home Truyện Dài Cánh Đồng Nước Nổi (2)

Cánh Đồng Nước Nổi (2)

6.
Sáu Nguyệt Nga đang lom khom tưới nước bỗng nghe tiếng cây gãy rốp rốp sau lưng nàng ngoái đầu lại nhìn. Nàng giựt thót mình há miệng muốn la nhưng tiếng la chưa kịp phát ra hai hàm răng đã cứng ngắt. Sau lưng nàng có ba thanh niên đang đứng nhìn lom lom. Đưa tay vuốt ngực thở ra nhẹ nhỏm, một trong ba người Nguyệt Nga nhận ra cùng xóm với nàng, hai người kia trông lạ hoắc chưa gặp bao giờ. Mấy lúc sau này Nguyệt Nga có nghe ông già bà cả trong làng bàn tán về chuyện mất trâu, và khoai mì bị nhổ trộm. Nàng nhíu mày: “đây là ba thằng ăn trộm trâu?” Vừa mới nghĩ đến chuyện đó Nguyệt Nga cảm thấy một luồng điện lạnh ngắt chạy từ sống lưng lên đầu, nàng rùng mình dửng tóc gáy. Bây giờ Nguyệt Nga nhìn lại ba thanh niên và cảm giác bất an nổi lên. Ba thanh niên đứng yên lặng nhìn nàng rồi quay nhìn nhau như trao đổi chuyện gì đó qua ánh mắt. Trời đã ngã bóng về Tây, Nguyệt Nga giựt thót mình, vì mãi miết tưới cho xong mấy vồng thuốc cho nên nàng quên mất trời đã chập choạng tối. Lấy lại bình tỉnh Nguyệt Nga lên tiếng:
– Chào mấy anh.
Im lặng.
Nguyệt tưới cho hết gàu nước, bước lẹ về phía chòi lá nằm sát mé mương. Vừa đi Nguyệt Nga vừa liếc liếc ngó chừng về phía sau. Thái độ im lặng khó hiểu càng tăng thêm nỗi lo lắng cho Nguyệt Nga. Bước vô chòi lá, thả đôi gàu xuống giữa chòi, nàng quơ lẹ chiếc áo quày lưng bước ra. Ba người thanh niên đang đứng trước chòi. Nguyệt Nga điếng hồn, mở miệng giọng cố kiềm cho khỏi run:
– Dạ mấy anh cần tui giúp gì hông?
Im lặng.
– Tui biết anh mà. Anh con bác Bảy chớ ai. Nghe nói anh đi Sài Gòn mần ăn. Anh khỏe hông anh Hai?
Nguyệt Nga chỉ thanh niên đứng bên góc chòi giọng nhỏ nhẹ. Người thanh niên tên Hai không trả lời, mắt lấm lét nhìn hai người lạ.
– Thôi mấy anh hổng cần gì nữa thì tôi đi dzìa đây.
Vừa nói Nguyệt Nga vừa cúi mặt bậm môi bước thẳng tới trước không dám nhìn ngang ngó dọc. Vừa mới bước được mấy bước, một trong hai người lạ chận đầu nàng:
– Khoan cái đã em cưng. Anh có chuyện muốn nhờ.
Không dám nhìn lên, Nguyệt Nga nhỏ giọng:
– Dạ anh Hai cần chuyện gì?
Thanh niên cười:
– Bữa nay tụi nầy làm anh hai cô hết trọi phải hông cô Hai. Cô giỏi thiệt, mà cũng đúng thôi …
Hắn ta cười hí hí sau câu nói. Nguyệt Nga vẫn chưa dám ngước nhìn lên, đầu cúi gầm nhìn xuống bàn chưn, hai ngón chưn cái cố bấm xuống đất, những ngón còn lại ngo ngoe không giữ được. Nguyệt Nga không biết người thanh niên lạ bóng gió chuyện gì, nhưng nàng chắc chắn một điều là bất lợi cho nàng. Miệng lầm thầm khấn vái ông Địa, Nguyệt Nga bước tránh sang một bên và lầm lủi bước tới. Có bàn tay nắm vai nàng kéo giựt lại:
– Đừng đi mà em cưng. Tụi anh muốn nói chuyện chút thôi.
Nguyệt Nga bấy giờ hồn bất phụ thể, nàng không còn kềm giữ được sự run sợ nữa, hai vai nàng rung lên, miệng ấp úng hướng mắt về người thanh niên quen biết như cầu cứu. Thằng con bác Bảy mà nàng nhận người quen ngó ngơ chỗ khác tránh ánh mắt van nài của Nguyệt Nga đang hướng về y. Nguyệt Nga bước lui một bước thoát ra khói cánh tay đang nắm vai nàng.
– Em dễ thương như vầy mà hổng thương cũng uổng. Ê! Mầy nói cho cổ nghe đi mầy.
Nguyệt Nga không hiểu chuyện gì đã xảy ra, nàng ngó thằng con Bác Bảy chờ đợi, nó không nói không rằng chỉ đứng thở ra. Một tên còn đứng ngoài góc sân thúc giục:
– Ê! Tư Càn, mầy muốn làm gì thì làm lẹ lẹ để còn đi nữa chớ. Không phải bám ở đây suốt đêm đâu nghen mầy. Đường về điểm tập kết an toàn còn xa.
Nguyệt Nga như chết đứng, nàng thấy rõ chuyện sắp xảy ra, đám “ăn cướp” nầy đã có âm mưu đen tối, nàng nhìn chừng tên Tư và trong đầu tính toán thiệt nhanh, đây ra bờ sông chừng khoảng vài trăm thước, dọc bờ sông lùm bụi, ô rô cóc kèn chen trong đám dừa nước nàng có thể trốn thoát đưọc. Tên Tư day qua đồng bọn cười hí hí:
– Đ…À, anh Năm chờ cho tui chút chớ. Hay là anh Năm vô trước đi.
Nguyệt Nga vụt xô tới đầy mạnh tên Tư và phát chạy ra đồng, tên Tư bất ngờ bị đẩy một phát quá mạng, loạng choạng bước lui mấy bước nhưng y gượng đứng lại được, vừa khi Nguyệt Nga chạy được hai bước bỗng nàng nghe như thiên lôi giáng hạ, một luồng gió từ sau lưng kèm theo sức nặng đẩy nàng té sấp xuống đống rơm chỗ góc chòi.
– Đừng chạy em…anh cưng mà.
Nguyệt Nga vùng vẩy, chòi đạp cố thoát ra khỏi tay tên Tư Càn đang đè chặt trên lưng nàng, Từ Càn lật ngữa Nguyệt Nga và chồm tới hun hít vô mặt, hơi thở y tanh nồng và hôi thuốc lá. Mặc sức cho nàng dẩy đạp, tên Tư càng lúc càng siết chặc đôi tay ôm cứng tấm thân no tròn của Nguyệt Nga không buông tha. Vừa ôm nàng y vừa cười hí hí:
– Thơm quá…thơm quá, thơm hơn múi mít.
Vừa nói y vừa thò tay cởi áo Nguyệt Nga, nàng càng chòi đạp mạnh hơn, Tư Càn cũng thở dốc, y giận quá giang tay xáng cho nàng một cái nẩy đốm đốm, trời đất quay cuồng:
– Mầy không muốn hưởng sung sướng mà muốn cực phải không? Trước sau gì cũng phải chịu sao không ngoan ngoãn mà chịu cho rồi.
Nguyệt Nga xuội lơ, nước mắt trào ra khóe tủi thân, chiếc áo bị xé rách từ vai đến trước ngực, hai gò ngực căng tròn dập dồn phơi ra trước mắt con chó đói đang lè lưỡi liếm quanh mép. Trong ánh dương còn leo lắt, nước da hồng quân nổi lộ lồ trên một thân thể trong ngọc trắng ngà như một bức tranh tuyệt tác. Nguyệt Nga co đôi tay cố che phần ngực đang hơ hớ, tên Tư hất mạnh ra và chồm thân người đè chặt lên trên, một tay y đè ngữa nàng một tay y cố tuột quần của y xuống, Nguyệt Nga nghe mằn mặn trên môi. Vừa thở hổn hển Tư Càn vừa rướn mình trườn lên thân thể trần truồng vừa bị y xé toạt hết áo quần. Bầu trời chiều có mây xám kéo ngang qua, nàng không dám nghĩ tiếp. Nhắm chặt đôi mắt phú thác cho số mạng đẩy đưa. Không còn gặp sức chống cự Tư Càn mặc sức làm mưa làm gió, thân thể y nhịp nhàng lên xuống, y chắc lưỡi hít hà liếm mép, bằng hai tay luồn dưới vai bấu chặt Nguyệt Nga y ép mông nàng sát xuống đống rơm, Nguyệt Nga không còn nghe cảm giác đau đớn khi một vật lạ vừa xâm nhập thân thể nàng, toàn thân như bị xé nát, lưng nàng muốn gãy dưới sức nặng của Tư Càn. Không biết là bao lâu khi tấm thân nhễ nhại vừa mất đi sức nặng đè lên trên, Nguyệt Nga ngất đi không còn biết gì nữa.
Giựt mình tỉnh giấc, có lẽ đã quá nửa đêm, có đống củi nhỏ bốc khói. Việc đầu tiên là Nguyệt Nga vụt mình ngồi dậy, nghe lạnh nàng vừa chợt biết biết mình lõa lồ, phản ứng tự nhiên đưa hai tay choàng qua che kín bộ ngực, trên chiếc nóp còn có một người lạ đang nằm một bên. Nguyệt rú lên một tiếng nho nhỏ:
– Xụyt không được la.
Có tiếng một người nói. Nguyệt vừa nhận ra một người ngồi im bó gối dưới gốc cây. Toàn bộ thảm kịch hồi chiều quay trở lại, Nguyệt Nga nghe thân thể rả rời, nàng bật khóc rấm rức. Người đàn ông bên cạnh ú ớ trở mình. Nguyệt Nga nhẹ nhàng nhích ra xa lức láo nhìn quanh tìm quần áo.
– Đừng la mấy ảnh nghe được thì khổ thêm.
Nguyệt Nga đã bình tỉnh để nhận ra thàng con bác Bảy cùng xóm đang ngồi canh chừng nàng.
– Anh hổng đi ngủ sao?
– Tới phiên tui phải gát.
– Anh gát tui đó hả?
Người đàn ông bên cạnh mở mắt ngồi dậy.
– Mầy nói chuyện với ai đó Hai?
Và y nhận ra Nguyệt Nga đang co rút thân thể ở góc nóp, y đổi giọng:
– Lại đây nằm xuồng đi cưng. Ngồi chi đó cho lạnh lẽo.
Nguyệt Nga im lặng.
– Anh biểu ngồi sát vô đây.
Nguyệt Nga làm thinh. Nàng nhận ra đây là tên Năm. Y vẫn nhỏ nhẹ với nàng.
– Em ngồi sát vô đây với anh…
Không thấy Nguyệt Nga phản ứng y chồm người tới kéo nàng sát vô người y. Vuốt ve tấm lưng còn hớ hên mà manh áo bị xé rách không che trọn vẹn. Y tiếp tục vuốt ve:
– Em ngoan ngoãn anh cưng. Hồi chiều em ngất xỉu nên em chưa hưởng được trọn vẹn …em còn tân mà…vài lần rồi nó quen.
Y cất giọng cười hố hố nham nhở. Nguyệt Nga chết điếng trong lòng, nước mắt từ đâu lại tuôn trào. Sau trận vùi hoa dập liễu của hai thằng khốn nạn, tấm thân trong ngọc trắng ngà của nàng đã tơi tả như nùi giẻ lau. Nàng không biết mình đang ở đâu.
– Em đừng khóc, sướng chớ mắc mớ chi em phải khóc. Em mà còn ngồi đó tỉ tê thì thăng Tư Càn nó nghe nó thức dậy bây giờ. Em chịu hai thằng anh một chặp nữa nổi không?
Vẫn ngồi nín thinh mặc cho hai bàn nhám nhúa của tên Năm rờ mó khắp chỗ. Vừa mân mê hắn ta vừa ngon ngọt:
– Anh là tổ trưởng của tổ nầy. Anh sẽ bảo vệ cho em. Hồi chiều nay anh mà biết em ngon cở như vầy thì anh đâu có để cho thằng Tư Càn nó huởng trước như vậy được. Bây giờ lỡ rồi, anh thương em nó không dám động đến em nữa đâu.
Tên Năm vừa nói vừa đẩy Nguyệt Nga nằm xuống tấm nóp, y day qua nói với tên Hai đang ngồi canh:
– Mày quay ra chỗ khác đi mậy. Hay là mầy bước khuất khuất qua bên lùm kia một chút xíu cho tao nhờ đi.

Nguyệt Nga vừa mới vừa tỉnh được một chút, thân thể đang mõi nhừ, đầu nhức như có ai đánh vô đầu, phần dưới thân thể đau rát…Tên Năm đẩy nàng nằm xuống, nàng không còn sức cưỡng chống lại nên đành cắn răng mặc sức cho hắn ta dày vò. Nửa tỉnh nửa mê, nàng cảm nhận sự thô bạo và sức nặng đang hì hục đè nặng trên người; nàng mơ hồ như đang trôi bồng bềnh trên giòng sông và sắp bị nhận chìm trong giòng nước. Một lần ở quê ngoại đi tắm sông ôm bập dừa lội qua bên kia giòng và nàng đã đuối sức, nước tràn vô miệng…đầu nhức mắt hoa lên và…ngất xỉu; bàn tay không còn đủ sức lực ôm bập dừa….thân hình từ từ chìm dần xuống.

Tỉnh lại lần thứ hai, chung quanh đã sáng trắng, mặt trời lên cao qua khỏi mặt rừng, ánh nắng len lõi trong khu rừng tràm im vắng, Nguyệt Nga giựt mình ngồi bật dậy dụi mắt không biết nàng đang ở đâu, chưa định được phương hướng nhưng việc đầu tiên là liếc dòm chung quanh. Không còn ai. Nhìn xuống thân thể…nước mắt từ đâu tuôn trào không cầm được. Cố hết sức, nàng chống tay đứng dậy…một lần….hai lần…sửa lại bộ đồ nhàu nát rách bươm, nàng đứng lên. Có tiếng ghe xuồng ngoài sông văng vẳng theo gió, nàng biết mình vẫn còn quanh quẩn trong cánh rừng tràm gần nhà. Bọn người lạ mặt đã bỏ nàng lại khu rừng sau khi thỏa mãn. Mệt mõi, Nguyệt Nga lê từng bước chưn nặng nhọc ra mé đông khu rừng với hy vọng sẽ tìm ra đường về.
Ánh sáng càng lúc càng rõ, mặt nước càng lúc càng cao, rác bập bền chảy vô ngọn, Nguyệt Nga biết nước đang lên và nàng đang đi đúng hướng ra sông cái, càng lúc càng bỏ xa doi đất trong rừng. Có tiếng chim trên ngọn cây, tiếng ong vo ve, tiếng cá ăn móng. Nguyệt Nga bước lần xuống mé nước, tìm một chỗ khuất kín sạch sẽ, nàng bỏ vội bộ đồ nhàu nát ra và ngụp lặn kỳ cọ tắm rửa. Những giọt nước mát thấm trên làn da chảy dài theo thân thể, Nguyệt Nga kì cọ tẩy rửa mọi vết tích dơ dáy; ngó xuống tấm thân lỏa lồ ngâm mình trong làn nước, Nguyệt Nga chợt khóc tấm tức. Khóc chán một hồi, nàng vơ vội bộ áo quần giặt sạch bận trở lại, bước lên khỏi rạch, tìm đường về.

Câu chuyện Nguyệt Nga đi lạc trong rừng một ngày một đêm lần hồi qua thời gian mọi người trong làng cũng quên, riêng Nguyệt Nga cố quên mà không được. Cho đến một hôm, nàng biếng ăn, mất ngủ, thèm ăn vặt và nôn ọe. Biết mình đã cấn thai, Nguyệt Nga chỉ muốn nhảy sông tự vận cho xong nợ đời. Ở làng mà có chửa hoang thì sống làm sao cho nổi với tiếng đời. Nguyệt Nga cố dấu cha dấu mẹ được ngày nào hay ngày nấy. Nàng biếng ăn mất ngủ, mắt có quầng thâm…và cuối cùng…

Nhân Hậu bơi xuồng dọc theo mé bàu, mùa này hoa sen đang nở rộ, lá sen mọc kín mặt bàu, Nhân Hậu cẩn thận cắt từng bông để lên xuồng. Bàu không rộng lắm nhưng cũng đủ sen bán cho khách thập phương đi viếng cảnh chùa, cho những ngày lễ. Ông Năm Hương có thú uống trà ướp sen, Nhân Hậu thường giành lấy công việc ướp trà cho ba nàng. Nhân Hậu biết nhìn bông nào sẽ nở vào ngày hôm sau, và mỗi chiều khi nhìn những búp sen nhú qua khỏi mặt nước, Nhân Hậu đem theo gói trà mộc và bơi xuồng len lỏi theo từng cánh lá và nhẹ nhàng nhúm từng nhúm trà nhỏ bỏ vô trong nụ sen đang nhú. Qua đêm trà ướp hương sen đến sáng ngày hôm sau, cắt lấy bông đem về lấy trà từ trong nụ sen và sấy lại cất trong hộp thiết. Ướp sen theo cách này hơi cầu kỳ nhưng hương trà thoảng thoảng có mùi thơm của bông sen. Ngoại nàng nói uống trà ướp sen Đồng Tháp là thưởng thức cái thơm của đồng nước miền Nam. Ngoại nói “Khắp miền nam chỉ có Đồng Tháp Mười mới có những cánh đồng có nhiều sen mọc trong bàu, nhiều cánh đồng vô chủ chưa ai chiếm ngụ.”
Sáng nay đang bơi xuồng trong bàu sen, Nhân Hậu nghe tiếng kêu, giọng ngập ngừng sợ sệt, từ trong lùm trên bờ:
– Hậu ơi Hậu…
Nhân Hậu giữ mái dầm cho chiếc xuồng ngừng lại, gát mũi quay đầu vô bờ:
– Ai đó?
Có tiếng xuỵt kèm theo tiếng trả lời:
– Tao nè, Nguyệt Nga đây…mầy bơi xuồng ghé vô đây tao nói chuyện nầy.
Nghe giọng nói Nhân Hậu mới để ý thấy Nguyệt Nga đang lấp ló ngồi trong lùm. Nàng ngạc nhiên nhíu mày:
– Ủa mầy đi đâu ngoài nầy?
– Lên đây tao nói chuyện này.
Nhân Hậu bỏ xuồng lên bờ:
– Chèn ơi, làm cái gì mà lấp lấp ló ló như ăn trộm vịt vậy Nguyệt Nga.
Nguyệt Nga nước mắt dàn dụa, miệng méo xẹo từ trong lùm chạy nhào ra ôm Nhân Hậu khóc như cha chết mẹ chết.
– Chắc tao bỏ xứ đi chỗ khác Hậu ơi.
Nhân Hậu để mặc cho bạn khóc trên vai mình, hồi lâu bèn dìu Nguyệt Nga ngồi xuống bên bờ ruộng:
– Có chuyện gì mầy nói tao nghe coi cái đã…chuyện gì mà dễ sợ vậy? Phải bỏ xứ mà đi…làm như là chửa hoang hổng bằng.
Nguyệt Nga càng khóc to hơn.
– Mầy nói không phải nói kêu ngạo tao đó chớ Hậu?
Nhân Hậu ngó bạn sửng sốt:
– Ủa ! Chuyện gì mà tao phải kêu ngạo mầy? Cái chuyện cũ bỏ qua đi.
Đang buồn bực mà Nguyệt Nga cũng không thể không nở một cái cười méo xẹo:
– Ừa, mầy không kêu ngạo….mà mầy nói đúng quá mà. Tao…tao…
Ngó xuống bụng Nguyệt Nga im lặng, Nhân Hậu bấy giờ mới để ý. Nàng hết cười nổi:
– Thiệt hả mầy? Bao lâu rồi?
Nguyệt Nga mếu máo nói một hơi:
– Tao hổng biết mầy ơi…nhưng chắc là có thiệt rồi , tao hổng biết tính sao đây. Tao sợ làng xóm biết thì…ba tao ổng cạo đầu bôi vôi …Tao phải…phải làm sao đây Hậu? Mà ác đức cho tao là tao hổng biết cha của nó là …
Nguyệt Nga ngừng nói, Nhân Hậu biết bạn đang đau lòng. Câu chuyện cũ quay trở lại trong đầu Nhân Hậu, nàng không biết tính làm sao cho hoàn cảnh của người bạn bất hạnh. Nàng nói nước đôi:
– Tính làm sao? Còn tính làm sao nữa bây giờ…”cha” nó có tội chớ nó đâu có tội gì mà …tính chớ.

Nắng đã lên cao Nhân Hậu gom mấy rỗ sen chống xuồng về, trên đường về nàng nói với Nguyệt Nga:
– Bây giờ tao hổng biết tính làm sao. Nhưng tao có ý nầy nói ra mầy nghe rồi mầy quyết định.
Đang ngồi ôm đầu gối rầu rỉ, nghe có cách giải quyết cái bào thai oan nghiệt, Nguyệt Nga mở mắt ngước mặt nhìn Nhân Hậu chờ đợi, Nhân Hậu ngó bạn cảm thương, nàng ấp úng mấy lần:
– Ơ…um…ơ…tao nghĩ mầy lên chùa hỏi mấy cô coi thử coi.
Nguyệt Nga xìu như bóng bóng lủng:
– Tưởng gì.
Nhân Hậu sôi nổi:
– Hổng phải tao nói bậy đâu nghen. Tao thấy chùa là chỗ an toàn nhứt cho mầy đó; hay là chiều nay tao giòng ghe lên Thất Sơn với mầy một chuyến coi sao há.
Nguyệt Nga vẫn không ngước mặt lên, nàng gục đầu trong hai cánh tay ôm vòng quanh đầu gối.
– Tao hổng biết nữa…nhưng mà làm sao đi? Có lễ lộc gì đâu mà mình đi?
Nhân Hậu thở ra:
– Ừa, làm sao mình nói với ở nhà? Coi vậy chớ hổng dễ ăn.
Nhân Hậu lặng lẽ bơi xuồng, chiếc tam bản len lỏi trong giòng kinh ngầu đục, mấy đám lục bình đã có những nụ hoa tím phất phơ khoe sắc. Mặt kinh rộng, hai bên bờ nhà cửa thưa thớt không một bóng cây, có vài hàng so đủa ốm nhom mọc theo bờ bao ngạn.
Nhân Hậu nói lảng qua chuyện khác:
– Mầy coi nè, chỗ nầy còn được quá hén, vài năm nữa thôi thì làng xóm đông vui kể gì.
Nguyệt Nga vẫn bó gối ngồi im. Nhân Hậu tiếp tục bắt chuyện:
– Mầy nghĩ coi, nếu mà làng mình cứ vầy hoài thì cũng đâu có thua gì miệt vườn hả mầy? Làng mình tuy nhỏ nhưng vui…mầy còn nhớ cái hồi tao mới về đây hông. Í mèn ơi, đang ở Tân An một ngon, ông già tao biểu về…Ừ, về thì về, ổng biểu con gái học cao ế chồng.
Nguyệt Nga thò một tay xuống kinh vốc nước rửa mặt, hai mắt còn đỏ hoe. Khi chiếc tam bản vô đến giữa làng, Nhân Hậu ghé mũi vô một doi đất gie ra gần cầu khỉ:
– Bây giờ mầy về đi nghen. Lát tao qua liền.
Nguyệt Nga không trả lời bạn, nàng chồm tay với lấy chiếc nón và cái khăn bước lên bờ. Nhân Hậu kêu bạn:
– Nhớ nghen mầy. Mầy nói mầy hổng muốn ba má mầy biết mà sao cái mặt mầy như mặt đưa đám đâu có được chớ. Lát tao chạy qua liền, ráng tỉnh tỉnh lên chút coi.
Nguyệt Nga bước lên bờ. Nhân Hậu đẩy mái dầm vô bờ quay mũi xuồng ra kinh, múc mạnh hai ba cái, chiếc xuồng trôi xuôi theo giòng. Vừa bơi xuồng Nhân Hậu vừa suy nghĩ cách nào để đưa Nguyệt Nga lên núi Sam nhờ Thầy trụ trì giúp đỡ.
7.
B
à Năm Hương dậy thiệt sớm, gà chưa gáy hiệp nhứt bà đã ra khỏi giường. Lò dò tìm cái bật lửa rồi bà đi xuống nhà bếp, khi đi ngang căn nhà ngang nối giữa nhà bếp với nhà trên thấy căn buồng gói mở cửa, bà ghé mắt dòm vô căn phòng nhỏ, phòng ngủ của đứa con gái. Trên chiếc chỏng tre Nhân Hậu đang nằm ngủ, mái tóc xõa ra một bên góc, gò ngực cao phập phồng, những chiếc nút bóp tuột ra để lộ bộ ngực trắng ngần với đôi gò bồng đảo trắng hồng. Bà lẩm bẩm:
– Thiệt tình cho cái con Hậu nầy lớn bộn rồi …ngủ nghê cái gì mà nằm tênh hênh hổng thèm gài cửa gài nẻo gì hết trơn hết trọi.
Bước nhẹ vô phòng, kéo tấm mền mõng đắp ngang cho con gái, bà Năm bước trở ra kéo cánh cửa lại cho đứa con gái và bà đi luôn một mạch xuống bếp. Bật lửa thắp ngọn đèn dầu trên chiếc bàn nhỏ bên cánh cửa sổ, đẩy cánh cửa ra, ngọn gió đồng buổi sớm luồng vô nhà mang theo hơi nước mát có mùa cỏ rơm thơm nồng. Tiếng con trâu đập muỗi ngoài chuồng, con gà cục cục. Bà Năm vắt chiếc khăn qua ngang vai vừa mỉm cuời sung sướng. Vốn là người mến mộ đạo Phật từ thưở còn là con gái cho nên bà đắm mình trong giáo lý Phật Đà, được ông Ngoại sắp nhỏ kể chuyện thánh hiền; ngoài ra bà còn được sống trong bầu không khí hiền hòa của vùng sông nước Cửu Long Giang, lớn lên trong tiếng hò và câu ca mộc mạc cho nên bà biết “Có đức mặc sức mà ăn” và từ đó ăn sâu trong tâm thức của bà những ấn tượng về một cảnh sống bình an thái hòa mô tả trong kinh điển. Thấm nhuần giáo lý nhơn quả bà không ham muốn nhiều hơn cái bà đang có. Ngày mới theo chồng về miệt nầy, nhìn cái doi đất nằm trong đám rừng tràm muỗi kêu ong đánh suốt ngày bà rầu thuí ruột. Nhờ ông Năm chịu lăn lưng ra vỡ đất, nhờ bà niệm phật tụng kinh cho nên ngày càng ăn nên làm ra. Đời sống bà có ăn có mặc lần lần.

Dùng chiếc khăn đập đập xuống ghế phủi bụi, bà ngồi xuống chiếc ghế đẩu mặt vuông đóng bằng gỗ cây mít già trong rẩy, lẩm bẩm mình ên:
– Hổng biết cái con Hậu nầy bữa nay đi Chùa làm giống gì mà đòi đi nằng nặc cho được. Cũng hổng phải vía bà Chúa Xứ, lại cũng hổng phải ngày của Bà Chúa Thượng Nguồn…Cái con nầy hổng biết nói làm sao, thân thể thì chồng ngồng, vú mớm rồi chớ còn con nít con nôi gì đó mà …
Bà chắc lưỡi lắc đầu. Bà lâm râm khấn:
– Cầu Phật Trời gia hộ, cầu xin linh thiêng đất nước ông bà cho gia đình được bình an. Ngày nào con cái lập thành gia thất thì mới yên tâm an hưởng tuổi già.
– Bà làm cái gì mà lẩm ba lẩm bẩm như đọc kinh vậy bà?
– Í mẹ ơi…bà hú…Cái ông nầy thiệt tình mà. Ông ở đâu mà sồng sộc bước vô làm tui hết hồn hết vía. Tui tưởng ông còn ngủ ở trển chớ.
Năm Hương dậm chưn trên bực thềm nhà cho sạch đất trước khi bước vô bếp. Ông cười:
– Cái bà nầy. Tui đây chớ ai. Mà hồi nào tới giờ tui có thấy bà nói liệu ở đâu mà hôm nay bà làm gì như thể mà thấy ma.
Bà Năm Hương nhóm lửa trong bếp. Ánh sáng bùng lên reo vui nổ tí tách:
– Ừa thì tui có nói liệu bao giờ đâu. Tui đang ngẫm ngẫm nghĩ nghĩ về đứa con gái của mình nên lo ra, phát ông bước vô ào ào làm tui hết hồn.
Năm Hương ngồi xuống ghế, tiếng cười vẫn chưa dứt:
– Càng ngày bà càng làm sao đâu há. Chuyện gì mà bà phải lo chớ. Mà con mình thì một đàn như đàn gà, thì bà nói con gái mà con nào mới được. Lo là lo cái chuyện gì?
Bà Năm xí một tiếng:
– Ông mới thiệt là làm sao đâu chớ tui mà làm sao cái gì. Con mình một đàn như đàn gà. Ừa, ông ví von tui là con gà mái phải hông?
Năm Hương vói tay kéo cái bình ủ làm bằng võ trái dừa. (Bình ủ là một loại bình giữ hơi nóng-như thermos của dân ở thành-làm bằng võ trái dừa phơi khô. Cắt ngang trái dừa một phần ba ở trên, bỏ đi gáo dừa bên trong còn lại trái dừa không có ruột, đóng thêm cái đế ba chưn bằng gỗ ở phần đế cho thăng bằng, dân quê miệt ruộng đã có một cái bình ủ nước trà vừa đẹp vừa gọn vừa không tốn tiền) Rót nước vô ấm tích, ông lên tiếng:
– Bà mắc me tui làm gì chớ. Tui muốn hỏi bà mình có tới mấy đứa con gái mà bà muốn lo cho đứa nào? Lo chuyện gì để tui còn biết đường mà lo với bà.
Bà Năm châm thêm nước sôi cho chồng, đưa tay vuốt mái tóc muối tiêu. Giọng nói của bà vẫn êm như giòng sông, nhưng câu nói mang đầy lo lắng:
– Ông cứ cái tật xí xái đó nghen có ngày hủ mắm nó đổ ra đây rồi thúi hoắc cho mà coi.
Năm Hương xém nhảy dựng lên:
– Cái gì? Bà nói con Hậu bị cái gì hả? Hả?
Bà Năm cười:
– Ủa, vậy ra ông cũng biết lo há. Mèn ơi, tui tưởng đâu ông cứ ở miết ngoài ruộng ngoài mương vườn rồi khoán trắng cho tui chuyện nhà cửa con cái chớ.
Năm Hương vấn điếu thuốc, mặt như lo lắng mà giọng nói thì ráo hoảnh tỉnh bơ:
– Đâu mà chuyện gì đầu đuôi bà kể tui nghe. Nói đi thì cũng có nói lại…nếu là con trai, thì tui lo mà con trai thì đâu có chữa hoang đâu mà sợ- còn cái chuyện con gái…thì bà là mẹ bà dễ biết chuyện hơn tui chớ. Con Tư Hậu nó làm sao?
Bà Năm bắt nồi cơm lên bếp:
– Nó làm sao hả. Đợi tới lúc được ông hỏi, đợi cho nó làm sao thì tui có nước đội quần chớ làm sao.
Năm Hương cười vuốt đuôi:
– Vậy là chưa có chuyện gì. Ủa, mà sáng nay sao bà đương không nói mấy cái chuyện nầy ra làm gì?
Bà Năm rót một ly nước trà nhấp giọng:
– Hổng phải đương không tui nói nhắc nó đâu. Hồi tối hôm qua nó tỉ tê dzí tui cho nó đi Miễu Bà bên miệt Châu Đốc. Tui mới nghĩ là đâu có cái lễ gì đâu mà nó đi qua bển. Tui sanh nghi, mà sáng nay tui mới dòm vô buồng gói của nó…í …nó lớn bộn rồi ông à, mà nó nằm hớ hênh chàng hảng như là con nít nên tui mới lo chớ. Mình hổng để ý thì coi chừng đó đa.
Năm Hương tằng hắng:
– Chỉ có bấy nhiêu mà bà làm tui lo từ nãy giờ. Nó đi qua bển làm gì sao bà hổng hỏi nó coi.
Bà Năm thở ra:
– Nói như ông thì cũng bù trất. Tui có hỏi mà nó chỉ ỏn ẻn cười tui mới nghi chớ. Con tui tui biết. Cái lòng dạ nó thẳng ngay, cái đầu nó trắng phau phau mà nó ngu ngơ lớ ngớ lỡ có bề gì thì mình ân hận nên tui mới lo.
Năm Hương thẳng thừng dứt vạt:
– Bà sao mà hay lo. Để đó cho tui hỏi nó cho. Nếu mà nó hẹn hò tò te với thằng nào thì tui sẽ…
Bà Năm háy chồng một cái dài ngoằn, cứ y như thời con gái:
– Ông sao mà cái tánh nóng nảy hổng chừa. Cứ như là cái thời ông mới tò te với tui hổng bằng. Cái tánh Trương Phi hổng bỏ, đâu có gì lớn chuyện như vậy chớ.
Năm Hương ngó vợ và ông chuyển câu chuyện đi vô rạch tắt cái rột:
– Bà nhắc chuyện đời xưa tui mới nhớ. Ừa mà hổng biết tại sao hồi đó bà chịu lấy tui mới kỳ. Chuyện cũng hơn mấy chục năm rồi hả bà. Cái thời kháng chiến coi vậy mà mau gớm chớ.
Bà Năm bắt nhịp chạy theo:
– Đang nói chuyện bây giờ con cái, ông nhảy cái rẹt qua chuyện đời xưa lẹ gì mà lẹ như con sáo. Ừa mà mới đó đã mấy chục năm rồi hả ông.
Năm Hương quên mất tuổi già, ông xăng xái:
– Ừa, Đ. M cái thời đó sao mà đủ chuyện hổng đâu vô đâu hết ráo. Toàn chuyện ruồi bu, nó như là một mớ xà bần, như thể nồi xí quách. Nào là kháng chiến đánh Tây, nào chuyện làm cách mạng…Hồi đó tui với bà còn ở Tân An phải hông?
Bà Năm nhắc khéo chồng:
– Ông! Bây giờ đã già rồi đó ông à, hổng phải cái thời còn trẻ nữa đâu mà ông chửi thề sao gọn bân vậy. Con cái nó nghe nó bắt chước.
Năm Hương không đếm xỉa đến lời nói của bà Năm một khi kỷ niệm đã khơi dậy trong long; ông nói “ba hồi nhập một”:
– Đ.M chửi thề thì có chết thằng nào đâu mà sợ ở tù. Ừa, tại bà hổng nghe tui bạt mạng giang hồ nên bà thấy lạ chớ sao. Bà cũng biết đó mà, người mình hay chửi thề bạt mạng, nhưng trọng tình nghĩa anh em cái bụng để ở ngoài da. Bà coi đó, đất nầy là đất nước của mình, công khai phá đất đai là người mình mà bà thấy đó hông? Người mình chưn hổng có đôi dép, cái áo lụa lèo là mơ ước của con gái mới lớn lên, thằng con trai thì mơ chiếc xe máy đạp…Ui còn nhiều lắm. Cái áo cái quần…đó là cái ăn cái mặc của con người ta đó bà biết hông. Cũng thể như tui với bà nè, cũng nhờ ông trời ngó nghĩ, ông bà độ cho nên có cái mà ăn, mà mặc.
Năm Hương nói một hơi bà Năm tối tăm mặt mũi ngồi ngó trân trân. Đợi khi ông chồng ngưng uống nước bà dè dặt hỏi:
– Ông nói cái gì mà tui hổng hiểu gì ráo trọi vậy ông? Bữa nay tui ngó in tuồng ông hơi khang khác à ông.
Năm Hương ngó vợ, hai mắt mơ màng như nhìn vô cõi xa xăm nào đó:
– Ừa, mà hổng hiểu cũng phải mà. Cái ngày tui với bà gặp nhau ngoài chợ Tân An là ngày tui đã hết giang hồ rồi mà thì làm sao mà bà hiểu nổi. Cái ngày đó tui đã về thành rồi mà.
Bà Năm càng nghe càng ấm ớ:
– Ủa, ông càng nói tui càng ấm ớ, tui như lạc trong rừng tràm mùa nước nổi hổng biết chỗ nào mà ra.
Năm Hương cười nói với vợ:
– Thôi, bỏ qua chuyện đó đi. Hôm nào hưỡn đải tui kể bà nghe. Còn bây giờ bà nói con mình nói làm sao tui quên mất tiêu rồi.
Bà Năm cười theo chồng:
– Ông chưa già mà đã lẩn rồi. Mới nói đó mà bây giờ biểu quên. Ừa, tui đang nói là hổng biết con Tư Hậu nó đòi đi lên Núi Sam mần cái giống gì ở trển.
Năm Hương thở hắt ra:
– Thì nó muốn đi chùa, đi khấn gì đó chớ đi đâu. Đâu mà kêu nó ra tui hỏi thử coi.
Bà Năm bắt nồi cơm để xuống một bên bếp lửa, bắt nồi cá kho lên:
– Bây giờ cơm chín rồi, trời cũng đã rõ mặt người. Ông liệu mà ăn cơm đi để còn thăm rẩy dưa ở trển coi mần sao. Chuyện con Tư Hậu lát tui nói với nó sau.
Năm Hương không nói không rằng, cầm đôi đôi đủa đợi bà vợ đưa nồi cá ra ăn cơm.
Nhân Hậu thức giấc khi cha nàng dậm chưn bước vô nhà. Nằm im nhìn nóc mùng, Nhân Hậu suy nghĩ lựa lời nói với mẹ để đưa Sáu Nguyệt Nga lên núi Ông. Đang miên man theo đuổi những suy nghĩ, nàng chợt nghe tiếng ba má nhắc đến tên nàng. Chăm chú lắng nghe, Nhân Hậu muốn nhảy nhổm ra khỏi giường khi nghe mẹ bày tỏ nỗi lo lắng của bà. Nàng lẩm bẩm “Chèn ơi, cái gì mà ghê quá vậy nè trời. Mình mới ấp úng có mấy lời mà mẹ đã nghi đủ thứ chuyện rồi. Thiệt là khổ ghê.” Ngồi bật dậy, nàng muốn chạy ra nói thiệt mọi chuyện cho mẹ nghe. Nhưng, nghĩ lại, nàng nấn ná chờ nghe quyết định của cha nàng. Càng nghe Nhân Hậu càng mơ hồ. Cha nàng, ông Năm Hương, “một người dĩ hòa vi quí” cũng có thời đã trải qua những đau thương thất chí. Nhân Hậu không hiểu cha nàng đang nói đến việc gì, và cha nàng đã tham dự chuyện gì trong quá khứ của ông.
Mùi cá kho thơm lừng trong căn nhà, Nhân Hậu biết ba má và các em sắp ăn cơm buổi sáng trước khi ra khỏi nhà, nàng lật đật mở cửa bước ra. Ở nông thôn, ngày bắt đầu khi tiếng gà gáy hiệp một, mọi người thường dậy rất sớm không ngủ nướng như chốn thị thành. Mỗi khi có việc cần đi có khi phải dậy từ khi con nước đầu tiên trong ngày, tiếng gà vừa gáy thì làng xóm đã rộn ràng. Hôm nay Nhân Hậu dậy trể, nàng vừa bước ra mẹ đã kêu giựt ngược, mắt bà nhìn như soi mói vào thân thể của nàng:
– Bữa nay mầy “nướng” nhiều đó nghen Hậu…Đêm hồi hôm đi đâu với con Sáu Nguyệt Nga mà về khuya lơ khuya lắt, có chuyện gì mà tụi bay rù rì lén lút như thằng ăn trộm vậy bay?.
Nhân Hậu đứng lại:
– Hổng có gì đâu má. Con Sáu Nguyệt Nga nó nói chuyện chơi thôi mà.
Bà Năm Hương không ngớt nhìn mặt con, liếc mắt dòm xuống thân thể tròn lẳng của Nhân Hậu giọng nghi ngờ:
– Cũng lớn bộn rồi đó nghen mầy…đi hôm đi khuya rồi làng xóm nói bậy nói bạ hổng được đâu nghen con.
Nhân Hậu cố gắng nở một nụ cười:
– Má làm như tui hư đốn hồng bằng. Cũng gần tới Tết rồi tui định đi ra Ngã Bảy mua sắm chút đồ nên mới bàn với con Sáu Nguyệt Nga đó chớ.
Năm Hương vẫn ngồi im nghe hai mẹ con nói chuyện, bấy giờ ông xen vô:
– Hậu, mầy nghe ba mầy nói nè. In tuồng như mầy giấu đút cái chuyện gì đó hả Hậu. Má mầy bả nói mầy muốn đi qua Thất Sơn hả. Chi vậy?
Nhân Hậu thiệt bối rối. Không quen nói láo cho nên nàng ấp úng trước đôi măt tinh đời của cha mẹ. Chiều hôm qua nàng định bụng sẽ nói trớ là đi lễ chùa vì có khấn. Nhưng bây giờ truớc mặt hai người, Nhân Hậu suy nghĩ thiệt nhanh, một luồng hơi nóng chạy dọc theo xương sống và nàng thầm nghĩ: “Ông bà đã dạy là “nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt” cái gì cũng hổng bằng nói thiệt.
8.
N
gồi xe đò qua khỏi Sa Đéc, Sáu Nguyệt Nga bình tỉnh lại đôi chút không còn cảm giác chóng mặt như lúc mới lên xe. Mùi xăng dầu làm cho cô muốn ói, rút chiếc khăn ướt lau mặt xong Sáu Nguyệt Nga quay qua Nhân Hậu hỏi nhỏ:
– Tui nói bà đi xuồng máy cho rồi, bà bày đặt đi xe đò làm tui chóng mặt muốn chết.
Nhân Hậu cười nhăn hàm răng trắng đều, giọng nàng rúc rích:
– Mèn ơi, bà hổng sợ đi qua chỗ cũ sao? Bà hổng tởn cánh đồng hoang vu lạnh lẽo nước đóng phèn đó hay sao?
Sáu Nguyệt Nga lắc đầu:
– Từ nào tới giờ tao có đi xe đò lần nào đâu mà tao biết. Bơi xuồng riết rồi quen, rồi nhớ mùi nước muì sình, phát bữa nay ngồi xe đò nghe mùi xăng đã muốn ói tới mật xanh mật vàng rồi còn chiếc xe gì mà nhảy như là cóc nhảy nên tao tưởng xong rồi đó chớ.
Nhân Hậu cười to hơn:
– Làm quê thiệt là quê. Mầy làm như vậy bà con họ biềt liền hà.
– Biết cái gì?
– Còn cái gì nữa chớ. Chỉ có mấy bà có mang, có bụng mới ói ọe tùm lum tà la chớ ai.
Sáu Nguyệt Nga đang mệt mà nghe Nhân Hậu nói cũng mắc cười:
– Thì đúng rồi chớ còn gì nữa. Mà thiệt ra giấu làm sao được mà giấu.
– Mầy hết sợ rồi hả. Liều rồi hả?
– Liều thì tao hổng có liều…nhưng mà nghĩ cho cùng thì con người ta có cái số cho nên tao chấp nhận thôi. Tao sẽ thú thiệt với ba má tao vài bữa nữa.
Nhân Hậu choàng tay qua vai bạn, ghé sát tai thì thầm:
– Ừa, mầy nghĩ như vậy mà phải đó. Tao cũng nghĩ như mầy. Con người ta ai cũng có duyên phận của người đó. Hôm qua tao định nói láo với ba má tao là đi chùa để cúng trả lễ. Nhưng rồi nghĩ đi nghĩ lại nói gì thì nói mà nói thiệt nó tốt hơn. Mầy nghĩ coi, con người ta mà đã nói láo, nói dóc một lần riết hồi sẽ quen. Bà con mình đó, mầy coi đi có ai mà giấu chuyện gì hông. Cái nếp sống thiệt thà mới bền mầy à. Nếu mà láo phét chỉ có ra chợ ra thành mà ở thôi.
Nguyệt Nga thở dài:
– Nhưng mà thiệt thà quá thì mình lỗ mầy ơi. Í, mà mầy nói như vậy hổng lẽ mấy người ở chợ ở thành hay nói láo lắm sao?
Nhân Hậu lắc đầu:
– Cái đó thì tao cũng hổng dám chắc lắm. Nhưng theo tao thấy…tỉ như mầy đi chợ đó. Mầy mua cái lược coi…mèn ơi, cái lược bằng mũ chớ gì đó, giá đáng chừng vài đồng chớ nhiêu vậy mà mấy bả thách lên thấu tận mây xanh rồi mầy cầm lật qua lật lại vài ba cái …hổng mua thử coi…mèn đét ơi mấy bả có thiếu điều là cào nhà mầy thôi. Tao sợ lắm.
– Vậy sao? Mầy nói là nói trên miệt Cần Thơ ngã bảy, trên “thầy Gòn” chớ dưới miệt nầy ai mà thách mầy? Bán buôn cái mững đó có mà bỏ làng đi mần ăn nơi khác thì có.
Nhân Hậu mỉm cười ngó bạn, nàng đưa mắt ngó mông ra đồng qua khung cửa kính bên thành xe, chiếc xe lắc xóc nhồi lên dằn xuống, lắc lư qua lại làm cho hành khách cứ ngã nghiêng bên này bên kia từng chặp. Nhân Hậu ngã chúi đầu vô người bạn, nàng cười rúc rích:
– Đường sá gì mà như ruộng khô mùa nắng, xe lắc lư như xe bò đường núi. Biết vậy đi đò máy coi bộ khỏe hơn.
– Ai biểu chi. Thì tui cũng nói như vậy, tại bà xuí đi xe đò cho mau.
Nhân Hậu ngó bạn cười:
– Thì tui đâu có dè nó như vầy đâu bà.
Người đàn bà ngồi ghế bên cạnh nói xen vô:
– Ủa hai cô ở đâu về đây? Đi thăm ai trên nầy?
– Mèn ơi, ở đâu về! Tụi tui ở bên Rạch Chanh, Tân An chớ ở đâu.
– Vậy sao. Ngó cái bộ tịch hai cô có ai mà nghĩ gái ruộng đâu cà.
Nhân Hậu ngó Nguyệt Nga cười thành tiếng:
– Chớ chị ngó cái bộ tụi nầy chắc giống con gái ở thành chắc?
Người phụ nữ cười theo vui vẻ:
– Ừa, cái bộ vó giống gái Cần Thơ quá đi.
– Ủa? Chớ bộ gái Cần Thơ có cái gì hơn tụi tui nè?
– Hơn thì hổng hơn, nhưng mà họ ăn trắng mặc trơn chớ có đâu như tụi mình.
Nguyệt Nga hứ nghe một cái cốc:
– Chị làm như gái ở ruộng thì xấu lắm đó chắc. Chị vô Nha Mân mà coi mèn ơi, nói hổng phải nói chớ chị hổng nghe câu vè như vầy sao.
Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,
Gái nào bảnh cho bằng gái Nha Mân.
Nhân Hậu đía thêm:
– Chị Hai nói đụng chạm nó quá mờ. Nó quê ở Nha Mân đó chị.
Nguyệt Nga đập vai bạn nghe “bịch” một tiếng:
– Cái con quỷ mầy.
Người phụ nữ kéo chiếc khăn lau mặt, ngó Nguyệt Nga châm bẩm:
– Ờ, tui ngó bộ cô Hai đây cũng ngộ quá đó chớ. Chưng dọn vô coi…ăn đứt là cái chắc.
Nguyệt Nga mắc cở mặt đỏ bừng như trái mận hồng đào. Nhân Hậu được dịp đía thêm:
– Ủa, chị hổng biết đó chớ. Nó là hoa khôi xóm tui đó. Cha mẹ ơi, nó mà chưng dọn vô đó nghen…nói chi mấy cô học sinh ở tỉnh mà làm gì, Hằng Nga tái thế cũng thua một bực đó chớ bộ giỡn sao.
Nguyệt Nga ngồi sượng trân chết điếng trên ghế, mặt càng đỏ rần rần. Người phụ nữ ngồi bên được dịp cười nghiêng cười ngữa. Bỗng đâu chị ta la ới ới:
– Bác tài, Bác tài mau mau ngừng xe, ngừng xe.
– Chuyện gì đó bà nội-Lơ xe đang đeo tòn teng bên hông xe ló đầu vô hỏi.
– Ngừng xe cho tui đi đái.
Mọi người trong xe nghe nói vậy quay ra ngó xuống. Có một hành khách nào đó lầu bầu:
– Đã mệt hết hơi rồi mà bả còn ngồi đó mà cười như nắc nẻ, như bẻ cây. Cười cho cố rồi té đái ra quần.
– Cho xuống đi chớ…Cho tui xuống. Một hành khách la to, người lơ xe vỗ thùng xe rầm rầm vừa vỗ vừa la:
– Dzô! Dzô! Dzô!
Chiếc xe chậm lại và tấp vô lề đường. Hành khách xuống xe và chị ta nhân dịp đó nhảy phóc xuống xe lủi vô lùm bên mép đường. Nguyệt Nga ngó Nhân Hậu:
– Thôi nghen mầy. Đủ rồi đó, đừng có chọc tao nữa à nghen.
Nhân Hậu vỗ vai bạn:
– Thì tui thấy bà ngồi u rũ nên chọc cho bà vui chớ có gì đâu.
Nguyệt Nga thẩn thờ ngó ra cửa xe, Nhân Hậu nhìn theo. Làng xóm chạy dài theo con lộ có những bờ mương, Nhân Hậu thấy những bờ mương lòng xao xuyến, một cảm giác khó tả đang chạy nhảy xôn xao trong lòng khi chợt nghĩ đến thân phận của mình, của bạn, của những gái quê một đời chịu nhiều nỗi đắng cay. Bầu trời vẫn bình thường, những căn nhà có hàng cau, những góc vườn có đàn chim se sẽ nhảy nhót, những ổ chim dồng dộc treo tòn teng trên các tàu lá, những con chim dồng dộc có bộ lông màu đất, cái mỏ viền vàng và chúng đan tổ ấm thiệt khéo, rồi hàng cây so đủa bên bờ rào trước ngõ có những chùm bông trắng ngần treo lơ lững phất phơ trong gió sớm; nào cây cầu khỉ bắt ngang con lạch bằng một cây tre…Nhân Hậu ngó quanh, cảnh vật không có gì mà làm sao trong lòng cô có cảm giác nó đẹp vô cùng. Cảm giác xôn xao như mắc nghẹn lại trong cần cổ càng làm Nhân Hậu ngứa ngáy chân tay. Ngồi im thật lâu, hai tay vân vê chéo áo bà ba, Nhân Hậu mặc cho trí tưởng tượng chạy vòng quanh những khu vườn nhỏ, có lúc suy nghĩ dẫn cô về thị xã Tân An, có lúc nó đưa cô lên Thất Sơn bảy núi viếng miếu bà Chúa Xứ. Những mảnh đời quanh cô tiếp tục hiện ra, những ngày còn đi học, những buổi trưa hè. Nhân Hậu lắc đầu mấy lượt như muốn trút bỏ những suy nghĩ mông lung ra khỏi đầu thật khó khăn. Thị xã Tân An lờn vờn trước mặt, những khung cửa sổ lớp học, những gốc phượng già cỗi cho bông đỏ thắm vào mỗi độ hè về, Nhân Hậu muốn quên đi tất cả, bất chợt những giọt nước mắt trào ra khóe. Liếc nhìn qua, Nguyệt Nga vẫn ngồi im ngó mông ra ngoài khung cửa.

Con sông Vàm Cỏ từ đồng Tháp Mười đến miệt giáp nước Thủ thừa chia làm 2 nhánh bọc lấy cánh đồng Long An và xuôi về phía biển, một bên là Vàm Cỏ Đông và bên kia Vàm Cỏ Tây. Hai nhánh sông như cánh tay mở ra ôm trọn vùng đồng lúa Long An. Theo lịch sử ghi lại thì đến đời vua Minh Mạng các trấn đổi thành sáu tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đến khi Pháp chiếm trọn miền Nam Kỳ lục tỉnh, chúng đổi sáu tỉnh thành 21 tỉnh, tỉnh Định Tường mất tên để thành lập ba tỉnh mới là Tân An, Mỹ Tho và Gò Công. Đất Long An thuộc tỉnh Tân An.
Trong thời Pháp chiếm đóng Nam Kỳ, Long An là cuộc đất có anh hùng địa linh sanh nhân kiệt; đồng bào Long An tham gia kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Nam Kỳ Tứ Hổ Tướng gồm các anh hùng Võ Duy Dương, Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, xuôi ngược khắp các vùng đầm lầy thuộc các tỉnh Nam Kỳ, đánh các đồn bót của thực dân Pháp. Đất và sông nước Long An (Tân An) có thấm máu đào của anh hùng tử sĩ, và lịch sử cánh đồng nước nổi sẽ mãi mãi ghi công những tấm lòng nghĩa dũng đó. Và anh hùng Nguyễn Trung Trực, người sinh trưởng tại Long An, uống nước sông Vàm Cỏ, gạo Long An nuôi lớn thành người, ông đã làm giặc Pháp kinh hồn tán vía với những trận đánh thần tốc và bất ngờ. Từ tháng 6 năm 1861, ông hoạt động khắp các vùng Vũng Gù (Định Tường), Bình Trinh, Nhật Tảo, Bến Lức, Thủ Thừa (Long An)… đến Phước Lý, Long Thành (Biên Hòa), Tân Uyên… sang đến hòn Chồng, Hàm Ninh, An Thái, Dương Đông, Cửa Cạn (Kiên Giang). Giòng sông Vàm Cỏ Đông hừng hực lửa đỏ vào ngày 11 tháng 12 năm 1861, khi anh hùng Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân phục kích đốt tàu L’Espérance của giặc Pháp đang đậu trên Vàm Nhật Tảo (một nhánh sông nhỏ của sông Vàm Cỏ Đông thuộc làng Bình Trinh, tỉnh Tân An bấy giờ). Viên thuyền trưởng Pháp chỉ kịp nghe danh xưng của ông thì đầu đã lìa khỏi cổ, số giặc thủy thủ còn lại bị giết gần hết. Cử nhân Huỳnh Mẫn Đạt ca tụng chiến công của Nguyễn Trung Trực được lưu truyền mãi mãi.
“Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa,
Kiếm bạt Kiên Giang khắp quỷ thần”.
Đêm 14 tháng 12 năm 1861, trong khi quân Pháp đánh chiếm Gò Công, nghĩa quân của ông Cai tổng Là (trong số này có ông Nguyễn Đình Huân là em ruột cụ Nguyễn Đình Chiểu tham gia, tinh thần chiến đấu rất hăng say) đánh úp đồn binh Cần Giuộc của Pháp, giết một số sĩ quan và binh lính. Trong trận này, nghĩa quân chỉ dùng khí giới bằng tầm vông vạc nhọn, dáo mác và hy sinh 27 người. Sau đó, cụ Nguyễn Đình Chiểu đã làm bài Văn Tế Nghĩa Quân để biểu dương tinh thần của các nghĩa sĩ Cần Giuộc. Đây là một bài văn kháng chiến chống Pháp đầu tiên, một bài hịch được truyền đi khắp nơi để kêu gọi nghĩa phu và đồng bào toàn quốc đứng lên diệt giặc cứu nước. Pháp liệt kê bài này là một trong những loại văn thơ cấm phổ biến. Bài văn tế đó như vầy:
Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Hỡi ơi !
Súng giặc đất rền,
Lòng dân trời tỏ.
Mười năm công vỡ ruộng, xưa ắt còn danh nổi như phao,
Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.
Nhớ linh xưa
Côi cút làm ăn,
Riêng lo nghèo khổ,
Chưa quen cung ngựa đưa tới trường nhung
Chỉn biết ruộng trâu ở theo làng hộ;
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn làm quen;
Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như nắng hạn trông mưa.
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Đêm thấy bòng bong che trắng lớp, những muốn ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ.
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hưu;
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình.
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.
Khá thương thay
Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo giòng ở lính diễn binh;
Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ
Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, không chờ bài bố.
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bao ngòi,
Trong tay dùng một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng một ngọn dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ.
Chi nhọc quan Quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không.
Mặc kệ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mả tà, mả ái hồn kinh.
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.
Những lăm lòng nghĩa sau dùng
Đâu biết xác phàm vội bỏ.
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, xá đợi gươm hùm treo mộ
Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm.
Vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.
Nhưng nghĩ rằng:
Tấc đấc ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó ?
Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương ?
Vì ai xui hào lũy tan hoang, xiêu mưa ngà gió ?
Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương, xô bàn độc nghĩ lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mả tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Thà thác mà đặng câu dịch khái, về sau tổ phụ cũng vinh,
Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.
Ôi thôi thôi !
Chùa Lão Ngộ năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; Đồn Tây Dương một khắc đặng rửa hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.
Đau đớn mấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều,
Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, con bóng xế vật vờ trước ngõ.
Ôi !
Một trận khói tan,
Nghìn năm tiết rỡ.
Binh tướng nó hày đóng sông Bến Nghé, còn làm cho bốn phía mây đen.
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.
Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh cũng đều khen;
Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ.
Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh muôn kiếp nguyện được trả thù kia.
Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành một chữ ấm đủ đền công đó.
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân.
Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.
Hỡi ơi !
Có linh xin hưởng.
Tháng 5.1862, vào một đêm mưa gió, anh hùng Nguyễn Trung Trực bất thần tung quân đánh đồn Thủ Thừa do tên quan Pháp Bonard cai quản, tiêu diệt hết bọn cướp nước, tịch thu nhiều súng đạn rồi rút lên tỉnh Tây Ninh. Từ năm 1862, Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Công Định mở rộng phạm vi hoạt động, lập nhiều căn cứ kháng chiến chạy dài từ rừng Truất Tước, xã Tân Hòa (thuộc hai quận Cần Giuộc và Cần Đước) đến Gò Công. Tân Hòa là vùng chiếm địa, toàn sình lầy, lau sậy và đã làm cho các tàu chiến của giặc Pháp thiệt hại nặng nề khi chúng tấn công vào. (1)”

Chiếc xe đò cà rịch cà tang khi chạy lúc ngừng đón khách vẫn nhắm hướng Cao lãnh chạy miết. Nhân Hậu ngồi buồn ngáp vặt, Nguyệt Nga hai mắt lim dim muốn ngủ. Chiếc xe lọt ổ gà giựt mạnh rồi lắc lư, hành khách trên xe thức giấc. Nguyệt Nga chớp chơp đôi mắt ngó Nhân Hậu hỏi nhỏ:
– Đã tới chưa vậy?
Nhân Hậu nghe hỏi mở choàng mắt ngó quanh:
– Ừa cũng sắp tới rồi.
– Tui buồn ngủ ghê mà hồi nãy bà kể chuyện hay quá. Ê, ở đâu bà biết rành sáu câu vậy?
Nhân Hậu cười có đuôi con mắt:
– Mèn ơi, thì đi học ở trường học chớ ở đâu.
Nguyệt Nga nhìn bạn thèm thuồng:
– Ừa, coi vậy mà sướng há. Có chữ nghĩa dù gì vẫn hơn người ngu mà.
Nghe giọng nói của bạn có hơi ghen tị, Nhân Hậu nở một nụ cười thiệt tươi:
– Bà nói vậy chớ. Tui bây giờ cũng như bà thôi đâu có khác gì chớ. Mà nói cho cùng đó nghen, hồi xưa mấy ông già hay nói…nói cái gì…À…à trên đời nhứt sĩ nhì nông, đến khi hết gạo chạy rông thì…nhứt nông nhì sĩ đó bà.
Nguyệt Nga ngó bạn:
– Bà nói cái gì mà nhứt nhì? Cái gì mà nông với sĩ?
– Tui nói là ông bà nguời mình kể ra là nước mình có 4 hạng người, mà trong đó thì nghề làm ruộng của mình là đứng hàng thứ nhứt.
Nguyệt Nga trợn dộc con mắt lên:
– Cái gì? Bà nói cái gì?
– Tui nói là ông bà mình nói cái nghề mần ruộng của mình là đứng vô hàng thứ nhứt.
Nguyệt Nga dưạ lưng ra ghế:
– Tưởng cái gì. Biết đâu người ta dụ khị mình đó, ở đó mà ham-Nguyệt Nga chợt thở dài tiếp-Thì mình làm ruộng mình nói mình làm ruộng chớ có gì đâu mà nhứt với chót.
– Hông. Tui nói là đất nước của mình nghề mần ruộng là chính hơn hết thảy.
Nguyệt Nga ngồi bật trở lên:
– Hồi nãy bà nói cái gì nước mình có 4 hạng người …ngoài cái hạng mần ruộng ra vậy là còn cái hạng gì vậy?
Thấy bạn muốn nghe, hơn nữa mấy đứa con nít ngồi bên kia cũng đang nhóng lên nghe, cho nên Nhân Hậu sửa lại bộ ngồi, kéo vạt áo bà ba trước bụng xuống đâu ra đó rồi mới mở lời:
– Ừa, cái đó là ông bà nói vậy đó. Ơ đâu để coi nè…à…Sĩ là một nè, nông là hai nè, công là ba nè, thương là bốn nè…
– Lấy nhau là năm nè, đẻ con là sáu nè…Nguyệt Nga chỉa mỏ vô nói theo. Nhân Hậu ngó bạn trợn mắt:
– Cái gì? Caí gì mà có lấy nhau đẻ con trong đó nữa?
– Ủa, thì thương rồi phải lấy chớ…chớ hổng lẻ bà tính ăn xổi ở thì..như…như gà vậy sao? Bộ tính cái đường quất ngựa chạy làng hay sao đây?
Nhân Hậu lắc đầu:
– Hông, hông phải đâu. Thương đây là thương buôn, thương hồ đó bà. Là buôn bán đó chớ đâu có phải thương yêu đâu mà biểu lấy với bỏ.
Nguyệt Nga đập hai bàn tay với nhau kêu cái bốp thiệt to rồi cười ngặt ngà ngặt ngẹo:
– Thì ai có mà biết đâu. Nghe nói thương thương thì cho nó lấy nhau đẻ con cho có hậu đó mà. Mà ông bà mình bày đăït chia ra làm chi vậy ta?
– Thì ai có biết đâu nà. Chắc là do người mình làm mấy cái nghề đó cho nên mới thành tuồng tích như vậy. Nói cho nói thiệt ra thì người của mình ham đi học lắm, tỉ như bà đó, bà cũng muốn đi học lắm chớ bộ hông sao!
Nguyệt Nga trở bộ ngồi day mặt qua Nhân Hậu giọng xa vắng:
– Ừa thì cũng có. Tui nghĩ như tía má tui đó cũng có cho tui đi học chớ bộ. Ừøa, mà học có chút thôi hà, học mà lên cao quá có cái môn mà ế chồng…Mà nói nào ngay thì càng ngày càng thấy trường học gì đâu mà xa tít mù khơi trên tỉnh, trên quận thì ai có tiền đâu mà đi.
Nhân Hậu hít hít cái mũi:
– Bà nói thì cũng có cái đúng. Ở làng thì có được mấy con gái như tụi mình mà đi học. Rồi càng ngày trường học lớp lớn phải lên tuốt trên quận ở trọ thì con gái ai mà cho đi. Mà thôi bỏ chuyện đó đi.

Nguyệt Nga ngó ra cửa sổ, cánh đồng chạy dài hai bên hông xe vun vút những hàng cây, những lùm dừa nước xa xa trong đồng. Cánh rừng tràm mờ mờ phía xa. Nguyệt chỉ tay nói:
– Chỗ đó là con kinh lớn nếu mình đi xuồng máy mình sẽ qua đó đó.
Nhân Hậu ngó theo:
– Ừa, quê mình đẹp thiệt đó bà ơi, nhưng mà sao khó khăn gian khổ quá đi. Má tui bả nói có lẽ do người mình hồi xưa trong cái thời Nam tiến vô đây đã tiêu diệt mấy dân tộc người Hời, người gì đó cho nên bị trả báo đó.
Nguyệt Nga có vẻ hứng thú mặn mà trong chuyện huyền bí, hai con mắt ngó chăm bẳm:
– Cái gì, bà nói cái gì quả báo?
Nhân Hậu bẻ mình trở bộ:
– Chuyện này là chuyện nhân quả nhãn tiền đó bà ơi. Má tui nói hồi đó người mình bị Tàu nó đành cho chạy tuốt từ đâu bên …bên Tàu chạy tới Nam Quan rồi vượt đèo lội suối xuống tới Phong Châu…Mà mấy cái đó tui có học nữa.
Nguyệt Nga nhíu mày:
– Ủa, chuyện người Hời cũng có viết trong sử nữa sao? Vậy mà tui hổng biết.
– Hông. Ai mà nói chuyện ngưòi Hời trong sách sử gì đâu. Tui nói là má tui bả kể như vậy.
– Tui mệt bà quá đi. Ba hồi thì bà kể chuyện trong sử bà học, ba hồi bà nói chuyện má bà thì ông nội tui sống lại cũng bù luôn chớ đừng nói tui. Rồi sao? Bây giờ bà nói lại cho có đầu đuôi nghe chơi.
Nhân Hậu mắc cười, cô day qua mở túi cái bao cà ròn lôi ra một xâu chim nướng với mấy nắm xôi.
– Hồi nãy qua bắc, tui có mua mấy xâu chim nướng mà chưa ăn, bây giờ đói bụng rồi. Vừa ăn đi tui kể cho mà nghe.
Hai cô gái xé thịt chim, bốc xôi chia ra ăn. Vừa nhai một miếng chim nướng béo ngậy Nhân Hậu vừa kèm theo một miếng xôi.
– Chim béo thiệt hả Nguyệt Nga. Ăn lúa với ăn cá hổng béo thì cũng uổng-Chuì tay vô chiếc khăn Nhân Hậu tiếp-Để tui kể tiếp nha…Đừng có kể đâu cho xa hết trơn hết trọi, tỉ như cái tỉnh mình ở đây nè, nó là cái tỉnh Long An nha, còn cái tỉnh mình sắp tới đây là Châu Đốc nha, mấy cái này nằm gọn lỏn trong cái Đồng Tháp Muời hết trọi, mà có ai để ý biết cái gì đâu nè. Như cánh đồng nầy nước nổi quanh năm đó bà thấy hông? Hồi xưa ơi là xưa cái thời ông cố ông nội tụi mình mới vô lập nghiệp thì nó minh mông chi địa toàn là cỏ lác cỏ năng…ừa, lác đan bao đệm cà ròn đó…nước thì vàng khè. Đâu bà ngó xuống bàn chưn bà coi, nếu mà mình hổng đi ra tỉnh ra quận thì mình đâu có chùi làm chi hả, mà hai ba ngày rửa sơ sơ thôi đó nghen thì nước phèn nó ăn vàng khè mấy ngón chưn hết trơn hết trọi thấy mà tản thần luôn. Rồi bà coi cái ống quần đen của bà coi…Ừøa, thì đó nó ăn vàng hườm cho tới đầu gối cái quần. Vậy đó mà mình vẫn sống nhăn răng bà thấy chưa. Đó là chưa kể hồi trào Pháp thuộc, nhóc anh hùng nghĩa dõng đánh Pháp còn ghi trong sách đó bà.
Nguyệt Nga miệng nhai chóp chép, mắt ngó trân trân vô mặt bạn, lòng thầm nghĩ “Cha chả cái miệng của nó nói sao mà có duyên hết biết, rồi cái bụng thì chứa toàn điển tích ngày xưa hông à. Thằng nào được nó ngó thì thôi phải biết.” Nhân hậu ngừng kể, bốc miếng thịt chim bỏ vô miệng nhai rau ráu:
– Ngon quá hả Nguyệt Nga. Chim này là chim chàng nghịch ốc cau đó phải hông? Phải chi tui biết vậy tui mua thêm cái bánh mì thì hết ý hà? Ngon phải biết.
Nguyệt Nga đang rầu trong ruột nhìn thấy bạn vui vẻ ăn nói oang oang cũng khuây khỏa được đôi chút. Nhân Hậu nuốt ực miếng xôi kể tiếp:
– Như tui biết đó nha thì Châu Đốc Cao Lãnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là một trong ba tỉnh của vùng Đồng Tháp Mười, phía Bắc giáp nước Căm Bốt-Nam Vang, phía Nam thì giáp tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh Vĩnh Bình đó nha, phía Tây giáp An Giang-Long Xuyên và Cần Thơ, phía Đông giáp Long An với lại Tây Ninh. Trong Chau Đốc có sông ngòi, kinh rạch chằng chịt có nhiều bàu lớn. Sông
chính là sông Tiền Giang chảy qua có chiều dài chừng đâu mấy trăm cây số ngàn (khoảng 132 cây số). Còn dọc theo hai bên bờ sông Tiền Giang là kinh rạch dọc ngang như từ hồi sanh tới giờ mình thấy đó. Bà phải nhớ nghen, kinh rạch sông nước trong miền Nam là con đường thông thương buôn bán đi lại.
Thị xã Cao Lãnh nằm trên bờ sông Cao Lãnh một nhánh nhỏ của sông cái Tiền Giang tách ra, nhánh sông Cao Lãnh nó chảy ngang chợ sau đó nó lại chảy vô sông cái trở lại. Nằêm ngay Đồng Tháp Mười mênh mông, từ xa xưa Cao Lãnh đã là một nơi rất sầm uất và nó là một chỗ rất quan trọng trong thương mại bán buôn của Đồng Tháp Mười đó.
Nguyệt Nga ngồi nghe quên luôn miếng chim nướng chảy mỡ xuống áo. Nhân Hậu ngó bạn:
– Bà làm cái gì mà nhìn sửng tui như thể lạ lắm vậy đó.
– Chèn ơn, tui đâu có biết con bạn nhà quê của tui mà hay quá xá như vầy nè trời. Thiệt là phước đức bảy mươi đời vương cho thằng nào nó đuợc mầy cho nắêm lưng quần.
Nhân Hậu đập mạnh vai bạn rồi cười, hai lúm đồng tiền trên má lún sâu và mặt ửng hồng thiệt dễ thương:
– Bà làm tui mắc cở muốn độn thổ luôn nè.
– Thiệt đó chớ bộ. Ừa, mà nè…tai sao có cái tên Cao Lãnh bà biết hông?
Nhân hậu hớp một miếng nước vô miệng rồi nuốt ực, chuì miệng:
– Địa danh tên gọi của mình trong Nam là có tuồng có tích hẳn hòi. Có thể miệt đó, vùng đó có cái gì đặc biệt, hoặc giả kỉ niệm gì đó. Tui tỉ như trên Châu Đốc có con kinh Vĩnh Tế, hoặc như Cù Lao Ông Chưởsng bên Long Xuyên, Năm Căn ở Cà Mau, Hà Tiên, Kiên Giang, Cổ Cò, Bến Lức, Gò Công, Nhựt Tảo và nhiều chỗ khác nữa đều có tích hết trơn hết trọi…Bây giờ qua chuyện Cao Lãnh nha. Tích nó như vầy, Cao Lãnh bắt nguồn từ hai chữ “Câu Đương”, là tên một người gốc ở miệt ngoài Quảng Nam di cư vào Nam theo đợt chiêu mộ của chưởng dinh Nguyễn Hữu Cảnh. Ông Câu Đương tên thật là Đỗ Công Tường tự Lãnh, đến lập nghiệp ở phủ Tân Thành, lập một ngôi chợ và làm chủ. Vì thế dân gọi tắt là chợ Câu Lãnh, sau đọc trại ra Cao Lãnh. Đó sự tích tui nhớ được như vậy đó.
Phần lớn đất đai phía Đông tỉnh Đồng Tháp là đầm lầy, rừng tràm rộng lớn. Xưa vùng này rất hiểm yếu, thường là căn cứ kháng chiến chống quân Pháp. Sông chính của tỉnh Tiền Giang, vốn từ sông Mê Kông ở bên tây Tạng chảy xuống. Kinh rạch chạy khắp tỉnh và là hệ thống giao thông tiện lợi. Các kinh rạch quan trọng gồm: sông Sở Thượng, sông Sở Hạ, kinh Phước Xuyên, kinh Tháp Mười, kinh Bà Bèo, kinh Tư Mới, kinh Xáng An Long…v.v. Có nhiều cù lao và giồng lớn như cù lao Tây, cù lao Hộ. Về khí hậu có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 5. Vào mùa mưa, nước sông Cửu Long đổ từ nguồn xuống mang theo phù sa, nước sông dâng lên ngập ruộng vườn đem phù sa bồi đắp cho thêm màu mỡ, nhưng cũng có gây trở ngại cho một số sinh hoạt bình thường vì mực nước dâng cao, nhất là trong Đồng Tháp Mười, mực nước dâng từ nửa thước đến hai thước rưỡi. Là một tỉnh nông nghiệp, Châu Đốc -Cao Lãnh sản xuất nhiều lương thực và các loại nông, thủy sản có giá trị xuất khẩu. Đất đai màu mỡ do phù sa hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang cung cấp hàng năm, xóm làng trù phú giữa bốn bề cây cối xanh tươi. Vì thế Đồng Tháp Mười được biết đến như một vựa lúa của cả nước. Ở đây có giống lúa nổi, một loại lúa mọc tự nhiên từ tháng 4, tháng 5 đến tháng 10 thu hoạch mà không cần chăm bón. Đồng Tháp Mười cũng là vùng đầy triển vọng về các loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, bông, thuốc lá, đậu tương và cây ăn trái như: xoài Cao Lãnh, nhãn Châu Thành, quýt Lai Vung, bưởi Phong Hòa, chôm chôm, vú sữa, mãng cầu có quanh năm.
Về lịch sử thành hình vùng đất nầy là từ năm 1832, vua Minh Mạng chia các trấn thành tỉnh thị Sa Đéc thuộc tỉnh An Giang. Dưới thời Pháp thuộc, An Giang được quân Pháp chia thành sáu tỉnh là Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Cần Thơ. Đồng Tháp Mười vốn là cánh đồng sâu, mọc đầy lau sậy, dưng, lác, tràm, nên trở thành địa thế hiểm yếu mỗi khi nước ta có giặc. Năm 1862, anh hùng Đốc Binh Kiều chiêu mộ người nghĩa dũng trong vùng cùng nổi lên đánh giặc Pháp. Khi anh hùng Trương Công Định mất, anh hùng Võ Duy Dương rút quân về Đồng Tháp Mười vào năm 1865 và là người đầu tiên nêu khẩu hiệu Cần Vương chống giặc. Ông và nghĩa quân đánh du kích khắp nơi từ Hà Tiên tới Đồng Tháp Mười. Ông tổ chức địch vận rất giỏi, nhiều lính quân Pháp bỏ hàng ngũ và cùng theo nghĩa quân đánh phá các đồn bót của giặc khắp các tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Long Xuyên, Sa Đéc thời bấy giờ. Ngày 15.4.1865, giặc đem đại quân vây kín căn cứ Đồng Tháp Mười nhưng bị phục binh của ông chận đánh ở Cái Thia liền mấy ngày đêm. Sau đó, ông rút về Cao Lãnh, rồi sang Vàm Cỏ Tây lập cứ địa, tổ chức lại hàng ngũ. Nhưng chẳng may, ông bị mắc bệnh thương hàn mà từ trần. Trong số những anh hùng sinh trưởng tại Tỉnh Kiến Phong (Tức Cao Lãnh) có Nguyễn Quang Diêu (người xã Tân Thuận, Cao Lãnh). Với tư chất thông minh và tâm hồn yêu nước dạt dào, ông đã tham gia phong trào cứu nước và tiếp tay đắc lực cho cao trào Đông Du năm 1907. Tại Cao Lãnh, ông mượn chùa Linh Sơn làm nơi gặp gỡ những người yêu nước trong vùng. Ông thường liên lạc với các nhà cách mạng bị quân Pháp đưa từ Bắc vào an trí trong Nam như Võ Hoành, Dương Bá Trạc, Phương Sơn… đang tạm sống tại vùng Sa Đéc. Năm 1913, ông cùng nhà cách mạng Đinh Hữu Xương (người xã Mỹ Xương) và một số chiến hữu khác ra hải ngoại nhưng bị bắt tại Hồng Kông. Pháp đưa ông về giam tại Bắc Kỳ, rồi đày đi Guyane (thuộc địa Pháp tại vùng Trung Mỹ). Năm 1917, ông cùng một số nhà cách mạng Việt Nam dùng thuyền trốn qua đảo Trinidad, rồi tìm đường sang Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Năm 1920, ông từ đó trở lại Trung Hoa. Năm 1927, ông về nước tiếp tục hoạt động hăng say dù tuổi đã cao và bị mật vụ Pháp lùng bắt ráo riết. Đến ngày 15 tháng 5 năm Bính Tý (1936), anh hùng Nguyễn Quang Diêu từ trần.
(1)Tài Liệu Tham Khảo: Thi Văn Quốc Cấm Thời Thuộc Pháp, Thái Bạch; Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ XIX, Nguyễn Lộc ; Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm)

9.
M
ùi cỏ, mùi nước dạt dào trong không khí, cái mùi ngai ngái quen thuộc của cỏ mục ngâm lâu ngày trong nước làm Nguyệt Nga tỉnh ngủ, chiếc xe vẫn lắc lư hướng về thị trấn; Nguyệt Nga dựa lưng vô ghế chăm chú nghe Nhân Hậu kể chuyện. Nhân Hậu vừa dứt lời Nguyệt Nga day người ra cửa sổ ngó ra ngoài:
– Vậy ra cái đồng nước của mình cũng nhiều lịch sử quá ha. Ai mà biết đâu.
Nhân Hậu cười:
– Thiệt ra ở đâu cũng vậy hết trơn. Mầy hổng nghe nên hổng biết đó, mà nghĩ cũng ngộ thiệt, tao tỉ như ông bà cha mẹ mình sống hoài ở đây nhưng mấy ai mà biết, có đi học rồi đọc mới biết.
Nguyệt Nga bẻ tay răng rắc:
– Mầy nói sao nghe dễ quá. Đi học hả! Mầy coi trong xóm mình được mấy đứa đi học? Con trai con gái mới 10 tuổi đã ra đồng rồi, còn hổng ra đồng thì giữ em cho người lớn đi làm, hỏi làm sao đi học.
Nhân Hậu gật đầu:
-Thì vậy đó tao mới nói. Tao nói là nói đi học mới biết chớ còn cái chuyện ai đi học được thì sao mà biết.
Nhân Hậu bất chợt thở dài nói tiếp:
– Cũng tội nghiệp cho người mình, đã khổ sở vì thất học mà còn khổ vì giặc giả hà rầm, loạn lạc cầm canh, rồi khổ vì mần ăn mất mùa. Cái nghèo đói mù chữ nó thường đi chung biết bao giờ mới hết.
Nguyệt Nga ngó xuống cái bụng lum lúp dưới làn áo vải:
– Mầy nói chuyện cướp đường cướp chợ, rồi cái giọng của mầy sao mà giống cái thời Tôn Tẩn Bàng Quyên trong tuồng hát bội quá đi. Tao nghĩ không biết con tao nó phải nhận đứa nào ác nhơn thất đức làm cha.
Nhân Hậu nhìn bạn:
– Chuyện đã tới cái nước nầy rồi thì mầy có buồn cũng vậy thôi. Tao biết mầy đau khổ nhưng mà, nói hổng phải nói chớ…con người ta có cái nghiệp cái số hết trơn.
– Số mạng gì mà ác nhơn quá vậy trời?
Bà già ngồi chung dãy ghế với hai cô gái xen vô câu chuyện:
– Tự nãy giờ nghe hai cô than thở nghe sao buồn quá …mà hổng biết cô đây thứ mấy?
Nhân Hậu thay bạn trả lời:
– Dạ thưa Dì, con tên Hậu thứ Ba còn con nhỏ bạn tên Nga thứ Sáu.
– Ừ, xin hỏi cô Ba cô Sáu quê ở đâu mà đi đâu lên miệt nầy?
Nhân Hậu ngó Nguyệt Nga trước khi trả lời:
– Dạ hai đứa tụi cháu ở Tân An bữa nay đi lễ trên miếu Bà đó Dì.
– Vậy sao. Ủa mà bữa nay đâu có lễ lộc gì ở trển đâu cà.
– Dạ hông, có việc đi thôi Dì. Xin hỏi Dì thứ mấy?
– Ừ, dì quên mất, kêu dì là dì Sáu được rồi.
Nhân Hậu dạ:
– Dạ dì Sáu, dì sáu đi đâu về vậy dì sáu?
Bà Sáu cười:
– Hổng nói dấu gì hai cháu, ba sắp nhỏ ổng đóng lính ở Cần Thơ dì lên trển thăm ổng.
Không đợi hỏi bà Sáu nói luôn một hơi:
– Hồi nãy nghe hai đứa cháu nói chuyện với nhau dì thương cho tụi bay quá sá. Như dượng Sáu đó, ổng đóng lính cũng mới thôi, ổng ở thành đóng lính rồi đi qua Châu đốc mới gặp dì. Ui, nói hổng phải nói chớ cái gì mà khổ quá khổ chừng đi. Như dì đây nè có 5 mặt con với ổng nè, ổng kêu dọn lên Cần Thơ ở luôn đi khỏi mần ruộng mần sông gì ráo, cho lũ con nó đi học; nhưng, mấy đứa nghĩ coi, đi sao được mà đi, nhà dì còn bà già gần đất xa trời, rồi mình cũng quen nước quen cái rồi đi qua miệt đó mần ăn cái gì với người ta đây? Nhằm vô cái lương của ổng thì làm sao mà sống, cho nên dì hổng đi. Nói nào ngay, mấy đứa con dì cũng được đi học đàng hoàng, còn trang lứa với tụi nó thì mù chữ thiếu giống gì, cho nên hồi nãy nghe hai đứa nói cái số cái mạng gì tin lắm. Mà kể cũng ngộ-bà Sáu ngừng nói, ngó quanh-nói ra mấy đứa đừng cười gì nghen. Tin số thì dì tin mà khổ quá dì cũng chửi Trời chửi Phật tuốt luốt luôn.

Bà sáu cười hè hè, Nhân Hậu và Nguyệt Nga ngồi nghe bà Sáu nói chuyện mà bụm miệng không dám cười ra tiếng. Bà Sáu tiếp luôn:
– Nói ra thì ra cái điều mình bổ báng Phật Trời chớ thiệt ra mấy ổng không công bình chút nào hết. Nghĩ coi nè, dân quê mình thiệt thà như vậy đó, đâu có mần cái chuyện gì ác nhơn đoản hậu đâu mà nghèo riết hà, rồi cái chuyện giặc giả nữa. Nói tới chuyện nầy dì mới nhớ. Hổng biết từ ở cái hóc nào có một đám người nó lò dò ra làng nó dụ dỗ thanh niên đi theo tụi nó làm ăn cướp. Í mèn ơi, ăn cướp thì nói đại nó là ăn cướp đi. Không, đàng này tụi nó không nói à nghen. Vậy chưa đủ khổ đâu nha. Làng nào trù phú ruộng vườn ngon lành mà hơi xa xa một chút, tụi nó về luôn ban ngày rồi tính đường ở lại luôn. Ai dè , ban ngày lính Cộng Hòa họ bắn ô-buýt vô chạy thấy ông bà ông vãi. Nó chạy đâu mất biệt chỉ khổ dân mình vườn ruộng tan hoang. Bị hoài đó chớ. Đó; hai cháu nghĩ coi nếu mà có ông Trời ông Phật thì ổng phải xử chuyện nầy chớ., Dì nói nghe có phải hông? Mình làm cái tội gì mà trời mưa đất chịu như vầy?
Nhân Hậu, Nguyệt Nga ngồi im ru bà rù không nói được tiếng nào. Nguyệt Nga nhớ lại chuyện mình bị nạn mấy tháng trước. Cũng nghe đồn là ăn cướp, nàng bán tín bán nghi. Nguyệt Nga lẩm bẩm:
– Hổng lẻ!
Bà Sáu ngó qua Nguyệt Nga:
– Con Sáu, cháu nói cái gì hổng lẽ? Chuyện gì vậy?
Nguyệt Nga nói trớ:
– Dạ hổng có chuyện gì hết.
– Ừa, mà mấy cháu hổng tin cũng phải. Nếu mà tin lời dì nói thì mấy đứa trong quê của dì tụi nó đâu có bỏ nhà đi đâu. May mà mấy đứa nhỏ nhà dì nó ở ngoài thị trấn chớ không thôi thì hổng biết nói sao.

Nguyệt Nga ù ù cạt cạt nghe mà không hiểu, Nhân Hậu biết chuyện nầy do ba nàng giải thích cho nàng nghe mấy lần. Nhân Hậu đở lời bà sáu:
– Dì nói như vậy thì tội cho Trời Phật quá đi. Mình làm mình chịu chớ dì. Cháu thì tin có số mạng nhưng mà cháu cũng tin rằng nếu mình ráng làm thì mình sẽ thoát ra khỏi cái số mạng oan nghiệt mình đang có. Cháu hông oán trách Phật Trời. Cái đám ăn cướp núp trong rừng tràm đám lá tối trời đó thì có ngày cũng trả cái quả nó làm thôi hà.
Nguyệt Nga ngồi im nãy giờ bây giờ mới lên tiếng:
– Nhà dì sáu ở đâu?
– Chi vậy cháu? Nhà dì ở chợ Cao Lãnh, có khi nào rảnh ghé lại nhà dì chơi. Đừng lo gì hết, nhà dì hổng giàu có bằng ai nhưng được cái đủ ăn. Cứ qua khỏi con kinh bên kia chợ, đường đi qua Vĩnh Tế hỏi dì ai cũng biết.
Bà Sáu ngồi im một lát rồi bà ngó qua Nguyệt Nga, bà hỏi:
– Nói ra hổng phải dì nhiều chuyện. Ngó con Sáu Nguyệt Nga in tuồng như nó có mang? Đi thăm chồng đóng lính ở Châu Đốc hả?
Nguyệt Nga lặng yên đỏ mặt, Nhân Hậu đỡ lời bạn:
– Dạ hổng có. Tụi cháu đi lễ Miếu Bà thôi.
Bà Sáu không nói gì nhưng ánh mắt bà nhìn vô bụng Nguyệt Nga nghi ngờ.
– Ừa, bỏ quá cho dì. Mau miệng nói vậy thôi.
Nguyệt Nga ngồi thu người lại, ghé miệng nói nhỏ vô tai Nhân Hậu:
– Mầy tính đi như vầy chiều về kịp hông mầy?
– Tao nghĩ là kịp nếu như hông có chuyện gì trở ngại.
Nguyệt Nga lo lắng:
– Mà có chuyện gì trở ngại mầy nói tao nghe thử coi?
– Tao đâu có biết, cứ nói phòng hờ như vậy mà.
Nguyệt Nga hỏi tới:
– Mà mầy có đi qua đây bao giờ chưa?
Nhân Hậu cười cho bạn yên lòng:
– Đi thì tao đi mấy bận rồi, mà mầy nôn nóng làm gì vậy? Đã đến đây rồi thì cứ thủng thỉnh.
Nguyệt Nga vẫn lo lắng:
– Tao đâu có làm gì đâu, tao chỉ sợ là mình đi hổng được gì mà ở nhà tía má tao lo.
Nhân Hậu xót xa ngó bạn:
– Tao biết mày buồn lo nhiều lắm, mà tao hông biết nói sao sao cho mầy bớt buồn bớt lo.
Nhân Hậu thở ra rồi tiếp:
– Cuối cùng thì nói thiệt là hay nhứt. Tía má mầy có buồn thì cũng đôi ba tháng rồi hết thôi, chớ mầy giấu hoài đến khi đổ bể mới là khó ăn khó nói đó.
Nguyệt Nga nhìn bạn với đôi mắt không còn vẽ tinh anh:
– Tao đâu biết nói làm sao. Bây giờ mầy nói sao tao nghe vậy.
Nhân Hậu không nói thêm, nàng nhắm mắt lim dim dỗ giấc ngủ:
– Thôi mầy ráng ngủ chút đi, lát nữa đến chùa rồi hay.
Bà Sáu ngồi bên nghe haí đứa con gái thì thào, bà đoán già đoán non nhưng chuyện không liên can đến bà cho nên bà im lặng. Khi hai cô gái nhắm mắt ngủ, nhìn gương mặt Nguyệt Nga, bà thì thầm bên tai nàng:
– Dì từng tuổi nầy rồi dì biết mà. Nếu cháu muốn trốn nhà lên miệt này lập ngiệp dì sẽ giúp cho đừng lo. Hoàn cảnh nầy dì trải qua rồi dì biết. Hồi tao lấy dượng Sáu mầy có mấy mặt con rồi má dì mới cho phép về thăm nhà đó chớ.

Hai cô gái lớ ngớ trong nhà lồng chợ Châu Đốc, sau khi ăn 2 tô bún mắm chưa biết đi về đâu. Trời đã ngả bóng về Tây. Nhân Hậu ngó Nguyệt Nga:
– Giờ này còn một chuyến nữa là hết xe về. Mầy muốn về hay còn có ý qua thăm dì Sáu?
Nguyệt Nga ngó ra ngoài trời còn nắng chang chang:
– Họ nói còn hơn một tiếng nữa xe mới chạy. Mầy muốn qua đó chơi hay là đi dạo vòng vòng là tùy mày.
Nhân Hậu nhíu mày suy nghĩ một lúc:
– Cũng khó tính thiệt. Qua thăm dì Sáu tao sợ trể xe, mà hổng qua chơi một chút sợ dỉ buồn. Thôi, ngồi ở quán nước kia đợi xe về cho kịp. Khi nào có dịp ghé lại thăm dỉ cũng được.
Nguyệt Nga bước theo chưn bạn:
– Ừa, thì vô đây đi.
Hai người bước vô căn quán nhỏ ở bến xe, kêu 2 ly nước đá chanh, Nhân Hậu nhìn bạn:
-Mầy nghĩ sao về lá xâm của thầy?
Nguyệt Nga móc túi áo lấy ra lá xăm màu vàng đọc lại một lần, lắc đầu:
– Tao không biết.
Nhân Hậu cầm tờ giấy xăm màu vàng im lặng suy nghĩ:
– Cũng khó cho mầy thiệt đó. Theo lá xăm nầy và theo lời thầy nói thì lá xăm nầy là xăm Trung Hạ Hạ (Quẻ trung bình) còn lời xăm:
Non kia giờ đã nên đồng
Ngàn dâu xanh tốt phá trồng ngô khoai
Mất mùa hết bảy còn ba
Trong nhà điền trạch khéo mà lo toan.
Thầy nói vận hạn của mầy năm nay bị như vậy nhưng hậu vận sẽ khá, qua cơn rủi sẽ đến thời thái lai. Chuyện gì cũng vậy hết. Hể mưa qua thì phải nắng ráo. Xăm hay thiệt đó.

Chuyến xe chiều đưa hai cô gái trở lại quốc lộ số 4, hai cô đón xe về Tân An chiều tối thì về đến nhà.

10.
C
ô Ba Lụa ngồi dưới gốc cây chùm ruột trái chín đỏ trên cành chi chít, muối ớt đựng trong lá mít để một bên, vừa ăn vừa hít hà nhăn mặt. Nhân Hậu nhìn mặt Lụa rồi cười:
– Mầy thiệt tình, tao hết biết cho mầy luôn đó Lụa. Mầy biểu tao kể chuyện Sáu Nguyệt Nga cho mầy nghe mà tao thấy lo nhai chùm ruột chanh chách mầy đâu có nghe gì đâu?
Ba Lụa cười khúc khít:
– Mầy đừng trách tao. Con gái mà hổng biết ăn chua đâu phải là con gái mầy ơi. Mèn đét ơi, nó vừa chua vừa cay ngon hết biết luôn. Mà nè, chùm ruột nhà mầy làm mức để dành ăn ngon lắm đó mầy.
Nhân Hậu cười theo bạn:
– Mầy khỏi dặn, bà già tao bả lo trước hết trơn rồi. Nhà tao mấy chị em gái lận mà.
Ba Lụa chùi tay vô quần, hít hà:
– Tôi nghiệp con Sáu Nguyệt Nga hén mầy, bây giờ con nó cũng mấy tuổi rồi. Người ta hổng biết rõ đầu đuôi nên hay nói nầy nói nọ. Tao là bạn của mầy mà mầy cũng kín miệng. Bữa nay nếu mà tao hổng hỏi chắc còn lâu mầy mới nói cho tao nghe.
Cô Ba Lụa chép miệng mấy lượt, miệng cứ “Tội nghiệp thiệt! Tôi nghiệp thiệt” hoài làm Nhân Hậu phì cười:
– Lụa, mầy đọc thiệu, đọc phù, đọc chú gì vậy Lụa?
Lụa cười ngỏn nghẻn:
– Ừa, mà bây giờ nó đi đâu mà đi hoài ngoài chợ ngã ba vậy mầy? Người ta đồn nó đi làm ăn gì ngoài đó…mà hổng phải làm ăn bình thường như ai khác? Người ta đồn nó ra ngoải bẹo hình bẹo dạng…
Nhân Hậu nhíu mày:
– Miệng thế gian ngộ thiệt. Mà bà con mình cũng đâu có phải là người độc ác gì đó, mà sao đồn bậy bạ mang tội chết.
– Thì có ai mà biết đâu cà.
– Mầy đừng nói vậy tội nó. Nó có sắc, nó đi buôn bán ngoài đó chớ có làm điều gì thương luân bại lý đâu à. Nó đi hoài vì nó vẫn chưa quên được chuyện xưa. Nó không muốn bà con nhìn nó với ánh mắt thương hại hoặc khinh khi. Ông bà già nó thì buồn quá rồi cũng không lý gì đến nó nữa. Tội chớ. Tội nhứt là thằng nhỏ vô tội kia.
Ba Lụa bỗng dưng nhỏ giọng:
– Ê! Mà cái thằng trời đánh đó có lần nào về thăm nó không mầy?
– Mèn đét ơi, mầy nghe chuyện rồi mà mầy hỏi bứt ngang hổng sợ nó nghe nó buồn à? Tới ba thằng biết thằng nào?
Ba Lụa ngó quanh rồi nhích sát gần Nhân Hậu cắc cớ hỏi:
– Ủa, bộ nó hổng thấy thằng nào sao?
Mặc dù tức con bạn nhiều chuyện lại hay tò mò, Nhân Hậu cũng phải phì cười:
– Mầy hỏi sao mà thắt họng. Cái hồi đó nó còn hổng biết nó là ai thì còn nhớ mặt thằng nào ra thằng nào. Mà cái tụi đó một lần đi ngang qua đây rồi mất biệt chớ có phải dân làng mình đâu mà biết.
Ba Lụa vẫn chưa hết thắc mắc. Cô đứng lên vói tay bẻ một nhánh chùm ruột nữa, ngồi xuống chuì từng trái vô quần chấm muối nhai rau ráu. Vừa nhai ba Lụa vừa hỏi tiếp:
– Lỡ hỏi thì…um…ngon quá…um… hỏi cho hết luôn. Mà in tuồng đâu như là mấy tướng cướp trong bưng hả mầy? Hay là mấy thằng cướp cạn người Thổ?
Nhân Hậu lắc đầu:
– Tao thiệt hổng biết. Nhưng họ đồn như vậy thì biết làm sao được. Mầy còn chưa nghe đó. Bữa trước nè, có một người bị bắn chết ở bìa rừng tràm… họ nói là thằng đó là một trong ba thằng về đây hồi năm kia, làm con Sáu Nguyệt Nga lo sợ rồi khóc muốn hết nước mắt.
Ba Lụa trợn mắt:
– Ủa, bộ nó còn thương cái thằng đó sao?
– Có biết thằng nào ra thằng nào đâu mà thương chớ. Nó khóc vì nó tủi thân. Cây muốn lặng mà gió hổng chịu ngừng.
Ba Lụa đứng lên lần nữa, bước gần liếp rau Nhân Hậu đang đứng. Nhỏ giọng:
– Nè, tao nói cái nầy mới động trời. Mầy muốn nghe hông?
Nhân Hậu ngó bạn, rồi cuối xuống tiếp tục tưới rau. Ba Lụa thì thào ra vẽ bí mật động trời, không nghe thấy Nhân Hậu phản ứng gì hết đâm cụt hứng, ngồi xuống nói thòng theo vớt vát:
– Chuyện nầy có liên quan đến Sáu Bảnh à nghe.
Nhân Hậu nghe nhắc đến Sáu Bảnh cũng hơi khựng, nhưng rồi nàng cũng phớt lờ tiếp tục bước giữa hai liếp rau nghiêng đôi thùng hoa sen tưới nước. Ba Lụa nghĩ rằng con bạn của mình sẽ tò mò muốn biết chuyện gì liên quan đến Sáu Bảnh, nhưng đợi hoài không thấy bạn lộ vẽ gì nôn nóng muốn nghe đâm ra bực ngang:
– Tao nói thiệt đó Hậu à. Tao mới đi chợ về mà. Mầy biết anh Hai Thành Đạt đi ghe thương hồ hay ghé ngoài chợ hông?
Nhân Hậu ngừng tay ngước lên:
– Ừa biết. Tao có nghe anh Sáu nói chuyện. Anh ta…
Ba Lụa nghe vậy rấn tới hỏi luôn:
– Sao ảnh làm sao? Mầy quen à?
– Không. Tao nói là tao nghe anh Sáu nói mà. Nhưng…
– Nhưng làm sao? Mầy kì cục, sao đang nói lại nhưng nhị nghe phát tức cành hông à.
Nhân Hậu cười:
– Ủa, mầy nói ảnh nói cái gì đó mà chớ đâu phải tao nói cái gì đâu.
Nhân Hậu ngưng ngang ngó mặt Ba Lụa, nhìn thấy gương mặt căng thẳng chăm chú như muốn nghe của Ba Lụa, nàng bỗng dưng thấy có cái gì lạ. Nhíu mày, Nhân Hậu nói tiếp:
– Mầy mới nói cái gì có liên quan đến Hai Hường đó mà.
Ba Lụa không dấu vẽ mặt nôn nóng, mắt đang mơ màng, khi nghe Nhân Hậu hỏi nên đành phải nói tiếp:
– Ừa, thì tao nói là anh hai Thành Đạt, người ta tên Thành Đạt mà sao mầy kêu xách mé là Hai Hường chi vậy.
Nhân Hậu phát cười to:
– Con Lụa, mầy làm sao vậy? Anh ta tên là Hai Hường thì tao kêu bằng Hai Hường chớ có gì lạ đâu. Mầy coi bộ hơi là lạ đó nghen.
Ba Lụa đỏ mặt vẽ bẻn lẻn như bị người ta bắt gặp chuyện kín:
– Thôi mà mầy. Ừa, tao có gặp ảnh, ảnh nói Sáu Bảnh với Nguyệt Nga có tình ý.
Nhân Hậu cười thành tiếng:
– Ủa, thì hai người đó có tình ý thì kệ người ta chớ, nói với tao làm gì?
Ba Lụa trợn mắt ngạc nhiên:
– Ủa, chớ hổng phải mầy với anh Sáu có…có gì sao?
Nhân Hậu vừa cười vừa lắc đầu:
– Ngộ chưa. Có gì là có gì. Thiệt tình!
– Tao thấy Sáu Bảnh hay đi câu kéo với thằng Út nhà mầy mà. Hai bên đi lại thân mật lắm mà. Mầy hổng ghen sao?
– Con nầy mầy hòi nghe kỳ cục. Ghen là ghen làm sao. Tao với anh sáu có gì đâu mà ghen chớ.
Ba Lụa chưng hửng:
– Thiệt tình. Tao lại thấy tụi bay tò te hoài trong vườn mà sao kỳ vậy?
Nhân Hậu quảy đôi thùng xuống mương nước:
– Mầy nói như thiệt à. May mà tao ở đây chớ mà đi đâu thì có phải là có chuyện um sùm rồi hông.
Gánh đôi thùng trở lên, Nhân Hậu ngó Lụa chăm chăm:
– Nè Lụa, chỗ bạn bè tao hỏi thiệt nha.
Ba Lụa nôn nóng:
– Mầy hỏi chuyện gì? Chuyện con Sáu Nguyệt Nga với Sáu Bảnh hả?
– Hông. Chuyện đó đâu ăn nhậu gì đến tao đâu. Tao hỏi chuyện của mầy kìa.
– Ừ. Nói đi.
– Mầy có tình ý với Hai Hường…Ủa, Thành Đạt hả?
Ba Lụa im lặng. Nhân Hậu nói tiếp:
– Tao nói thiệt mầy nghe mầy đừng giận.
Ba Lụa ngước lên chăm chú. Nhân Hậu tiếp:
– Tao thấy nếu mà mầy phải lòng ai thì đó là chuyện của mầy. Nhưng….chỗ bạn bè tao …mà tao có lanh chanh vô duyên quá hông?
Ba Lụa hấp tấp:
– Hông! Hổng có đâu, Nói đi! Nói đi tao nghe.
Bỗng dưng Ba Lụa chợt im bặt, mặt đỏ rần như trái cà chua. Dưng không mà tỏ bụng dạ ra ngoài. Không ai đánh mà khai. Ba Lụa ấm ớ lấp liếm chống chế:
– Mà sao mầy nói vậy? Tao có tình ý hồi nào đâu mầy biết.
Nhân Hậu ngó bạn. Nàng thương con bạn thiệt thà dại dột, dấu đầu lòi đuôi. Giọng nàng nghiêm trang:
– Cái tướng của mầy ai mà hổng biết. Thôi tao coi như nói không khống thôi nha. Nếu mầy nghe được thì nghe nghen.
Ba Lụa xìu mặt im lặng. Nhân Hậu tỉ tê:
– Tao nói thiệt. Con gái quê mùa như tụi mình hổng ăn nổi mấy cha đi buôn bán thương hồ đâu nha. Mầy liệu coi chừng. Mầy mà nghe lời đường mật… có ngày.
Ba Lụa ngơ ngác:
– Mà tao có làm gì đâu cà? Thì…thì tao mới gặp mấy lần thôi mà. Tao thấy ảnh cũng tốt.
– Mới gặp vài lần sao mầy biết người ta tốt?
– Ơ…ơ
Nhân Hậu bỏ đôi thùng đến gốc cây ngồi kề bên bạn:
– Tao hổng phải thầy bói, ông Lục gì ráo; nhưng cứ coi cái tướng của mầy…lăng xăng, nóng nước đỏ gọng đó thì tao cá mười phần mầy thua là cái chắc.
– Thua cái gì? Tao có cái gì đâu mà thua?
Nhân Hậu ôm vai bạn:
– Tao biết Lụa à. Tao nhỏ hơn mầy một tuổi. Nhưng tao có cái may là tao ở chợ hồi tao còn tí xíu. Cái cảnh…mà cái cảnh…cảnh…khó nói quá hà.
Ba Lụa ngạc nhiên như con nít:
– Cảnh gì? Mầy coi hát bóng à?
Nhân Hậu như vớ được cái phao:
– Ừa. Mầy có bao giờ coi hát bóng chưa?
– Cái đó có. Thì chiếu ở ngoài sân vận động xã đó.
– Hông. Mấy cái đó không phải. Hát bóng đây ở thành phố khác hơn. Chời ơi. Mầy ngu quá đi.
– Sao mầy chửi tao ngu?
Nhân Hậu siết chặc vai bạn:
– Í mèn đét ơi! Hổng phải… tao hông có ý chửi mày đâu. Để tao nói mầy nghe. Cái đời bây giờ là đời sống mới, tao biết trên thành thị người ta văn minh lắm rồi, mà dưới quê, dưới ruộng của tụi mình chưa theo kịp đâu. Tao nói là nói…để tao coi. A! Mầy gặp ảnh của mầy mấy bận rồi?
Ba Lụa trầm ngâm:
– Cái lần đầu là cách đây mấy tháng gì đó. Sau đó tao đi chợ là tao thấy ảnh. Anh thấy tao rồi ảnh nói thương tao. Ừ! Anh nói ảnh thương tao ảnh muốn cưới tao về trển.
– Vậy là mầy tin liền.
– Ủa. Chớ làm sao mà hổng tin. Giữa ban ngày, ảnh đó tao đây có gì đâu mà giấu chớ.
Nhân Hậu lắc đầu:
– Tao đâu có nói gì đâu. Mầy hổng biết đó thôi. Chuyện ở đời là như vầy nè “Họa hổ họa bì nan họa cốt. Tri nhân tri diện bất tri tâm.” Đó mà.
Ba Lụa trợn mắt ngó bạn:
– Hậu! Mầy nói cái gì mà họa? Anh với tao hổng hạp tuổi hay sao?
– Khổ ghê. Tao nói là nhìn con người ta bề ngoài chỉ biết được cái mặt chớ khó biết được cái tấm lòng của họ ở bên trong. Mầy làm sao mầy biết được ảnh của mầy nói thiệt?
Ba Lụa càng ngạc nhiên hơn:
– Chớ ảnh nói láo tao làm gì? Anh ăn được cái gì đâu?
– Thiệt hông? Thiệt mầy hổng có gì hông?
– Chớ gì? Nhà tao thì mầy biết rồi. Còn tao thì đâu có vòng vàng xuyến bạc, áo lụa, xà bông thơm gì đâu mà ảnh ăn tao?
Nhân Hậu lắc đầu thương bạn:
– Lúc mầy nói chuyện người ta sao mầy rành sáu câu, hỏi đâu ra đó mà sao chuyện của mầy mầy tối thui hà. Mà nè, ảnh nói chuyện với mầy mấy lần ảnh đã làm gì mầy chưa?
Ba Lụa đỏ mặt:
– Mầy hỏi kỳ cục.
Nhân Hậu mắc cười nhưng cố nghiêm trang:
– Chỗ chị em bạn gái tao nói thiệt mà. Anh đã làm gì mầy chưa?
– Cái đó thì chưa. Anh …ảnh nắm tay tao kéo tao vô người ảnh rồi ảnh đòi hun tao…mà tao chưa kịp…thì có người đi tới…
Nhân Hậu kéo tay bạn đứng lên.
– Tao với mầy đi vô nhà nói chuyện đi. Trời nắng rồi tao nghỉ.
Ba Lụa đứng lên theo Nhân Hậu vô nhà. Vừa đi cô vừa nghĩ đến Hai Hường.
Nhân Hậu vô nhà bếp, kéo bạn ngồi nơi chiếc chỏng tre ngoài chái nhà.
– Ngồi đây tao với mầy nói chuyện chơi.
Ba Lụa ngồi xuống:
– Mà Hậu nè. Mầy hỏi chi mà hỏi kỷ vậy?

Nhân Hậu nhìn thẳng vô đôi mắt của bạn nói thẳng thừng:
– Tao nói cho mâỳ nghe nghen. Tao, là tao sợ cho mầy bị người ta gạt có bầu chớ hỏi chi.
Ba Lụa giương mắt ngó Nhân Hậu chưng hửng:
– Ủa vậy sao!
Ngó cái tướng chúa Tàu nghe kèn của bạn Nhân Hậu phát mắc cười:
– Coi cái tướng của mầy tao phát mắc cười muốn chết.
Ba Lụa ngó bạn lòng cô phân vân. Theo như Hai Thành Đạt tiết lộ thì con Sáu Nguyệt Nga để ý thương Sáu Bảnh, mà thằng Sáu thì phải lòng cái con Ba Nhân Hậu mới là tréo ngoe. Hôm nay nghe Nhân Hậu nói thì ra nó với Sáu Nguyệt Nga là bạn chí cốt thân tình. Ba Lụa nhíu mày thắc mắc trong đầu; hình ảnh và câu nói của Hai Thành Đạt như còn rõ mồn một trong tai.
11.
B
a Lụa cột ghe vô chiếc cột làm chưn cầu đứng dậy ôm rỗ bước lên sàn ván, cây cầu gie ra tận ngoài song, cô ngoe ngẩy bước vô chợ. Đang đi ngon trớn bỗng có tiếng kêu:
– Em Ba! Em Ba.
Ba Lụa đi thẳng thì tiếng kêu trở thành tiếng réo gọi tên cô gấp gáp:
– Lụa ! Lụa! Em đứng lại đợi anh với.
Ba Lụa giựt mình ngó ngoái lại, từ dưới một chiếc ghe bầu lớn Hai Hường tự là Thành Đạt đang hối hả bước dọc theo be chiếc ghe bầu hướng về phía cô. Ba Lụa đứng lại đợi. Hai Hường bước lên chiếc cầu ván chưn chưa tới mà tiếng nói với giọng cười đã ngọt ngào lọt vô tai Ba Lụa:
– Chời ơi em. Em đi đâu mà đẹp quá vầy nè.
Ba Lụa mắc cở đỏ mặt:
– Ủa anh Hai.
Hai Hường xáp đến gần miệng dẽo quẹo, dẽo đeo:
– Hèn lâu không gặp em bữa nay ngó em sao mà như cô tiên nữ.
Ba Lụa làm thinh đứng yên, hai con mắt chớp chớp. Hai Hường nói liên hồi kỳ trận:
– Từ cái ngày gặp em lần trước anh đêm nhớ ngày thương, không lúc nào ngơi nghỉ. Nói có Phật Trời làm chứng chớ anh trông cho mau mau cất xong hàng để về đây gặp lại em. Ghe hàng mới ghé bến hôm qua đây chớ đâu, chưa kịp nhắn nhe em đã ra tới rồi. Thiệt là ông trời ổng không phụ kẻ có lòng.

Ba Lụa tối tăm mặt mũi không biết nói lời gì, tuy rằng Hai Hường nói oang oang giữa đường giữa sá làm cô ngượng chín người nhưng trong bụng cũng hơi hơi khoan khoái, tay cặp chiếc rỗ miệng nín thinh chưa biết nói lời gì thì Hai Hường đã tấn công tới tấp:
– À! Anh có mua cho em một chút quà, đợi lát nữa em về ngang qua anh sẽ lấy đưa em. Bây giờ em lên chợ ăn hủ tíu với anh nghe.
Ba Lụa chưa kịp nói gì Hai Hường đã hối:
– Thôi có gì lát nói tiếp bây giờ đi ăn cái đã rồi hãy tính nha.

Hai Hường kéo tuột ba Lụa vô cái quán Sinh Ký bên hông chợ kêu 2 tô hủ tíu mì xa xíu và hai ly nước ngọt:
– Em có khỏe không. Trông dạo nầy em có da có thịt, da dẻ hồng hào hơn lần trước đó nghe.
Lần nầy thì Ba Lụa đưa tay cản lại:
– Thôi anh Hai, có gì anh nói nho nhỏ chút được hông. Mèn đét ơi, ngoài đường hay trong quán anh hai cứ ong óng như vầy tui mắc cở muốn độn thổ.
Hai Hường cười nhe răng, mắt lức láo:
– Ừa thì nói nho nhỏ. Nhưng em phải để cho tui khen em chớ. Cái tướng của em mà mặc chiếc áo bà ba bông trắng nền xanh thì hết chỗ chê. Em biết hông, tui ghé qua Chợ Lớn tui phải bỏ ra một buổi đi lùng dạo đắn đo mấy lần mới mua được cho em một chiếc áo làm quà.
Ba Lụa khép nép ngồi im hai tay vân vê chéo áo:
– Anh làm chi vậy…mà anh mua như vậy hết bao nhiêu tiền.
Hai Hường cười hà hà khoái chí:
– Em nói sao mà kỳ cục. Có phải lần trước anh có hứa là lần này anh sẽ mua quà về cho em không? Ừ, đó. Em thấy không…mà thiệt ra là cái tấm lòng của anh chớ tiền bạc mà có nghĩa chi.
– Anh làm như vậy tui hổng biết nói làm sao.
– Nói làm sao là nói làm sao? Em đừng xưng tui là anh thấy mát trong lòng rồi. Anh đâu có nói gì đâu nè.

Ba Lụa ngó mông ra chợ, nắng đã lên sáng rực cả khu chợ ồn ào kẻ mua người bán, lòng của ba Lụa còn rực rỡ hơn cái nắng bên ngoài. Trái tim Ba Lụa đập thình thịch, cô cảm thấy xao xuyến trong lòng trước tấm thịnh tình của Hai Hường mặc dù hắn ăn nói oang oang rổn rản lời nói thương nhớ cô giữa đường giữa chợ. Ba Lụa len lén ngó hai Hường như muốn coi xem hắn có thiệt lòng với cô hay không. Cô nhớ mấy đứa bạn cùng trang lứa nói “Cái tụi đờn ông con trai mà cái miệng dẽo đeo là tụi nó ba xạo để lấy lòng mình đó.” Ba Lụa chưa bao giờ nghe ai nói với cô những lời ngọt ngào như thế, và Ba Lụa cũng chưa bao giờ biết thế nào là “cái miệng dẽo đeo” từ ngày biết Hai Hường thì bao giờ hắn cũng ngọt ngào làm cho cô mát ruột. Lời nói của hắn không cụt ngủn khô rang khô rốc như của đám trai trong xóm. Ba Lụa không biết trong lòng Hai Hường đang nghĩ gì nhung cô nghĩ cô cũng chẳng có gì mất mát mà phải lo. Tiền đi chợ thì đâu có bao nhiêu mà Ba Lụa cũng đã dấu kỷ trong tuí nhỏ may ở lưng quần và còn được gài chặt bằng một cây kim tây kỷ lưởng rồi. Còn coi cái mặt Hai Hường cũng sáng sủa, áo quần coi bộ tươm tất chắc không đến nổi nào. Ba Lụa đang loay hoai chưa biết ăn nói làm sao thì phổ ky đã bưng ra hai tô mì nóng hổi bốc khói đăt lên bàn. Hai Hưòng đẩy một tô đến trước Ba Lụa, tay kia đưa đôi đủa săn đón:
– Ăn đi em. Ăn nóng nó mới ngon. Được có dịp anh đưa em đi Sài Gòn ăn tô mì mới đã. Hủ tíu hay mì ở Sài Gòn cũng ngon. Cọng mì nó láng o láng mướt như có mỡ, nước lèo thì ngọt lừ ngọt lịm mà thơm lừng. Thôi ăn đi, ăn đi.
Ba Lụa cầm đủa gắp mì đút vô miệng, nhưng lòng nghĩ ngợi đâu đâu.
“Tại sao ảnh lại tốt với mình như vầy?” Hỏi thì hỏi vậy mà câu trả lời thì chưa bao giờ có.

Ăn xong Ba Lụa xin phép đi chợ mua đồ, Hai Hường không cầm chưn và cũng không xin đi theo như lần trước. Hắn ngồi im một chỗ khi Ba Lụa từ giả.
– Ừ, có chuyện em cứ việc đi. Mà nè, em dự tính đi bao lâu. Lát nữa anh đợi em ở chỗ ghe đó nghe, em nhớ qua đó kêu anh một tiếng để anh còn gởi em chiếc áo. Nhớ đó nghe.
– Dạ tui nhớ anh hai. Lát tui về sẽ ghé qua chỗ của anh.
Hai Hường cười:
– Cái tiếng “tui” đó bán bao nhiêu anh mua cho.
Ba Lụa cười ngỏn ngoẻn không trả lời quay lưng bước ra cửa mang theo trong lòng mùa xuân phơi phới với hoa thơm.

Từ chợ đi ra, khi đi ngang chiếc cầu ván ba Lụa đang lóng ngóng tìm chiếc ghe chưa kịp định hướng đã có tiếng kêu:
– Chỗ nầy nè.
Ba Lụa nhìn ra Hai Hường đang đứng vẫy vẫy cách chỗ cô chừng ba chiếc ghe. Ba Lụa bước xuống ghe, Hai Hường đưa tay nắm lấy đỡ.
– Có ai dưới đó hông?
Hai Hường cười thiệt tươi:
– Không có ai hết, hàng bốc dở xong từ khuya.
– Ông chủ ghe có nói gì hông?
– Ông lên bờ rồi hổng có sao đâu.
– Xuống dưới đó có được hông?
– Ai cấm em đâu mà hổng được.
Ba Lụa dừng chân nơi đầu mũi.
– Nghe lời anh …tui…em xuống đây, nhưng em phải về gấp không đứng lâu được.
– Thì bước vô trong khoang chơi chút có được không? Đi đâu mà sớm vậy?
Ba Lụa vẫn dứng im:
– Em phải về cho kịp con nước.
– Trời ơi, anh là dân thương hồ mà em nói nghe sao không thông chút nào. Con nước đang đứng cầu vài tiếng nữa nó mới lên.
Vừa nói hắn vừa nắm tay Ba Lụa kéo vô trong khoang thuyền, Ba Lụa dùng dằng chưa dứt khoát thì đã thấy mình đứng ở bên trong khoang.
– Ngồi xuống đây chơi chút đã, anh có chuyện nầy muốn nói cho em nghe.
Ba Lụa ngập ngừng ngó quanh:
– Thôi được rồi. Em đứng được mà.
– Thì ngồi xuống cái đã. Ngồi đây nè, ngồi xuống đi. Coi kìa, em làm gì vậy.
Cực chẳng đã, Ba Lụa ghé đít ngồi xuống. Hai Hường cúi xuống bò vô khoang trong:
– Em ngồi đó anh đi lấy chiếc áo cho em nghe.
Có tiếng lục đục và Hai Hường trở ra, trên tay có có cái gói bằng giấy nhựt trình:
– Đây nè. Em mở gói ra coi thử đi. Đẹp lắm.
Ba Lụa đưa hai tay cầm gói giấy chưa kịp nói gì Hai Hường đã xé toạt ra. Một tấm vải màu xanh lục có điểm hoa trắng hiện ra trước mắt, tay ba Lụa vân vê xấp vải miệng lí nhí nói lời cảm ơn, Hai Hường gạt đi.
– Ơn với nghĩa gì đâu, chỉ là chút quà mọn thôi mà.
Ba Lụa đứng lên:
– Em cảm ơn anh Hai. Thôi bây giờ em về.
Hai Hường nắm tay kéo xuống:
– Khoan, về gì sớm vậy. Anh chưa nói hết chuyện anh muốn nói cho em nghe mà.
Ba Lụa rụt tay lại bước lui:
– Thôi để bữa khác đi.
Hai Hường lên tiếng có nhắc đến tên một người làm Ba Lụa khựng lại ngồi yên:
– Em biết con Ba Hậu không?
– Biết. Mà sao, có chuyện gì vậy anh?
– Thằng tình nhân của nó là Sáu Bảnh phải hông?
Ba Lụa càng ngạc nhiên:
– Ủa, hai người nầy có chuyện gì đây. Mà anh quen hai đứa tụi nó hay sao?
Hai Hường cười ngúc ngắc cái đầu:
– Có gì đâu mà hổng quen, ông xã ông huyện gì đó mà to lớn lắm đâu.
Ba Lụa chưa kịp hỏi chuyên gì Hai Hường đã tuôn ra một mạch:
– Có gì đâu. Thằng Sáu có một lần lên đây ăn nhậu với bạn của y và anh có mặt trong đám đó rồi quen biết nhau vậy thôi. Còn cái chuyện con Ba Hậu là do con Sáu Nguyệt Nga nói.
Ba Lụa ngó Hai Hường sửng sốt:
– Ủa, anh quen với Sáu Nguyệt Nga nữa sao?
Hai Hường cười lớn hơn:
– Coi kìa. Ngó cái mặt em kìa, có gì đâu mà ngạc nhiên chớ? Có chuyện nầy em mới đáng nên ngạc nhiên nè.
Hai Hường ngừng giữa chừng, Ba Lụa đang mở lớn đôi mắt chờ nghe.
– Con Sáu Nguyệt Nga thương thằng Sáu Bảnh.
– Hả! Vậy sao? Mà sao chuyện gì anh cũng biết?
Hai Hường móc gói thuốc châm một điếu phà khói đầy khoang:
– Vậy mới tài chớ.
– Mà anh nói mấy chuyện đó với tui làm chi?
– Lại xưng tui nữa rồi kìa. Tui…tui hoài à.
Ba Lụa lí nhí:
– Anh Hai bỏ qua cho, tại em quen miệng mà.
– Hổng có chi, từ rày về sau đừng xưng tui là được rồi. À! Còn anh nói cho em nghe làm gì hả? Ừ, thì nói nghe chơi cho biết…mà thôi, bỏ qua chuyện đó đi. Anh còn biết nhiều chuyện hấp dẫn hơn nữa kìa, nhưng không nên làm phí thì giờ quí báu của chúng mình. Nói chuyện của mình đi em nhé.

Hai Hường nói vừa dứt lời là hắn đã ngồi sát vô bên Ba Lụa hồi nào cô không kịp né. Một tay hắn ta cầm tay Lụa, tay kia choàng qua vai. Hai Hường hành động mau quá Ba Lụa chưa kịp phản ứng, y đã ghé tai nói nhỏ:
– Cho anh hun một miếng đi nhé.
– Í….anh Hai…hổng được đâu. Lỡ có ai thấy được thì chết.
– Chết đâu mà chết. Có ai đâu nè. Cho anh hun một miếng đi mà.
Vừa nói hắn vừa kéo sát Ba Lụa vô mình, mặt hắn ghé sát vô má chực hôn, tay kia rờ rờ bóp bóp lên ngực cô. Một tiếng “bực” của hàng nút bóp bị tuột, Ba Lụa hoảng hồn giẩy nẩy đẩy ra:
– Anh Hai nầy kỳ cục ghê. Tui…tui…
Hai Hường ghì chặt, tay hắn lần dưới làn vải rờ vô bộ ngực trần, tay xoa nhè nhẹ mơn trớn, môi hắn áp sát vô má, Ba Lụa hoảng hồn, cô ú ớ…chơi vơi chới với; bàn tay thô nhám vuốt ve trên ngực, Ba Lụa bắt rùng mình…hai gò má nóng hừng hực như đang giang nắng ban trưa. Cảm giác lạ vừa nhột nhột vừa đê mê…Ba Lụa điếng hồn. Có tiếng người ho trên bến, giựt mình cô vùng đạp mạnh… Hai Hường bỏ tay ra, cằn nhằn:
– Em làm gì mà dữ vậy. Hổng cho thì thôi chớ có gì đâu mà la.
Ba Lụa ngồi nhích ra xa, chống tay đứng lên. Hai Hường kéo lại nhì nhằng:
– Em cho anh xin lỗi. Tại vì em đẹp quá nên anh cầm lòng hổng đậu.
Ba Lụa ngó xuống ngực mình, kéo lại vạt áo hở hang phơi chiếc ngực trần trắng muốt, gài lại hàng nút áo vừa thở dốc:
– Thiệt tình! Kỳ cục ghê.
Hai Hường xuống nước:
– Thôi mà. Bỏ qua cho anh đi nghe, anh thề hứa có bà làm chứng hổng có lần sau đâu.
Ba Lụa nghe xiu lòng:
– Anh sao mà kỳ ghê. Lỡ có ai thấy thì có phải chết hông.
– Đâu có ai đâu.
Hai Hường miệng nói nhưng hai mắt ngó trừng trừng vô bộ ngực no tròn đang căng phồng dưới làn vải thèm thuồng. Hồi nãy tay hắn bóp vô êm ái như sờ tấm mền bông và ấm như hơ trên lửa. Bất giác hắn ngó xuống bàn tay tiếc rẻ.
Ba Lụa đứng dậy chào và quay lưng bước ra cửa:
– Thôi để cho tui về nghen.
Hai Hường xoa tay tiếc nuối:
– Anh xin em tha thứ cho anh nha.
– Tui hổng biết, nhưng anh kỳ quá đi.
– Thôi mà. Cho anh xin
Ba Lụa bước qua cầu ván, Hai Hường đứng nhìn theo tấm lưng nhỏ chiếc eo thon liếm mép.
12.
N
ăm Hương dậy thiệt sớm, ông ra vườn hái một rỗ trái cây đem vô chuẩn bị một mâm để lên bàn thờ. Bà Năm cũng dậy sớm nấu cơm và kêu sắp nhỏ ra giàn rớ ngoài sông giở rớ cá, con gái làm gà vịt chuẩn bị mâm cơm, hôm nay có kỵ cơm. Bà Năm vừa làm vừa réo thằng Út giữa:
– Út ơi! Út à! Mầy ra cho tao nhờ chút coi, con trai gì mà làm biếng quá trời à. Thằng Tám, con Sáu…mấy đứa đâu rồi?
Thằng Út giữa đang năm lơ mơ lăn lộn trên tấm phản nghe mẹ nó réo ngoài sân nó càm ràm trong miệng:
– Anh Tám sao má hổng kêu. Cái gì cũng Út hông à.
Nó mở mắt ngó qua bên cạnh anh Tám nó không còn đó nữa, nó lại lầu bầu:
– Chà giỏi dữ à nghen. Mới sáng sớm đã chạy đâu mất tiêu mất biến rồi.
Thằng Út có cái tật hay lầu bầu, nó cứ nghĩ như in trong đầu là anh Tám nó lớn bộn mà chưa biết lo. Phần thằng Út bị mẹ nó hay kêu hay réo vì bà thương nó nhứt nhà. Ngày nó mới đẻ ra là ngày mẹ nó phải ôm con mới vừa một tháng tuổi chạy loạn. Bà Năm hay nựng nó “Mầy hổng phải là thằng con cầu tự mà sao mày hành tao quá cở. Mới đẻ mầy ra đã chạy đôn chạy đáo như vầy.” Nó là đứa con thứ chín ở trong nhà, là thằng con bà không muốn có. Thằng Út giữa sinh ở buội chuối sau hè, mới sinh ra đã thiếu tháng èo uột khó nuôi. Cuộc sống ngày càng khó khăn, ông Năm nhà bà bỏ chợ về ruộng và một tay bà nách gần chục đứa con, con ba Nhân Hậu mới 8 tuổi vừa đi học vừa nách em cho mẹ. Thằng Út hay để ý và nhớ dai cho nên nó cách anh tám nó có một tuổi mà nó đã lanh hơn anh Tám nó nhiều. Trong khi thằng Tám lo chạy nhông nhông ngoài ruộng đá bánh lá chuối thì nó đã biết giở vó bắt cá, nó hay quấn quít bên mẹ nó hỏi đủ thứ chuyện trẻ con làm cho bà phát bực mình. Con ba Nhân Hậu ẵm nó nhiều nhứt nên hai chị em thương nhau và gần gủi nhau nhiều hơn.
Thằng Út leo xuống phản chạy ra hè:
– Má kêu tui hả?
Bà Năm ngước mặt lên, ngưng tay vuốt mái tóc lòa xòa trưóc trán:
– Ừa, Út à. Mầy ra giàn rớ coi có con cá nào hông mậy.
Thằng Út dụi mắt:
– Ủa anh Tám ảnh chạy ra ngoải rồi mà.
– Có đâu nà. In tuồng như nó còn ngủ ở trỏng.
Thằng Út không nói thêm lời nào, nó bước lại chum nước mưa sau chái nhà vục một gáo nưóc súc miệng nghe sùng sục, phun cái teọt xuống đất; lại nghiêng gáo nước đổ ra tay xoa lên mặt mấy lần. Tình táo, nó ngó mẹ nó:
– Ủa! Bữa nay nhà mình có đám giỗ hả má.
Bà Năm Hương nhìn con:
– Ừa. Chị ba mầy đâu?
Út giữa nói đại:
– Chỉ còn ngủ.
Bà Năm la um sùm:
– Mèn đét thiên địa quỷ thần ơi! Giờ mày con gái con lứa mà còn ngủ chỏng gọng?
Nhân Hậu cười lỏn lẻn phía sau lưng thằng Út, giơ tay kí đầu nó:
– Caí thằng nầy nói bậy hông à. Ngủ đâu mà ngủ.
Nhân Hậu bận cái áo bà ba màu xanh da trời, mặt mày tươi rói:
– Tao đã đi hết ba đồng bày đổi rồi. Làm biết bao nhiêu là công chuyện rồi chớ có đâu như mầy với thằng Tám bây giờ còn chỏng gọng trên phản đâu à.
Thằng Út xoa đầu:
– Thì tui có biết đâu cà. Hồi tối tui nghe chị rì rầm nói chuyện với ai đó tới khuya tui tưởng chị còn nướng.
Nhân Hậu cười:
– Mầy làm như tao nói chuyện với trai hổng bằng.
Thằng Út nháy mắt:
– Ai biết đâu đó.
Bà Năm Hương quơ tay đuổi con gà thò mỏ mổ rổ rau:
– Hậu à, mầy coi ba mầy lau bàn thờ chưa? Mầy ra ngoài cắt cho tao mấy bình bông phượng để ở bàn ông Thiên dùm coi.
Có tiếng ông Năm Hương đàng xa:
– Xong rồi bà ơi. Tui lo mọi chuyện hết rồi.
Ông Năm Hưong từ ngoài vườn bước ra. Hôm nay ông bận bộ bà ba trắng, tóc lấm tấm muối tiêu ra vẻ tiên phong đạo cốt lắm. Ông bước lại gần bà Năm.
– Bữa nay mình kỵ cơm thôi, bà làm ít ít thôi, tui cũng hổng có mời ai đông đâu mà bà réo hết đứa nầy đến đúa nọ om sòm làm như nhà có đám cưới.
Bà Năm Hương ngó chồng:
– Ủa, ít nhiều gì thì cũng phải cho tươm tất chớ. Con cái một đống, một bầy như bầy gà mà hổng lo cắt đăt cho tụi nó thì làm sao nó biết mà nó làm. Còn con Hậu nữa, cũng lớn bộn rồi đó ông coi chừng.
Năm Hương cười thoải mái:
– Coi chừng? Bà biểu tui coi chừng là coi chừng làm sao. Con gái là con gái của bà. Con hư tại mẹ cháu hư tại bà tui biết đường nào mà coi chừng đây chớ.
Nhân Hậu la lớn:
– Mèn đét ơi! Ba má nói cái gì vậy chớ? Khi không sao lại có con ở trỏng? Con hổng hiểu gì ráo.
Thằng Út được dịp trả thù cái kí đầu của chị nó:
– Chị mà hổng biết thì ai biết? Chị muốn tui kể cho nghe hông?
Nhân Hậu dứ dứ tay lên đầu em:
– Con nít con nôi, mầy biết cái gì mà lanh chanh. Kể gì? Mầy nói gì với ba má hả thằng quỷ sứ?
Thằng Út nhảy tránh ra xa cười hí hí:
– Tui hổng nói ba má cũng biết hết trơn hết trọi rồi. Chị muốn tui mét anh sáu hông? Dữ như bà chằng.
Nhân Hậu chồm tới kí đầu Út, nó đã kịp nhảy phóc ra xa:
– Mét? Mắc mớ gì đến ảnh mà mầy đòi mét?
Thằng Út cười to hơn:
– Đó! Đó! Nhiêu đó đủ biết rồi còn chối gì nữa.
– Mầy biết tay tao nha Út. Thằng quỷ.
Bà Năm Hương ngó theo hai đứa con. Bà la Nhân Hậu:
– Con ba mầy rủa em mầy quá vậy? Chị em bay biết chuyện gì mà giấu tao đó?
Ông Năm Hương xen vô:
– Úi, bà hơi đâu mà lo. Chuyện con nít mà. Hậu à, sáng nay mầy đi đâu mà chưng dọn áo cánh bà ba láng o láng mướt vậy?
Nhân Hậu nhìn cha:
– Dạ đâu có đi đâu.
Ông Năm Hương nhìn con gái rồi day qua bà Năm:
– Bà coi đó. Chèn ơi, con gái bà lớn bộn rồi đó nghen, bà nhắm coi làng mình có đám nào ngắm nghe chưa? Chà! Chà! Tui cũng vô tâm vô tình thiệt. Nó sống với mình mà nó lớn hồi nào tui hổng hay, tui cứ nghĩ nó là con ba Hậu đuổi chim lúa hồi nào đến giờ. Bà nói cũng có phần đúng.
Nhân Hậu mắc cở đỏ mặt. Cô không liệu được là ba má đi nói chuyện của cô ngay trước mặt cô như vậy. Là con gái mới lớn Nhân Hậu có những tâm tình bí ẩn, những suy nghĩ về một ý trung nhân, một mẫu người lý tưởng làm chồng. Mặc dù có theo học trên tỉnh, Nhân Hậu có biết phần nào chuyện tự do luyến ái chuyện tình yêu; dù sao cô vẫn còn là cô gái quê sống nơi đồng ruộng quen nếp sinh hoạt cày thuê, gặt mướn và những điều chất phát thiệt thà, đàn ông con trai là tá điền ăn nói văng mạng, nhậu nhẹt tung hoành, chuyện gái trai trong làng đối với nhau mộc mạc chân thành, hò hát cợt đùa nhưng chưa bao giờ nghĩ chuyện vợ chồng. Cái khó của Nhân Hậu là hàng ngày vẫn nhìn thấy, vẫn nghe trai gái làng yêu đương hò hẹn, chuyện ăn nằm. Năm Hương tuy rằng nửa quê nửa tỉnh thành nhưng có mực thước.

One thought on “Cánh Đồng Nước Nổi (2)

Leave a Reply