói tới:
– Chuyện trái gái trong xóm trong làng thiệt ra nó cũng mùi mẫn mê tới lắm. Cái hồi xưa có truền lại câu chuyện nhu vầy qua mấy câu hát, tao biết tụi bay rành sáu câu nhưng ngứa miệng cũng muốn nói ra đây. Nó như vầy:
“Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói dạ thương mình bấy nhiêu
Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ, con đò khác đưa.”
Thấy chưa? Cái tình nó vậy đó. Người ta còn kể lại là cái chuyện trai gái là cái chuyện tự nhiên, lửa gần rơm lửa cháy, thì trái gái gần nhau hổng nọ thì kia, hổng khèo cũng quẹt chớ dễ gì mà ở không…
Bà Năm ngừng kể phun nước cổ trầu và cười hè hè, ba cô gái cười theo. Bà kể tiếp:
– Chuyện đời nó là như vậy. Tụi bay nghe nghen.
“Chim xa bầy còn thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi!
Chẳng thà chẳng biết thì thôi
Biết nhau mỗi đứa một nơi thêm buồn.”
Lụa liếc mắt ngó Nhân Hậu nháy mắét cười:
– Buồn sao được mà buồn hả Hậu, đâu có xa đâu mà nhớ mà buồn. Gần xịt đây chớ đâu.
Bà Năm la:
– Cái con nầy sao mà mau miệng quá chừng. Nhưng hổng phải đâu, hồi đó đâu có lanh chanh như tụi bay.
– Vầy thì làm sao thím Năm.
– Thì từ từ. Hồi đó như vầy nè:
“Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Trời ơi có thấu chăng trời?
Lụa đào mà vá áo tơi cho đành!
Tôi mà có nói dối ai
Thì trời đánh ngã cây khoai giữa đồng
Tôi mà có nói dối chồng
Thì trời đánh ngã cây hồng bờ ao.”
Hồi đó thương là như vậy đó tuy là hông có thấy mặt thấy mũi gì hết đó nghen. Coi! Để tao nhớ coi…
“Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
Ngày ngày em đứng em trông
Trông non non ngất, trông sông sông dài
Trông mây mây kéo ngang trời
Trông trăng trăng khuyết, trông người người xa
Khăn thương nhớ ai?
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai?
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai?
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai?
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai?
Mắt ngủ không yên.
Đêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng?
Tưởng rằng đá nát thì thôi
Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.
Tay cầm bán nguyệt xênh xang
Một trăm thứ cỏ lai hàng tay ta
Quên mình giữa đám cỏ hoa
Buồn tênh những lúc trăng tà, sao thưa.”
Bà Năm Hương vừa nhai trầu vừa tỉ tê, ba cô gái ngồi nghe say mê. Nguyệt Nga mơ màng ước ao cảnh đời tươi đẹp như tranh vẽ giống câu chuyện đời bà Năm đang kể. Nguyệt Nga mơ ước cuộc đời nàng sẽ không còn cay đắng, Nhân Hậu nhìn bạn như đọc được tâm sự của bạn. Rót thêm ly nước đẩy về phía Nguyệt Nga, nàng nói nhỏ:
– Đừng có buồn nữa mầy. Chuyện gì rồi cũng qua.
Trong khi đó bà Năm đứng dậy bước ra sân ngó trời, bà nói:
– Chắc khuya lắm rồi, thôi nghen. Chuyện đời còn dài lắm bữa khác kể tiếp. Tao cũng buồn ngủ rồi.
Lụa năn nỉ:
– Thím Năm coi bộ xắp xếp tuồng tích có lớp có lang, kể nghe vui thiệt là vui mà hay nữa. Mà thím đi coi hát ở đâu mà biết chuyện đó. Nói cho hết đi thím năm.
– Kể cho hết biết bao giờ mới hết được mầy. Nhưng mà hổng phải chuyện vui hết thảy đâu à. Cũng có chuyện buồn nữa chớ. Có vui co buồn mới kêu bằng chuyện đời được chớ. Tao nói một cái chuyện buồn cho tụi bay nghe chơi. Tỉ như…nó phụ bạc mình thì làm sao?

”Tiếc thay cái tấm lụa đào
Áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi.
Trời ơi có thấu chăng trời?
Lụa đào mà vá áo tơi cho đành!”
Đó, thấy chưa. Đâu có phải ai cũng hay ho hết đâu như vậy mới là đời chớ. Chưa hết đâu nghen.
“Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng mán, thằng mường nó leo”
Cái này kể là bù….nó thót lên bụng rồi nó chạy chớ sao….coi như xui thôi chớ biết làm sao. Coi chuyện đời mà ngẫm cho chuyện mình, ráng mà lo lấy thân thôi.
Bà Năm ngồi nhai trầu tỉ tê đủ chuyện, đám con gái ngồi nghe mê man hồn bất phụ thể. Nhứt là Nguyệt Nga ngồi im lặng không hỏi han tham dự hoặc lên tiếng phẩm bình hay tò mò tọc mạch phan ngang bửa củi đâm hơi như Lụa. Ngồi im càng nghe càng thấm cho thế thới nhơn tình. Nguyệt Nga âm thầm thở dài thậm thược ảo não bi ai. Nghĩ đến thân phận lở dỡ như bèo dạt hoa trôi, càng nghĩ càng đau nước mắt như muốn ứa ra trong khóe. Bà Năm nhai đến miếng trầu thứ hai thì bà cũng mõi mệt ê ẩm, cái lưng cứng đo cứng ngắt. Day qua Nhân Hậu nhìn con gái bà âu yếm nói:
– Thôi tao đi ngũ luôn nghe tụi bay. Con Hậu mầy ngồi chơi rồi lát nữa ngủ sau. Mà nè mấy đứa tụi bay muốn ngủ luôn ở nhà tao cũng được. Nói thiệt tụi bay nghe nhà tao chớ hổng phải như người ta đâu mà sợ, cứ ở lại cho vui muốn ăn muốn ở mấy ngày cũng được. Lóng rày mùa màng xong xả hết rồi cũng hổng làm gì cho hết ngày. Thôi ngồi chơi đi nghen, tao đi ngủ à.
Bà Năm cầm bịch trầu bước vô buồng. Nhân Hậu ngáp dài, thở hắt ra ngó hai người bạn gái:
– Hai đứa muốn ngồi chơi hay đi về, đi ngủ tùy ý nha. Tao hổng cản hổng ép…tao thì ngáp rồi đó. Mệt thấy bà luôn…hổng biết sao ở không lại mệt quá chừng đi. Cứ như thể là mới đập mấy cộ lúa hổng bằng.
Lụa bẻ mình, ưởn ngực, co vai:
– Tao cũng buồn ngủ quá đi, nhà tao ở gần chắc tao về, con Sáu ở lại với con Hậu cho vui…hai đứa tụi bay nói chuyện cho đỡ buồn.
Nhân Hậu đứng lên dẹp dĩa bánh in còn mấy cái vô góc bàn, cầm cái khăn phủi phủi trên mặt bàn. Nguyệt Nga ngồi nhích qua một bên. Nàng nhìn Hậu như muốn nói chuyện gì, mấp máy môi. Lụa quay lưng bước ra cửa. Ngoài sân có tiếng ồn ào. Mấy cô gái nhìn ra sân. Mấy đứa em Nhân Hậu bước vô nhà. Thằng Tám vô trước thấy trong nhà còn thức nó thụt lại trợn mắt:
– Ủa! Mấy người còn thức?
Nhân Hậu kêu vô hỏi em:
– Tụi bay đi đâu bầy giờ mới về.
Con Sáu Nhơn Ái ngó chị nó cười:
– Đi coi người ta chửi lộn chớ đi đâu.
Nhân Hậu nhăn mặt:
– Con này lớn đầu rồi mà vô duyện thiệt mà. Ở đâu chửi lộn mà tụi bay đi coi?
Con Sáu Nhơn Aùi nguýt dài:
– Úi, thì bà Bảy với ông Tư đờn cò chớ ai. Chu mẹt ơi, chửi có bài có bản nghe muốn đã lỗ tai luôn.
Lụa mới quay lưng bước ra nghe nói, đứng lại nghe, vọt miệng hỏi liền:
– Chuyện gì? Bà Bảy với ông Tư đờn cò sao mà chửi lộn?
Nhân Hậu la em:
– Xí xọn nhiều chuyện. Thôi! Đi vô ngủ đi.
Lụa chận lại:
– Thì khoan cái đã, mầy để nó kể nghe coi cái đã Hậu.
Day qua con Sáu:
– Đâu, mầy kể nghe đi Sáu. Hai người đó tò te già nhơn nghĩa non vợ chồng ăn ở với nhau mà sao bữa nay chửi lộn?
Con Sáu Nhơn Ái ngó chị, Nhân Hậu không nói gì, nó kể:
– Cái ông Tư đờn cò hổng biết mắc cái chứng gì hồi chiều đi nhậu đâu đó rồi về đến đầu ngõ bị bà Bảy hỏi ổng phát ra gây bả à.
Lụa trề môi:
– Cái ông Tư đờn cò đó thì ngày nào mà hổng lai rai.
Con Sáu cãi:
– Nhưng bữa nay hình như bà Bảy bả ghen hay sao đó. Nghe đâu ông Tư đờn còn đi xóm ngồi đờn ca gì với một cô nào đó, bả ghen.
Lụa cười hăng hắc:
– Cũng ngộ hén, đi giựt chồng người ta rồi mà còn bày đặt ghen tuông làm như thương lắm vậy chớ. Í mèn ơi , thiên địa thánh thần ơi. Tui nghe cái bà Bảy giác hơi cũng đâu có vừa gì.
Nhân Hậu cười nói:
– Cái con Lụa nầy thiệt tình tao hết biết mầy luôn. Sao mầy khoái nghe mấy cái chuyện tầm phào đó vậy hổng biết.
Lụa cười khoái chí:
– Í, mèn đét ơi, con nầy kỳ cục. Tao hỏi mầy hổng nghe mấy cái chuyện đó thì nghe cái gì bây giờ? Bà nội ơi, suốt mùa lúa đi không thấy đất về không thấy trời, làm ngày làm đêm hết sông rồi nước, hết ruộng đến mương vườn…nghĩ mấy tháng hổng đi dạo xóm nghe chuyện thì làm cái gì?
Nguyệt Nga lắc đầu nhăn mủi ngó bạn cười:
– Tui hổng ngờ con Lụa nó khoẻ re như vậy. Chu mẹt ơi, tụi mình cũng lớn chồng ngồng rồi chớ bộ con nít con nôi gì sao…mà con Lụa thì hồi nào tới giờ nó như con nít vậy á. Tao thấy như mầy vậy mà sướng đó Lụa.
Nhân Hậu cười nói tiếp:
– Mầy nói vậy hổng sợ nó chửi sao. Cái tướng nó chần vần một đống có chồng họ chê già. Nó biết hết trơn hết trụi chớ ở đó mà con nít.
Lụa không để ý hai bạn nói về mình, nàng bắt con Tám Nhơn Ái kể cho nàng nghe chuyện bà Bảy và ông Tư Đờn.

63. Sự tích cái ông Tư Đờn cò nầy sanh ra không phải để làm việc, nghe đâu hồi còn trai tráng ông không như thanh niên trai tráng trong làng lo làm ăn, hoặc lo chuyện tương lai, suốt ngày ông lang thang dạo xóm ăn nhậu và ca vọng cổ, lúc nào trên đầu cũng xức dầu Brillantine láng mướt, học làm thì chậm mà học đờn ca thì mau. In tuồng như ông trời sanh ra anh Tư nầy là để ăn chơi. Anh ta học đờn mau lắm , đờn kìm, đờn gáo, nhứt là cái đờn cò anh vuốt anh láy mùi riệu tỉ tê, và cái giọng ca thì thôi khỏi nói, cái giọng thâm kim xuống câu xề đổ hột mê tơi. Cái ngón tay anh Tư Đờn còn vuốt đờn đờn đã dịu nhỉu mà vuốt đùi con gái càng lẹ hơn mới chết con gái người ta. Người ta kể lại là ngày còn trai trẻ anh ta theo ghe thương hồ buôn bán trên miệt sông Tiền, cai Lậy, Cái Bè; sau tậu được cái quán trên ngã ba Trung Lương bán cà phê và bán cháo lòng cho khách lên xuống đường Sài Gòn Mỹ Tho Cần Thơ. Nghe đâu có một dạo anh ta còn làm nghề cho mướn xe lôi. Cuộc đời chỉ một cây đờn cò anh Tư Đờn đi khắp đầu nguồn đến cuối vàm vuốt dây đờn trong các đám cúng, đám tiệc rồi về đêm đóng cửa quán mùi mẫn với tiếng đờn tiếng ca, anh Tư Đờn vuốt dây đờn và vuốt con gái cũng thiện nghệ hết xẩy. Nhưng có vay có trả, về già hổng có vợ con nên về xóm mua cái xuồng ba lá buôn bán lẹt quẹt, đến ngày gặp bà Bảy-lúc đó là cô Bảy cũng có giọng ca “mùi rịu” khi ca giọng ca hợp với con mắt liếc có đuôi. Hai người tò te và ráp lại thành cặp cất cái chòi trên doi dất đầu vàm chuyên nghề bán buôn cù là thuốc cao đơn hoàn tán trong xóm. Cái hồi mới về xóm, người ta bàn tán như vầy. Bà Tư Xương Vân trề môi:
– Cái ngữ đó mà buôn bán nỗi gì, chỉ có nước xách cái đáy quần đi ngồi xóm thì giỏi.
Bà Tám Kim Ngọc thì chu mõ:
– Còn cái thằng đó mà mần ăn cái gì, hết chun đáy quần con nầy thì rúc đầu vô háng con khác chớ mần ăn gì đó mà ham.
Cuộc đời bà Bảy Cù Là, tức bà Bảy Giác Hơi sau nầy, là một cuộc đời tiền hung hậu kiết. Lúc gặp thời vòng vàng, nhẫn bạc bà đeo nặng tay, bông tai chói con mắt. Nhan sắc xuân thời của bà không xếu cũng không đẹp cho lắm. Thân hình mãnh mai nhưng tình địch hoặc những người nào không thích cái tánh khỉ khọt của bà ta thì tả hình tả dạng là “con khô hố.” Tuy bộ ngực hới lép nhưng biết độn biết cơi, biết làm be làm ván sạp cho nên coi cũng được. Nhừt hạng là mỗi khi “Cô Bảy” bẹo hình bẹo dạng cái ngực ưỡn ra, cái eo thắt lại…ôi thì thôi mấy anh sồnsồn có vợ dòm nhỉu nước miếng. Mái tóc để dài theo kiểu tóc thề của con gái, chàibới tân thời theo đào hát bóng cải lương. Về giọng ca, cô Bảy trời cho giọng nói lảnh lót như con chim chìa vôi, ỏng ẹo làm màu, thêm đóng tuồng không thua nghệ sĩ nhứt hạng Năm Phỉ, Phùng Há. Các ông liếm mép thèm thuồng ngoái cổ lại nhìn khi cô Bảy lướt qua, thiệt là khó trách được các bà tại sao ghét cay ghét đắng cô Bảy.

Người ta nói gì thì nói, đời sống có người nầy người nọ. Ngày mới về cư ngụ trong xóm, Tư Đờn Cò đem quà biếu khắp xóm để lấy lòng. Cái quà cái bánh không đáng là bao, một chiếc chiếu cói cho người ta ngồi nghỉ trưa tại đám gặt, chai dầu cù là cho bà già đầu xóm, gói thuốc vấn cho ông Tám cất vó trong bàu… nhà nào có giỗ kỵ cúng cơm là y xách cái đờn còn cũ kỷ tới nhà kéo ò e, bà Bảy ca hát giúp vui văn nghệ. Lần hồi không thấy có chuyện gì xảy ra gây trở ngại cho ai nên mọi người không ai để ý, và từ đó họ sống chung trong xóm. Chuyện Tư Đờn Cò chửi lộn với bà Bảy là chuyện cơm bữa. Nhưng hôm nay lớn chuyện vì:
– Tui nghe đâu là ông Tư Đờn Cò te rẹt với cô nào đó mới có chuyện lớn. Úi cha mẹ ơi, bà Bảy chửi “con nào đó nó lấy chồng tao nó rù quến chống tao thì chằn ăn trăn quấn nó, đồ cái ngữ quạ tha ma bắt, thần đánh thánh đâm cho đổ ruột lòi phèo.”
Bà Bảy chửi vang rân con nít đờn bà kéo ra bu quanh nghe ngóng, chỉ chọt. Mấy ông rề lại ngồi chồm hổm hút thuốc coi như coi hát mãi võ Sơn Đông, nhìn cặp vợ chồng gấu ó như coi con khỉ làm trò. Nói nào ngay, bà Bảy giác hơi cắt lễ cũng mát tay, cái miệng bà lét chét lanh chanh vừa thoa bóp vừa kể chuyện “vô hồi kỳ trận” mua vui cho khách. Chính miệng bả kể: “Chị biết hông, ngày xưa tui cũng ngon cơm lắm chớ bộ giỡn chơi sao. Cái hồi xuân sắc còn thắm tươi nhiều kẻ dòm người ngó” Rồi bả khoe rằng “Tui bận cái áo lụa lèo màu hường có chấm bông xanh, bông trắng, tóc tui chải bới gọn gàng, bôi son dồi phấn đẹp ba chê đâu có thua cô đào hát bóng. Còn cái giọng ca của tui là giọng của đào thương. Tui mà xuống Nam Ai, Tứ Đại Oán thì cái cây cũng sa lệ. Còn cái giọng huê tình tui mà cất lên thì con nít đang khóc cũng ngẫn ngơ nín khe nín thít, cái đám thanh niên trai tráng chưa vợ chưa biết mùi đời mê tít thò lò đã đành thì nói chi cái ngữ đờn ông có vợ mà có cái tật mèo mã gà đồng càng mê tơi tụng rún. Nói thiệt tui phủi như phủi bụi mà có dứt được đâu. Nói thiệt mấy chị nghe cái gì cũng vậy hết trơn. Thói đời mà “Không chùi để vậy lu li, chùi ra sáng bóng thua gì trăng Thu.” Bà cười xành xạch như cái máy quạt lúa tiếp “Cái thứ đờn ông nó ngộ lắm mấy chị ơi, mình là đờn bà con gái gọi là nữ lưu phái yếu thì trời cho cái vũ khí rất là lợi hại, đờn ông ngon cở nào cũng quỵ. Đố mấy chị biết nó là cái gì?” Bà không đợi ai trả lời trảvốn bà cười ré lên làm tiếp luôn: “Cái đó đó…cái chỗ đó đó chèn ơi, cái mùi của nó bốc ra là thơm ngào ngạt, hổng thơm hơn múi mít thì cũng bằng chớ hổng thua. Mà là mít Tố Nữ đó nghen. Thánh nhơn phàm nhơn gì cũng một chỗ đó mà ra chạy trời hổng thoát.” Những lời trây trúa trật bồ lương của bà Bảy làm cho mấy cô gái đương xuân đỏ mặt chạy tuốt, còn mấy bà thì se sẽ kín đáo thở dài, nhưng cũng có chị cười chúm chím. Nghe bà Bảy nói người ta không biết bà Bảy Giác Hơi thuở thiếu nữ xuân xanh ngon cở nào. Chớ ngày bà gá nghĩa tào khang (theo lời bà nói thì bà mắc nợ ảnh) với Tư Đờn Cò thì xuân sắc của bà như con heo mấy lứa, cái bụng thì chang bang, từ trên xuống dưới y chang cái lu mái dầm, cái chành đựng lúa.

64. Chiều nay khi đứng giữa đường đón ông Tư Đờn lời qua tiếng lại thì mấy con mẹ ngồi lê đôi mách lại có cơ hội chót chét trề môi nhọn mõ giở lại cuộc đời cô Bảy Giác Hơi. Cái miệng bà Tư Xương Vân nổ trước:
– Tui nói có sai đâu. Cái ngữ như thằng chả có môn xách đít ngồi la cà đờn ca xướng hát. Người xưa đã nói là “xướng ca là vô loại” thì nó phải như vậy mới xứng chớ.
Bà Tám Kim Ngọc dãnh môi cười ré:
– Chị nói chữ thì tui cũng nói chữ cho chị nghe “Đó là củ ấu một bồn. Có đâu chanh khế sánh cùng lựu lê.” Người ta đã nói “Nồi nào thì úp vung nấy” hổng lẽ ba cái lý thường nhơn mạt hạng đó mà chị hổng biết hay sao?
Bà Tư Xương Vân đâu có kém tài. Bà ngồi bệch xuống cái nón lá lót dười mông đít, bà cười hăng hắc nguýt dài:
– Chi sao mà hay chữ , tui nói chị nghe nè. Chị có nghe câu “phu xướng phụ tùy”
Bà Tám Kim Ngọc đâu có vừa vỏi gì. Bà hấp háy cặp mắt có đuôi của bà và bà đối đáp:
– Chèn ơi, tưởng chị nói câu chữ gì khó khăn …Sá gì ba cái chữ đó…
Bà Tám Xương Vân đập hai tay vô đùi cái bốp, bà cười lớn:
– Chị ơi là bà chị ơi, sao mà chị mau mắn như vậy…đó mới là câu đầu thôi bà chị. Câu là phu xướng phụ tùy, đến khi hết lúa chim thì bỏ đi…đó bà chị. Tui nói thiệt, nói ra sợ mắc cái vạ miệng chớ từ ngày con mẻ về đây tui thấy làm hư con gái xóm nầy. Nghe đâu con mẻ “ngọt như đường cát, mát như đường phèn” dụ dỗ chồng người lấy tiền nuôi con mẽ đậu chến đó chị ơi.
Người chung quanh thắc mắc:
– Ủa, vậy sao? Vậy tiền của mẻ đâu đâu mà bây giờ sống coi đạm bạc dữ thần làm vậy.
Bà tám Xương Vân ra cái điều hiều biết:
– Ơ…của thiên trả địa. Của Thiên Tào trả lại Âm Ty, con mẻ lấy tiền mấycha già dịch đem nuôi thằng bồ non nhỏ hơn y thị vài ba tuổi. Thằng bồ lấy tiền con mẻ cờ bạc sạch sành sanh rồi bỏ đi.
– Vậïy sao.
– Ừa, như vậy chớ sao. Nói thiệt tui hổng ghét gì con mẻ, có con mẻ trong xóm cũng vui, lâu lâu con mẻ ca nghe cũng đở, chỉ có cái tội cái miệng chen chét, cái con mắt có đuôi liếc ngang liếc dọc tui sợ mấy thằng chồng dịch vật ham của lạ laiï đem tiền của nuôi con mẻ mà thôi.
Bà Tư Kim Ngọc thở cái phì:
– Thằng chồng tui mà léng phéng là tui chặt ra làm hai khúc, tui xẻ làm tám miếng làm nem, quết nhuyển làm chả cấp kỳ.
Đám đông bu quanh cười ha hả thì thào:
– Thương chồng cũng bộn đó chớ.
Có tiếng phẩm bình:
– Ủa, tại sao con mẻ như vậy mà có người mê được hổng biết.
– Có lẽ con mẻ có nghề.
– Nghề gì?
– Chèn ơi, chị hổng nghe cái …”đó” nó có răng hay sao mà hỏi. Người ta nói “nó”mà có răng thì nó nhai nó nghiến mấy ông mê tơi rụng rún luôn. Miệng trên thì nó rên, nó thở; miệng dưới nó nghiến nó nhai. ông nào mà chịu cho thấu.
– Sao bà rành sáu câu vậy bà? Hay là thằng chồng “dê cụ” của bà léng phéng mấy lần rồi…
Một bà im ỉm cười chúm chím góp chuyện:
– Tui kể cho mấy chị nghe chuyện nầy nha. Có một lần tui nghe người ta nói lại…hôm đó có người đi ngang nhà bà Bảy buổi trưa, bất thình lình nghe từ trong buồng gói, cách đường lộ chừng vài ba bước có tiếng rên ư ử, có tiếng hít hà chắc lưỡi rồi có tiếng cót két của chiếc chỏng tre. Người đó tưởng đâu trong nhà có người dau, họ đứng lại nghe, càng nghe càng thấy khó cầm lòng…tiếng rên rỉ hít hà càng lúc càng dồn dập…rồi có tiếng bà Bảy nói đứt khoảng qua hơi thở…anh ơi mạnh chút nữa đi anh…mạnh mạnh thêm chút nữa đi anh…sướng quá… đã quá …úi cha mẹ ơi…đó đó chỗ đó đó…xuống tí nữa đi…đúng rồi mạnh đi anh…em sướng quá…” Người nghe bên ngoài choáng váng muốn bỏ đi nhưng tánh tò mò trời sanh không tránh được nên vạch lá dòm vô. Các chị biết chuyện gì hông?
– Bà nầy già đầu mà còn nói chuyện tầm ruồng giữa thanh thiên bạch nhựt. Hổng sợ con cái nó cười cho thúi đầu.
– Bà biết gì mà nói. Sao bà biết tui nói tầm ruồng. Bà biết bà Bảy làm gì hông?
– Thì chuyện…chuyện…gì nữa bây giờ.
Người kể chuyện cười phá lên thiệt to:
– Thiệt đúng là “Đêm ngày tơ tưởng chuyện gì… “ thì nó ra chuyện đó mà. Bà lấy bụng ta suy ra bụng người…tui đâu có nói tầmruồng, bà nghi bậy thì có. Bà biết bà Bảy bả làm gì hông? Bả nhờ chồng bả gải lưng bả sướng bả rên thôi mà.
Có tiếng cười ha hả của một ông naò đó, và có tiếng góp chuyện:
– Trời ơi là trời. Gải lưng mà hít hà như thể …
Môt ông ngồi kế bên vừa hút thuốc vừa cười tủm tỉm nói:
– Chèn ơi, tui mà biết như vậy thì bả đâu có ở không từ hồi đó đến ngày bả gặp cha Tư Đờn Cò. Của trời cho hổng ăn mang tội chết.
Bà Tư Xương Vân cười hăng hắc:
– Chà dữ đa nghen, bả còn đó mà có mất đi đâu mà sợ. Ông nói thánh nói tướng có ngon thì nhào vô đi, ba bảy 21 ngày là còn xác mắm.
Đám đông ngồi tụ năm tụm ba coi vợ chồng Tư Đờn Cò diễn tuồng miễn phí. To miệng và lời ra tiếng vô rậm đám vẫn là cặp bài trùng Tư Xương Vân và Tám Kim Ngọc.
Lần này Tám Kim Ngọc dài hơi:
– Tui nói cho bà con nghe, thói thường ở đời hể ở phải thì phải ở cho người ta thương, còn chen chét cái miệng nói chuyện nhơn nghĩa mà cái bụng thì chứa một bồ dao găm hổng trước thời sau người đời cũng biết à. Cho nên tui nghĩ cái chuyện của cặp vợ chồng nầy là chuyện “rổ rá cặp lại” trước sau gì cũng bể thôi. Nói chuyện mà nghe chơi, chớ mình hổng tốt thì người ta hổng tốt lại với mình mà thôi. Đâu có gì lạ đâu cà. Tui đề quyết thằng cha Tư Đờn phải lòng con nhỏ nào đó ngon cơm bà Bảy Cù Là.
Bà Tư Xương Vân xắn ống quần gải sồn sột, vừa cười vừa nói:
– Chị Tám rành sáu câu hén. Chời ơi, chị nói nghe có bài có bản làm như hồi nào đến giờ chị ở trong nhà người ta hổng bằng. Nói thiệt mà nghe chơi, con người ta thánh tướng mần sao thì tui hổng biết, chớ cái chuyện đời nó hổng qua nổi cái chưn giường đâu à. Nói thì mấy cha mấy mẹ nói tui nói trây chớ tui hỏi ai nói tui nghe coi…Ai nhịn thèm chừng ba ngày mà hổng chảy nước giải chạy như chó giái tháng Bảy nói tui nghe coi. Nhưng mà dầu sao chị nói nghe có lý. Tui nghĩ như chị, mình đó mà chị ăn ở phải có cái đức cho con cháu nó nhờ, thiệt thèm thì thèm chớ con gái đờn bà đâu có xách háng đi rông đâu, còn mấy cha thì khỏi nói…cứ có lổ là xỏ là thọc là ngoái thôi đâu cần biết phải trái nhơn tình nhơn ngãi gì đâu cà. Trong chuyện nầy tui đề quyết cha Tư Đờn xách gáo đi hoang bị chửi cũng đúng thôi mà. Đơn ông như là con heo nọc.
Hai chị đờn bà lời qua ý lại thêm mắm dặm muối làm câu chuyện thêm phần hào hứng. Một ông nghe ý kiến củahai chị đờn bà, ông chen vô:
– Hai bà nầy mới thiệt là vô duyên. Nhưng không tại sao lại chửi đám đờn ông tụi tui là sao? Thằng cha Tư Đờn là thằng cha Tư Đờn mắc mớ gì đến đám tụi nầy đâu mà nói cạnh nói khóe chớ.
Bà Tư Xương Vân cười hức hức trả lời:
– Tui nói hổng phải sao. Chèn ơi, ông làm như đờn ông tốt lắm vậy. Tui hỏi ông ông nè, vậy chớ ông có xách giái đi rông hông nè.
Có tiếng người đàn bà nào đó cười ré lên:
– Chu mẹt ơi, thêm bên nầy một đám nữa cà. Cái bà Tám nầy huỵch toẹt hết trơn.
Người đàn ông vừa lên tiếng phản ứng câu chuyện trời ơi đất hởi của bà Tám Xương Vân, ông khịt khịt trong lỗ mũi tỏ ý không đồng ý.
– Tui nói cho bà con nghe, cây cau có cây trổ buồng có cây hổng có trái, cái nhà nó dột có nơi, cây mía còn có cây ngọt cây sâu….đâu phải người nào cũng giống như bà Tám đây nói. Tui hổng chịu cái chuyện quơ đủa cả nắm như bả đâu.
Một tiếng đàn ông khác nói vô:
– Tui chịu anh Chín đó anh Chín….mẹ họ còn đờn bà ngồi lê đôi mắch sao hổng kể luôn ra đi.
Bà Tám Kim Ngọc xấn xổ:
– Ai nói đó, ai đó ngon thì ra mặt tui coi. Ai nói đờn bà ngồi lê đôi mách? Xí! chời ơi, hổng có con nầy thì lấy ai nằm ngữa cho mấy cha vọc.
Đám đông cười ré lên, chuyện bà Bảy Cù Là giác hơi chửi lộn với chồng trở nên mờ nhạt trước chuyện đôi co bất ngờ làm mọi người chú ý trong đám đông ngồi coi.
Bà Tám Kim Ngọc tiếp tục xỉa xói:
– Tui nói cho mà biết nha, đờn bà cũng năm bảy thứ đờn bà. Có thứ đờn bà làm nên cơ nghiệp như Đắc Kỷ, cũng có thứ đờn bà như con mẹ Hoạn Thư. Có người đờn bà như con mẹ Bảy Cù Là chồng chung vợ góp “miệng thơn thớt dạ ớt ngâm” có thứ đờn bàđi làng trên xóm dưới cặp bồ hết thằng nầy đến thằng khác, hổng làm đỉ mà như làm đỉ, bòn rút của người làm của mình…thà làm đỉ chín phương còn chừa một phương để lấy chồng…Cũng có đờn bà ngon cơm như Bà Trưng Bà Triệu, thì cũng có thứ ác phụ như Cù Thị, Dương Vân Nga…cái ngử mà chồng chết chưa xanh cỏ đã xách …xách…a…cho nó quậy. Í cha ơi mẹ ơi, nói cho mà nghe chơi vậy thôi. Tui dzìa đây chị Tư.
Bà Tư Xương Vân nắm tay bà Tám Kim Ngọc kéo lại:
– Thủng thỉnh rồi về, có ai gì đâu mà bà nổi tam bành lục tặc. Đi coi chớ đâu phải mình làm tuồng cho người ta coi đâu bà.
Bà Tám Kim Ngọc thở hào hển, mặt đỏ tía tai:
– Thì cũng phải ra miệng cho người ta biết chớ chị, hông thôi người ta tưởng mình ngu.
Bà Tư Xương Vân xề xòa:
– Ừa, như vậy là đã nư rồi ngồi xuống đây chơi.
Đám đông còn tụ tập hồi lâu mới giản ra khi Tư Đờn xách đờn lủi vô nhà và bà Bảy Cù Là te te đi theo.

65. Lụa cười ngắt ngẻo sau khi nghe con Tám thuật lại đầu đuôi. Lụa lúc lắc cái đầu đắc chí:
– Chuyện cũng ngộ há. Nói cho cùng cũng tại cái tánh tò mò, ghen tuông hổn ẩu.
Nhân Hậu kéo Nguyệt Nga đứng lên; có tiếng con chó hực ngoài sân. Lụa nhìn ra:
– Ai vậy cà?
Có tiếng dậm chưn trên nền nhà, tiếng người chào:
– Chưa rả đám đi về ngủ sao?
Lụa cười hắt lên:
– Chèn ơi, Sáu Bảnh. Sao còn trở lại làm gì đây?
Sáu Bảnh bước vô nhà:
– Tui về tới nhà mới hay là tui bỏ quên đôi dép bên nầy, tui quay trở lại thì thấy đèn còn sáng.
Lụa nhíu cặp chăn mày sắc lẽm cười:
– Cái nầy phải xin keo rồi đa. Khó mà tin cho nổi. Hèn gì từ nảy giờ con Hậu nó hối tụi nầy về chầm chập hà. Thôi tui dzìa đây nghen.
Sáu Bảnh giơ hai tay cản lại:
– Nói thiệt đó mà.
Lụa càng cười to hơn:
– Ủa, chớ tui có nói là anh nói xạo đâu à.
Sáu Bảnh chào mọi người trong nhà nhưng còn đúng ngoài nghạch cửa. Nhân Hậu lên tiếng mới:
– Anh bước vô trong này đi anh Sáu. Tui văn cái đen lên cho anh dễ thấy.
Sáu bảnh bước vô nhà đi thẳng lại tấm phản, cúi người xuống ngó dưới đất. Thằng Út còn xớ rớ gần đó tìm phụ. Cầm đôi dép lên tay, Sáu Bảnh dợm bước ra thì Lụa chận lại:
– Tui nói chơi thôi mà. Anh Sáu ở lại chơi chút đi đừng có về thì tui mạng tội với con bạn quý của tui.
Sáu Bảnh áy náy Nhân Hậu lên tiếng giải tỏa:
– Thì ngồi chơi chút đi anh Sáu. Tụi nầy cũng sắp đi ngủ rồi.
Thằng Út chạy lại kéo Sáu Bảnh:
– Mai anh tính đi sông hông anh Sáu.
Sáu Bảnh rót ly nước uống một hớp, trả lời:
– Đi thì đi đâu có sao.
Sáu Bảnh uống một hơi hết ly nước, lấy một cái bánh in bỏ vô miệng nhai. Thằng Út có bạn nên tía lia:
– Anh Sáu, hồi chặp tối anh đi lại đây có thấy nhà ông Tư Đờn Cò còn đông người hông?
Sáu Bảnh ngó khắp lượt trong nhà, bất chợt anh thở ra và nói:
– Là đờn ông con trai đi nói cái chuyện ngoài đường nó cũng không được phải cho lắm, nhưng hồi đầu hôm trên đường về nhà tui thấy đám đông tụ tập chỗ nhà Tư Đòn Cò nhưng bây giờ tản ra rồi. Nghĩ cũng bậy thiệt, chòm xóm với nhau mà sao bà con mình hổng can ra còn đứng coi như coi hát bộ.
Lụa các cớ:
– Ủa sao anh hông vô can người ta?
Sáu Bảnh ngồi xuống ghế:
– Có chớ sao không. Nhưng họ đâu có nghe, rồi bạn bè nó kéo đi thì thôi.
Lụa cười:
– Đó, anh thấy chưa, đâu phải chuyện của mình, đâu có ăn nhậu gì đến mình thì mình vấy vô cho mất công chớ.
Sáu Bảnh không bằng lòng cải lại:
– Cô ba nói sao chớ, tui nhớ hồi trước đâu có như vậy đâu. Mà thiệt ra cũng còn tùy người nữa. Nói nào ngay, người mình dễ nóng mà cũng dễ quên. Thiệt ra mỗi người mỗi cách sống, cái nhà ông Tư nầy từ ngày về làng mình đến nay tuy là ổng ăn ở lấy lòng nhiều người nhưng thiệt ra trong cái bụng của vợ chồng ổng bả hông có thiệt nên bà con họ hổng muốn dính vô thôi à.
Nhân Hậu ngồi xuống ghế nói thêm:
– Tui nói như vầy nè, cái gì cũng vậy hết trơn, hể có qua thì có lại, có xưa mới đến có nay. Cây nào đất nào nó quen đất đó hết trơn. Người ở quê quen cái thói ở quê, còn người ở chợ họ quen cái tánh cách của ở chợ. Hổng phải mình nói xấu người ta chớ ở tỉnh ở quê nó khác xa lắm. Tui nhớ bên Đường Tăng nó cách Long Xuyên đâu có bao nhiêu xa mà về Đường Tăng nó khác liền hà. Cái nhà ông Tư hồi trước ổng ở trên tỉnh quen cái cách trên đó nhà ai nấy ở cho nên bà con cũng hơi ngại đi lại. Hơn nữa ổng bả sao mà xa cách quá hà. Nói thiệt dù có ngồi nhậu cùng bàn, chấm chung chén nước mắm mà tánh cách hình như là nó hổng được hòa hợp cho lắm.

Mọi người trở lại bàn, Ba Lụa ngó sửng Nhân Hậu có vẻ như mắc cở. Vô tình khi Nhân Hậu nhắc đến người trên tỉnh mắt nàng ngó Lụa. Nhân Hậu vỗ vai Nguyệt Nga:
– Không phải tui nói bà đâu nha, tui nói chung chung như vậy thôi.
Nguyệt Nga gật đầu:
– Tui biết mà. Nói cho mấyngười nghe, nhưng ngày tui ở trển đó tui cũng thấy nó khác với dưới mình, riết rồi cũng quen. Mà phải nói thiệt một câu là họ lanh chanh lắm mà cũng xa cách với mình lắm. Ở trển là dân tứ chiến giang hồ mười phương hợp lại mà. Nói cho ngay thì con gái quê phải để ý chớ không thì mật ngọt chết ruồi đó chớ hổng phải chơi.
Càng nghe nói Lụa càng nhột nhạt. Trong lòng cô gái đôi mươi vẫn không thể nào quên được những cảm tình dành cho người thanh niên tênThành Đạt tức Hai Hường, qua câu chuyện của Nguyệt Nga đã chứng tỏ phần nào tấm lòng không thành thực của Hai Hường nhưng Lụa vẫn không thể một sớm một chiều quên được hình ảnh của anh ta.
Sáu Bảnh bồi thêm:
– Tui thiệt tình cũng khó mà nói, nhưng tui thấy như tui nè khó mà chơi được với họ lâu dài. Sao mà như nước đổ lá khoai vậy đó.
Nguyệ Nga thở ra:
– Nói như vậy cũng có phần hơi quá, người thì có người vầy người khác. Mà nói ao cho phài bây giờ. Tui lấy chuyện tui nè, cái gì thì hổng biết nhưng trong chuyện đôi lứa trái gái thì tui hổng thích cho mấy, con gái mà gặp thì thôi….ngọt còn hơn nước dừa Xiêm.
Nhân Hậu rót ly nước, lấy một cái bánh vừa nhai vừa uống nước. Nghe bạn nói Nhân Hậu nắm lấy tay bạn, nói thì nói với Nguyệt Nga nhưng con mắt thì liếc nhìn Lụa.
– Chuyện gì thì chuyện, tui nói nhu vâỳ cho mấy người nghe nè. Trong cái chuyện trai gái thì ông bà mình đã nói rồi.
“Đứng xa kêu bớ anh Mười
Không thương anh nói chớ đừng đẩy đưa
Không thương em hổng có cần
Trầm hương khó kiếm chớ ổi bần thiếu chi”:
Như vậy đó. Cứ nói thẳng thét ra một lời đi cho xong chớ màu mè chưng dọn thì mệt lắm, biết đâu mà rờ hả? Tui nói thiệt nha, nếu mà phải lòng với nhau rồi thì nói phứt ra cho rồi…giàu nghèo mà làm gì.
“Yêu nhau giàu khó chớ lo.
Một mai thiên địa lai cho xoay vần.
Thương nhau xa cũng như gần.
Tham bên phú quý phụ bần khó.
Yêu nhau duyên phận thời thôi.
Của thì như nước hồ vơi lại đầy.”

Nói với bạn mà ánh mắt Hậu đầy đưa Sáu Bảnh. Anh thanh niên nầy nghe cũng lờ mờ hiểu ra, ngặt một điều anh ta không biết nói sao cho phài đành nhe răng cười ngờ nghệt. Lụa nào không biết cái ý của bạn.
Nàng hít vô một hơi đầy bụng, cơ thể căng cứng xuân tình, miệng cười cười nói với Hậu:
– Nói thì dễ lắm nhưng biết có làm được hay không? Ai mà hổng muốn vẹn trăm bề. Chuyện trai gái tơ tưởng thương yêu đâu phải ây giờmới có. Caiù hồi tía má của tụi mình tuy là không được màu mè tó te dễ giải nhưng đâu có phải là không có. Con người mà, đã thương rồi thì phài nhớ phải tơ tưởng chớ phài hông. Có phải là thánh đâu mà biểu đừng. Hổng nghe câu hát như vầy sao?
“Đố ai biết lúa mấy cây.
Biết sông mấy khúc biết mây mấy từng.
Đố ai quét sạch lá rừng.
Để tôi khuyên giớ, gió đừng rung cây.”

Nhân Hậu nhìn Sáu Bảnh, ánh mắt nàng tha thiết gửi trao, Sáu Bảnh tỉnh queo đón nhận không biết trả làm sao. Trong lòng anh rưng rưng cảm động, ngoài miệng thì cộc lốc thẳng băng:
– Hồi đó sướng quá hà, muốn là có ông mai bà mối nói giùm cho rồi đâu có đợi tới phiên mình.
Lụa nguýt thiệt dài:
– Hứ! Như anh thì có môn mà mất vợ. Hổng biết ai mà thương anh cho được há. Của để trước mắt đó mà hổng biết ăn. Tui hổng biết tại sao anh hổng thấy hay là anh đuôi. Hổng nhào vô chụp thì mất vợ như chơi.
Nhân Hậu nhăn nhó mặt mày, nhưng hai gò má ửng đỏ liếc Sáu Bảnh. Thằng Út nhìn chị nó rồi quay qua nhìn Sáu Bảnh. Nó nhớ bữa nó và đám bạn nó rình ngoài bờ mương nghe hai người nói chuyện. Nó biết chị Ba nó đã phải lòng, nhưng Sáu Bảnh thì cứ thậm thò thậm thụt. Nguyệt Nga nhìn bạn rồi quay sang ngó Sáu Bảnh thăm dò. Thấy mọi người trong nhà đều quay đầu nhìn mình Sáu Bảnh càng lúng túng quơ vội vàng cái chén ấm trà rót nước và nước tràn đổ ra đầy tay anh vẫn chưa chịu ngừng tay. Thằng Út cười hăng hắc đập tay anh ta và nói:
– Anh Sáu à, nước nguội ngắt rồi nên anh hông biết nóng ha anh Sáu. Anh ngồi sửng như cục đất vậy ha. Chi Ba tui đâu có ăn thịt ăn cá gì anh đâu mà anh chết sửng vâïy chớ.
Nhân Hậu trừng mắt nhìn thằng em, Út nhăn mủi chọc chị nó, Nhân Hậu dứ nắm tay, thằng Út cười hưng hức nghiêng đầu né. Nó kêu Sáu Bảnh:
– Anh coi bả dữ như bà chằng kìa anh Sáu, hèn gì anh sợ bả chết cứng đơ cứng ngắt trên ghế cũng phải mà.
Nhân Hậu nạt em:
– Mầy im cái mỏ mầy lại được hông?
Thằng Út càng làm già:
– Mắc gì tui phải im chớ. Tui nói hồng phải sao.
Hai chị em Nhân Hậu người nói qua kẻ chọc lại đủ thời gian cho Sáu Bảnh lấy lại bình tỉnh, Lụa và Nguyệt Nga ngó qua ngó lại hai người. Lụa cười nói.
– Nè Hậu à, anh Sáu ảnh ít tiếng ít lời, chắccái hồi sanh ra bà mụ hổng dạy ảnh nói. Thôi để tao làm thế cho ảnh hén. Sau nầy hai người có được thì nhớ tui nghen.
Lụa giả cái giọng ồ ồ của Sáu Bảnh đọc mấy câu ca dao:
“Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhận giăng tơ
Nhện ơi nhện hởi nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chêch sao mai
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.”
Nguyệt Nga vui lây, cười nho nhỏ khều Lụa nháy mát nói:
– Dạ anh Sáu nói vậy chớ em đâu có buồn đâu anh Sáu…Quên mình giữa đám cỏ hoa; buồn tênh những lúc trăng tà sao thưa….anh Sáu à.
Mọi người trong nhà cùng cười, cặp trai gái chết điếng trong tiếng cười của mọi người. Nhân Hậu bất ngờ bị rơi trong tình huống có muốn nói cũng không có cơ hội để nói.

Thằng Út và con Tám cười ngã nghiêng ngã ngửa. Hai chị em com Tám nằm lăn ra bộ ván ôm bụng cười, Nhân Hậu muốn rầy em nhưng cứng họng, mặt đỏ như trái cà chua chín không biết nói gì hơn là cứng mình chịu trận. Lụa thủng thỉnh nói từng tiếng một nhái giọng bà già trầu:
– Thôi thì tụi bay không dám nói để qua nói cho. Nhớ nghen, khi thành gia thất nhớ cho bà già nầy cái đuôi con heo là được rồi.
Sáu Bảnh rót thêm một ly nước, anh hít vô một hơi dài, giọng chậm rải hơi khàn:
– Mấy đứa chọc cô Ba làm gì. Thôi tui đi về.
Lụa nắm tay kéo lại:
– Coi cà anh Sáu. Chới chút cái đã. Tui nói thiệt nha. Bây giờ mình nói chuyện đàng hoàng đi hông giỡn nữa nè. Tui hỏi thiệt như vầy…chớ anh là con trai …nêu như mà anh thương ai anh có dám nói cho người ta biết hông nè?
Sáu Bảnh bẻ cổ kêu cái rốp, nhíu cặp chăn mày rậm, mím môi. Cuối cùng thì anh nói vẫn cái giọng khàn khàn:
– Nói như cô thì yêu thương ai thì mình phải nói ra mới được sao.
Lụa hứ một tiếng:
– Chớ sao. Hông nói làm sao người ta biết được?
Sáu Bảnh ngó quanh, mọi người đang nhớng tai nghe anh nói. Sáu Bảnh nhướng mắt:
– Thiệt ra hông nói người ta cũng biết mà. Thôi tui hòi cô…vậy chớ thằng cha Hai Hường nó nói làm sao với cô, đâu cô học lại cho tui nghe coi…
Lụa chọt sửng người, nàng không dè anh nông dân to xác nhút nhát hay bị đám con gái chọc ghẹo mà hôm nay mở miệng hỏi khó, hòi đúng vô nổi đau dấu kín của Lụa. Nàng sửng người một hồi lâu và nụ cười chợt tắt trên môi. Nguyệt Nga ngồi bên cạnh cũng giựt thót người. Nàng không bao giờ nghĩ được Hai Hường với Lụa đã có qua lại trước đây. Nàng dãnh tai lắng nghe. Lụa xủ người xuống như tàu lá gặp lửa nóng. Căn nhà như không có người, không khí im vắng, chỉ cón tiếng thở nhè nhẹ của Lụa. Nàng thờ hắt ra:
– Thôi tui hông nói nữa. Tui phải dzìa mai còn đi sớm.
Nói vừa dứt lới Lụa đứng lên cái rột và nhớm bước ra cửa. Nguyệt Nga nắm tay kéo lại:
– Thì ngồi đây chơi lát nữa tui về với bà.
Sáu Bảnh chưng hửng, anh không biết xử trí làm sao. Trong đầu anh không bào giờ lường trước được một câu hỏi đơn giản như vậy chỉ làm anh mắc cở nhưng ngược lại với con gái thì nó ảnh hưởng quá mạng. Sáu Bảnh ấp úng:
– Cho tui xin lỗi. Bỏ quá cho tui…tui vô tình.

66. Lụa đứng im, tay Nguyệt Nga vẫn nắm chặt tay Lụa. Nguyệt Nga kéo Lụa ngồi xuống. Nhân Hậu liếc nhìn Sáu Bảnh với ánh mắt dịu dàng, Sáu Bảnh hồi hộp lóng cóng đưa ly nước lên miệng uống. Nhận Hậu vỗ vai Lụa:
– Chuyện không có gì đâu. Aûnh vô tình thôi.
Lụa ngước nhìn lên:
– Không. Tui đâu có nói gì anh Sáu đâu. Tại vì…tại vì tui …tui.
Nhân hậu rót một ly nước đầy qua phía Lụa:
– Lụa à. Bây giờ mầy mới hiểu …chuyện của người thì mình sáng còn đụng chuyện của mình thì nó không dễ phải hông. Mầy, bây giờ mời hiểu được nỗi lòng của con Nguyệt Nga.
Lụa lắc đầu:
– Không phải tao không hiểu chuyện. Tao biết mà…thì tao ở tới bây giờ cho con Nguyệt Nga nó được vui.
Nguyệt Nga nắm chặt hai tay Lụa. Môi mím lại và nói một hơi:
– Con gái luôn chịu phần thiệt thòi. Cái chuyện của tao từ nay coi như bỏ qua. Tao không muốn nhắc tới nó nũa. Kể từ ngày mai mọi chuyện sẽ bắt đầu coi như không có gì. Hai Hường là của mầy tao không ăn nhậu gì tới tao nữa.
Lụa ngó bạn:
– Nga à, như vậy là mầy nghĩ trật lất rồi. Tao với hai Hường không có gì dính líu hết.
Ngừng một lúc, Lụa tiếp:
– Nói cho đúng ra thì tao với chả cũng có một thời gian quen biết, nhưng không thân thiết cho lắm. Mầy đừng nghĩ như vậy. Bữa nay nói một lần cho dứt khoát là tao với chả không có qua lại gỉ nữa…mà mầy cũng đâu có làm gì cho tao buồn đâu. Mà nếu thiệt sự mầy nghĩ là chả thiệt lòng thương mầy thì mầy lấy chả cũng đâu có sao đâu.
Nguyệt Nga rắn rỏi hơn:
– Không được đâu, mầy đừng nói vậy. Đối với một con người không thiệt thà thì tao có lỡ dại một lần tao đã tởn rồi mấy đừng nhắc dến chuyện đó nữa. Chẳng qua là tao cầm lòng không đậu…mà…hơn nữa trong lúc tao…tao.
Nguyệt Nga thấy khó nói ra hết nên nàng im bặt. Thằng Út, con Tám thấy không còn chuyện gì vui nên hai đứa lằng lặng bước đi. Trong nhà bây giờ còn lại bá cô gái và Sáu Bảnh. Người thanh niên ngồi im bất động hết ngó bâng quớ lên nóc nhà rồi ngó mông ra ngoài khoảng sân có bóng sáng chiếc đèn hắt ra. Không biết Sáu Bảnh đã uống đế ly nước thư mấy. Khi cầm chiếc bình lên nhẹ hều không còn giọt nước nào nữa anh đứng lên đi rót nước, Nhân hậu giành lấy:
– Anh Sáu ngồi đó chơi đi, để tui đi rót nước thêm. Anh ăn bánh in hông tui lấy.
Sáu Bảnh khua tay lia lịa:
– Hông. Hông.
Nhân hậu bước đi ra nhà sau. Sáu Bảnh tắng hắng, giọng ấm ớ:
– Nè…cho tui nói một câu.
Hai người con gái ngó lên. Sáu Bảnh cười:
– Nói hổng phải nói chớ tui thấy đàn ông con trai có vợ bé vợ nhỏ cũng đâu có sao đâu. Như ông Tư ngoài bìa rừng đó, nghèo sặt gạch mà có tới hai bà vợ ở cùng xóm mà đâu có sao đâu.
Lụa hòi:
– Ý là anh nói, đàn ông có quyền hai ba vợ hả?
Sáu Bảnh khua tay:
– Hông. Hổng phải ý tui nói như vậy.
– Ủa. Chớ sao anh đem ông Tư ra nói làm cái gì?
Sáu Bảnh nhăn nhó phân bua:
– Hổng phải mà. Tui nói là đàn ông con trai người ta hay mèo chuột, vợ bé vợ lớn đó mà.
Lụa lắc đầu:
– Tui nói thiệt, ai thì được chớ với tui là không. Không bào giờ tui chịu làm bé ai hết.
Sáu Bảnh vô tình nói tình bơ:
– Thì làm vợ lớn.
Lụa trợn mắt:
– Anh nói cái gì?
Saú Bảnh hoảng quá lắc đầu:
– Thì tui nói vậy thôi mà. Thì hổng chịu thì thôi.
– Anh sao hay quá hà. Như vậy là ý của anh muốn hai vợ chắc?
Nhân hậu vừa ở nhà bếp bước lên. Sáu Bảnh hoảng hồn luống cuống:
– Hông…hổng phải tui nói tui đâu à.
Nhân hậu đạt bình nước vô bình ủ, nàng ngó Lụa:
– Chuyện gì nữa đó?
Nguyệt Nga chỉ tay vô Sáu Bảnh:
– Anh Sáu ảnh nói ảnh muốn có 2 vợ.
Sáu Bảnh bức đấu bức tóc kêu không liền miệng:
– Trời ơi là trời. Tui đâu có nói như vậy bao giờ đâu cà.
Nguyệt Nga và Lụa nhìn nhau lắc đầu. Nhân Hậu ngồi xuống bộ ván. Nàng nói:
– Anh lại ăn nói tầm ruồng gì nữa đây.
– Đâu có nói gì đâu. Tui chỉ nói là ông Tư ngoài bìa rừng ổng có 2 vợ thì có sao đâu. Vậy thôi hà.
Đến lượt Nhân Hậu trợn mắt ngạc nhiên:
– Đương không anh nói chuyện ông Tư ghe chài ra làm gì?
– Ủa mà …Sáu Bảnh cứng họng gải đầu…Ủa mà tui nói chuyện đó ra làm gì cà. Thiệt là miệng ăn mắm ăn muối nói tầm bậy…
Nguyệt Nga có vẻ không vừa lòng. Nàng thở dài:
– Anh nói mà anhhổng biết anh nói cái gì. Thiệt tui cũng hết biết anh luôn.
Nhân Hậu nhẹ nhàng:
– Caí anh nầy ăn nói hổng biết lựa lời, thiệt là khổ cho anh ghê.
Uống một hơp1 nước, đầy dĩa bánh nàng mới đem ra để trên bàn về phía hai bạn Nhân Hậu nói tiếp:
– Nói cho cùng thì người mình bị ăn nhập cái tánh xấu từ lâu. Người nào cũng nghĩ là trai năm thê bảy thiếp, còn gái thì chính chuyên một chồng. Nói nào ngay, cái nầy nó tiêm nhiễm vô người ta từ lâu nên ai họ cũng cho là chuyện tự nhiên. Caí nầy bên Tàu họ còn nhiều nữa cà. Hồi cái thời vua chúa thì sao cũng được chớ còn cái thời bây giờ ai mà chịu cái chuyện đó. Con gái đàn bà đâu có ai mà chịu cái kiếp làm vợ lẽ đâu,chỉ có mấy ông còn cái thói chồng chúa vợ tôi rồi tự binh vực cho mình thôi à. Tui mà có quyền thì tui đem mấy ông đó câu sấu ráo trọi hết.
Nguyệt Nga nhướngmắt:
– Tao tưởng mầy hiền lắm mà nghe cái giọng của mầy cũng dữ thần.
Nhân Hậu cười nhẹ:
– Caí nầy đâu phải là dữ hiền gì đâu. Phải thì thôi chớ. Mà nói cho đúng ra thì cũng tại người mình ít học mới ra nông nổi. Rồi cái hồi xưa bị người Tàu nó truyền cho cái tục coi trọng con trai và coi thường con gái. Tao hổng phải đòi hỏi gì, nhưng mà người con gái bị thiệt thòi thì tao phải nói thôi à.
Sáu Bảnh lại thiệt thà, vô tình đâm hơi:
– Tại đàn ông mạnh hơn, làm nhiều hơn nên họ được quyền chớ.
Nhân Hậu mở lờn đôi mắt, ánh mắt loang loáng có ánh sáng chiếu ra. Nàng nhìn Sáu Bảnh sửng sờ:
– Mạnh được yếu thua hả anh Sáu?
– Hổng phải. Nhưng mà xưa bày ra như vậy mà.
– Nói thiệt anh Sáu nghe. Cái tư tưởng đó không còn đúng nữa đâu à. Con người ai cũng là con người. Đàn nào cũng có người mạnh người yếu chớ. Còn làm nhiều làm ít…anh nói tui nghe coi nhiều ít làm sao đâu? Anh cuốc một công đất thì tui cũng cuốc một công đất, còn ba tui đi sông đi rừng, thì má tui ở nhà chăn gà chăn heo, làm tương làm cải. Oång đi ra ruộng trưa có cơm ăn, tồi về là có cơm ăn…ai làm mấy chuyện đó mà anh so bì nhiều ít.
Nguyệt Nga thêm:
– Cái hồi tui còn ở trong xóm thì anh tui phát một công ruộng thì tui cũng cấy năm bảy công ruộng…tui còn làm nhiều hơn ảnh à. Con trai đằn ông ngày hết mùa thì đi đá gà, đi dạo xóm, đi cờ bạc chớ làm gì. Còn đàn bà con trong nhà chuyện đăng đăng đê đâu có ai phụ đầu à. Sao hổng nói những lúc đó.
Lụa bồi thêm:
– Tui nói cho anh nghe nghen. Cái chuyện vợ bảy vợ ba thì mặc sức ai làm thì làm, còn tui hòi anh đàn ông con trai hay con gì cũng vậy hết á…tui hỏi ở đâu chun ra anh nói tui nghe coi.
Sáu Bảnh bình thường đã ít lời ít tiếng, ăn nói như dùi đục đâm tiêu. Bây giờ lở miệng bị 3 cô gái quần thảo xấc bấc xang bang ngồi đồng một đống.
Lụa chưa chịu im. Nàng bồi thêm:
– Nói thiệt anh nghe. Tại thầy anh hiền như là con gái, ít lới ít tiếng nên tui nhịn anh đó. Tui cũng nể cái con bạn thân thiết của tui là con ba Hậu chớ hông tui nói cho anh biết. Đừng có mà đi bắt chước mấy cái thằng cha cà giựt đó hổng có vui vẻ gì trong nhà đâu. Anh có nghe chuyện đàn bà nó ghen chưa? Anh biết chuyện ông Tư mà anh hổng chịu nghe cái chuyện….à cái bà Giác Hơi ở trong xóm hồi chiều đó. À, còn còn cái hồi năm ngoái anh hổng nghe cái bà bên kia giồng bả thiến của chồng bả rồi bả thả trôi sông à? Cài của quí nó mất rồi thì mần ăn gì được chớ. Cái chuyện như vậy mà mấy cha hay xách…đít đi rông hổng tởn mà.
Sáu Bảnh tối tăm mặt mủi ngồi im thin thít. Nhân Hậu thấy tội nghiệp nàng vuốy ve:
– Thôi đi tụi bay. Anh Sáu ảnh hiền, ảnh ăn nói hổng để ý chó cái bụng ảnh hổng có vậy đâu. Anh Sáu à, hổng phải tụi tui ỷ đông hiếp ít đâu nha, tại anh nói thì tụi tui cũng nói cho anh nghe vậy thôi. Với người khác thì mặc sức họ chớ. Đèn nhà ai nấy rạng mà.
Sáu Bảnh nhìn Nhân Hậu với ánh mắt biết ơn, anh lên tiếng phân trần:
– Nói ra thì mấy cô cho tui là ba phải.Chớ thiệt ra thì tui nghe sao tui nói vậy.
Lụa dịu giọng:
– Thì tui cũng đâu có nói gì anh đâu. Nhưng anh đã nói thì tui cũng nói cho anh nghe vậy thôi. Con Hậu nó nói phải, hơi đâu mà nói chuyện bao đồng. Tui hỏi anh như vầy thôi. Anh có muốn con vợ anh nó đem của nó cho người khác hông. Anh trả lời tui đi. À! Anh đâu có muốn phải hông? Anh đâu có muốn xài chung phải hông? À! Vậy sao đàn ông con trai lại đi rông…cứ như con heo nhảy nọc ai mà chịu được. Chuyện gì cũng vậy hết trơn, ăn cá ăn mắm gì thì cũng là nhơn nghĩa vợ chồng. Hể mình hổng muốn thì mình đừng bắt ngươi ta phải chịu. Cứ muốn được phần mình còn ai mặc kệ thì hổng được. Tui hổng phải chằng ăn trăn quấn gì đó, nhưng nói cho anh nghe để anh biết cái tâm ý của đàn bà con gái. Tui nói thiệt, tui thì dốt thấy bà nội tui. Ngu thì chịu ngu nhưng cái chuyện đó tui hổng ngu à.
Nhân Hậu ngó bạn cười:
– Mầy nói bài bản nghe được lắm. Ai mà dám nói mầy ngu đâu mà mầy khai.
– Thì tao dốt tao ngu tao nói tao dốt tao ngu có gì đâu mà mắc cở. Tao sống có sao tao nói vậy thôi. Đời mà mầy, nói thiệt hổng có ai dại hơn ai đâu. Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Tao thấy càng có chữ nghĩa, có học hành nhiều khi xài hổng vô. Nói mầy đừng tự ái đụng chạm chớ mấy người dốt như tụi tao mà dễ xài đó mầy. Nói ra là tao muốn chửi cho sướng cái miệng mà hổng có ai nghe…mấy đứa có học nó mà làm bậy đó hả. Chà, ghê lắm mầy ơi. Tao nghe người ta kể cái mưu mô tao tản thần luôn.
Nhân Hậu chống chế:
– Tao hổng giận mầy, nhưng nhà dột có nơi mía sâu có chỗ à mầy. Bứt mây động rừng.
– Nói hổng phải nói chớ. Mây đâu mà mây rừng đâu mà rừng. Mẹ, mấy đứa đó vừa keo kiệt vừa cà chớn. Như tao quê quê chút nhưng tao ăn đồ tươi, sống thoải mái. Cây ngoài vườn cá ngoài sông hổng tính toán lo nghĩ gì hết trơn hết trọi.
Câu chuyện bao đồng đi hoài không tới, nói chuyện như con gà ăn quẩn cối xay; Nhân Hậu cố nở một nụ cười rồi nói với Lụa:
– Tao hổng binh ai mà tao cũng đâu có hứng gì mà nói ba cái chuyện đó với mầy. Nói mà nghe chơi thôi đèn nhà ai nấy sáng, mình đâu có biết chuyện nhà của người ta đâu mà nói. Thôi tao hổng nói chuyện đó nữa.
Đang nói ngon ơ trơn tru như nước vô mương bị bứt ngang, Lụa nhăn mặt nhíu mày:
– Nói như mầy thì bù trất còn cái nước non mẹ gì đâu mà nói. Tao đâu có nói hành nói tỏi ai đâu cà. Nói là nói chuyện đời nghe thôi. Mầy hổng muốn nói nữa thì thôi tao đi về.
Nhân Hậu sợ Lụa giận lẫy nên bước đến gần ôm vai:
– Mầy giận tao sao Lụa. Tao nói thiệt đó mà.
Nét mặt lạnh tanh bước đi bị Nhân hậu kéo áo, Lụa quay lại trề môi:
– Hơi đâu tao giận mầy cho ốm o gầy mòn hả mầy.
– Chuyện đời mà mầy, phải có thương có ghét mới là con người thiệt sự con người. Chỉ có ông Tiên ông Phật mới hông thương hổng ghét. Mấy ổng lo ban phước không hà. Nói chuyện ghét chuyện thương, chuyện đời tao nói chuyện của ông đồ Chiểu ở Gò Công, Mỹ Tho cho tụi bay nghe. Ông Đồ Chiểu ghét cay ghét đắng người ác bao nhiêu thì thương người hiền lương bạc phận bấy nhiêu. Oång viết ra câu chuyện Lục Vân Tiên mà tao nghĩ người nhà quê của mình ít nhiều cũng thuộc vài ba câu. Mấy người trong câu chuyện như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Nguyệt Nga …Nhân Hậu đang nói bỗng ngừng lại ngó Sáu Nguyệt Nga cười: Hổng phải tao nói đía mầy đâu nghen Sáu. Cái chuyện tao nói là chuyện đời thôi nha. Mấy cái nhơn vật trong câu chuyện đó nó có ở ngoài đời ráo trọi hổng thiếu mặt nào. Nhơn cái chuyện con Lụa nó nói nó ghét tao đọc cho mầy nghe như vầy …cũng trong chuyện Lục Vân Tiên đó. Cái đoạn nầy là lúc Lục Vân Tiên trên đường đi về nhà khi nghe tin mẹ chết ông ghé cái quán bên đường và đây là cuộc đối đáp giữa Lục Vân Tiên với chủ quán.

“Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?
Quán rằng: “Ghét việc tầm phào,
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tới tâm.
Ghét đời Kiệt, Trụï mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
Ghét đời Ngũ bá phân vân,
Chuộng bề dối trá, làm dân nhọc nhằn.
Ghét đời Thúc quí phân băng,,
Sớm đầu tối đánh, lằng nhằng rối dân.”

Nhân Hậu ngưng nói, rót ly nước nhấp giọng rồi tiếp:
– Hể có ghét thì phải có thương mới công bằng phải hông.
“Thương là thương đức thánh nhân,
Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuôn.
“Thương thầy Nhan Tử dở dang,”
Ba mươi mốt tuổi, tách đàng công danh.
Thương ông Gia Cát tài lành,
Gặp cơn Hán mạt, đã đành phôi pha.
Thương thầy đồng tử cao xa,
Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi.
Thương người Nguyên Lượng bùi ngùi,
Lỡ bề Giúp nước lại lui về cày.
Thương ông Hàn Dũ chẳng may.
Sớm dâng lời biểu tối đày đi xa.
Thương thầy Liêm Lạc đã ra,
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.”

Leave a Reply