home Truyện Dài Cánh Đồng Nước Nổi (13)

Cánh Đồng Nước Nổi (13)

Nguyệt Nga chưa hết thắc mắc, cái trí tò mò của con người đã xuí giục nàng chăm chú ngó người đàn bà, và đôi vành lỗ tai ráng hết sức nhóng lên nghe, với hy vọng hai người sẽ nói chuyện,. Và từ đó nàng sẽ biết bà ta là ai, liên hệ gì đến người đàn ông đứng sau lưng bà ta.
Người đời thường nói “Oan gia gặp đường chật” phải mà. Đúng là nàng và ông ta là một cặp oan gia, mới gặp nhau bữa trước, bữa sau đã chạm mặt với nhau rồi. Con Linda nói Đô Thành đất rộng người đông, đi ra ngoài đường không ai để ý đến ai, mà cũng chẳng bao giờ sợ gặp người quen. Hàng vạn người qua lại và trong cái đám đông hổn độn ngược xuôi ấy, có ai đâu hưỡn để nhìn thấy ai. “Chà, con Linda nói bậy thiệt mà”
Nguyệt Nga phân vân chưa biết nên chào ông ta hay làm lơ luôn cho yên chuyện. Mà thiệt ra nàng đâu có gì với ông ta mà hòng sợ chớ hả! Bà ta là ai đi nữa thì cũng đâu có “ăn nhậu” gì tới nàng chớ! Vậy mà tại sao nàng cứ đánh lô tô trong bụng, làm như sợ người ta đến bắt ghen hổng bằng. Trời ơi là trời, NguyệtNga ơi là NguyệtNga….mầy làm cái gì vậy hả.? Những ý nghĩ lộn xộn như vậy chạy qua xẹt lại trong đầu nàng, càng lúc càng làm cho NguyệtNga bị nhức đầu.
Đưa bàn tay lên bóp trán, giựt gió mấy cái ở giữa cặp chân mày, vẫn không hết đau. Nàng úp cái nón lá lên đầu, mặt hơi nghiêng về bên trong, tay quờ quạng mò mò tìm cái ấm, nước.
Uống tiếp cho đến khi không còn một giọt nước nào ở trong ly, Nguyệt Nga mới thở ra cái phì. Người đàn bà đứng lên trả tiền. Bà ta giơ bàn tay đầy những móng nhọn đỏ chót đếm những tờ giấy bạc còn mới toanh, nghe xoành xoạch, xoàn xoạt. Người đàn ông bước tơi sau lưng bà ta. Ông ta lên tiếng:
– Để đó anh trả cho. Coi kìa….bà hàng gà ơi, để tôi tính tiền.
Vừa nói tay ông ta vừa móc chiếc bóp nhỏ ở túi quần sau ra và nhanh nhẹn móc ra mấy tờ giấy $500 đưa cho bà Năm. Không cần nhìn bà Năm, người đàn ông quay lui ngó người đàn bà có móng đỏ. Ông ta âu yếm:
– Cặp gà đó em tính làm gì chiều nay? Anh mời mấy thằng bạn lại nhà chơi nhé? Em bằng lòng không?
Người đàn bà nhoẻn một nụ cười, vành môi trên như cong lên. Bà ta nhõng nhẻo:
– Được mà. Tụi mình sẽ ăn món gà rô-ti và cà ri gà bánh mì Tây. Còn bộ lòng có thể làm được món bún Tàu xào với kim châm, nấm mèo. Em sẽ ghé qua bên kia đường mua mấy trái dừa và bịch nước cốt.

Hai người đã đi, tuy không hỏi nhưng Nguyệt Nga đã đoán được sự quan hệ giữa hai người đàn ông và đàn bà. Nàng mĩm cười một mình. Nụ cười vô nghĩa. Bất chợt, nàng ngạc nhiên với chính nàng. Tại sao nàng quan tấm đến ông Chương như vậy. Người đàn bà có đôi bàn tay chải chuốt và những cái móng đỏ đó là gì của ông ta thì đâu có dính dáng gì đến nàng? Tại sao nàng quá quan tâm, để ý? Nàng vì tò mò hay vì một lý do thầm kín nào khác? Nguyệt Nga cười một một với những ý nghĩ thầm kín trong lòng. Bà Năm đang rảnh tay, bà vốc nước bằng hai bàn tay và vỗ lên mặt, nước chảy ròng ròng xuống cằm, bà đưa bàn tay lên xoa khắp mặt, bà nghiêng chiếc canh nhựa đựng nước ra chiếc ly bằng thủy tinh. Nhậm nước đầy trong miệng, bà súc sào sạo và phun ra giữa đường đi, bà chừa lại một ngụm nước và nuốt ực xuống cổ.

Day qua Nguyệt Nga ngồi lơ đảng bên cạnh, bà nói:
– Mầy biết cặp vợ chồng vừa rồi đó không?
Nguyệt Nga quay mặt lại, trả lời:
– Dạ hông.
Nàng đang định nói “Mới gặp lần đầu” nhưng nàng ngưng kịp. Đối với người đàn bà thì nàng mới gặp lần đầu thiệt, nhưng còn người đàn ông thì sao. Tội gì phải nói láo những chuyện không đáng để mắc quai. Bà Năm cười nói:
– Ừ, tao cũng đoản hậu. Mầy mới ra ngồi đây lần đầu mà làm sao biết họ đựơc chớ.
Bà ngừng nói, uống nước, và nhảy qua chuyện khác:
– Trời bữa nay trở hay sao mà nó nóng quá sức hả Sáu?
Nguyệt Nga dạ nhịp cầm chừng:
– Dạ.
– Ừ, trời Sài Gòn nó vậy đó mầy. Đang khi không trời nắng chang chang, ổng phát đổ xuống một trận mưa như cầm chỉnh mà đổ, rồi ổng ngưng ngang. Nắng vẫn cứ chói chang, mà mưa thì như trút nước. Kỳ cục như vậy đó.
Chuyện nầy thì Nguyệt Nga có nghe kể qua rồi. Nhưng cái lối nói nói chuyện của bà Năm gà mới lạ. Bà bắt nhịp:
– Bởi cái tiết trời nó tréo ngheo trở chứng như vậy cho nên con người Sài Gòn nó cũng bị ảnh hưởng lây cái dị hợm kỳ cục hổng đâu bằng.
– Sao vậy dì Năm?
Bà Năm cười:
– Thì có gì đâu. Tao nói hổng phải nói nha….như cái con cháu nhà tao đó. Nó là con gái con lứa, tuy không là bà hoàng bà chúa, lá ngọc cành vàng gì đó cho cam; nhưng, nó cũng có ăn có học đàng hoàng. Mới có 22 cái tuổi đầu, ba nó là anh tao, nó là con út, ổng cưng nó như vàng như ngọc. Năm ngoái nghỉ hè, ổng cho nó theo ổng đi ra ngoài miền Trung chơi. Chẳng là ổng là tài xế xe vận tải, xe ba-lua đó. Là chủ năm ba chiếc gì đó, ổng mới cho nó đi theo ra Trung cho biết. Rồi mầy biết sao hông?
Nguyệt Nga trả lời gọn lỏn:
– Hông!
Bà Năm cười:
– Làm sao mà mầy biết được.
Bà Năm có cái lối nói chuyện đâm hơi như vậy đó, nàng im lặng lắng tai nghe. Bà tiếp:
– Nó ra ngoài …cái tỉnh nào đó hổng biết…nó phát cái chứng gì mà nó mê một thằng ở ngoài đó. Úi…cha mẹ ơi, trời đất quỷ thần ơi…ba nó nổi cơn nộ khí xung thiên, tam bành lục tặc …ổng xáng cho nó mấy bạt tay rồi lôi cổ nó về Sài Gòn. Rồi mầy biết sao hông?
Thấy Nguyệt Nga ngồì im đưa mắt ngó và cười, bà Năm tiếp:
– Ông anh tao vừa mới lôi nó ra xe, để đứng đó bước vô nhà là nó vọt xuống liền. Nó chạy trốn mất. Ông anh tao đâu có phải tay vừa…dân chạy xe hàng đường xa mà mậy. Rồi mầy biết sao hông?
Nguyệt Nga nhếch mép cười mĩm chi. Bà Năm cười theo:
– Lâu lâu tao phải hỏi như vậy để cho mầy chú ý, tao coi thử mầy có nghe không vậy mà. Thôi để tao tiếp. Nó vọt xuống xe chạy một mạch tuốt vào trong nhà sau nó trốn, ông anh tao lục lọi cả một nửa ngày mà nó trốn đâu kỷ quá ổng tìm hoài hông ra. Đến giờ phải lên đường ổng bỏ nó lại. Nhưng ổng nhắn lạivới nó như vầy: “Mầycó giỏi thì mầy đi luôn đi. Còn thằng con trai nào dụ nó, coi chừngtao…Mai mốt tao trở ra đây thì tụi bay biết tay tao.
Oång đi đâu một tuần lễ, con nhỏ nó ở ngoài đó với thằng bồ nó…mà nghe đâu thằng bồ nó đang đi lính làm cái chức quan gì đó…Nó mê thằng nhỏ mà thằng nhỏ thì lại sợ cái lời hăm dọa của ông “già vợ” tương lai. Thằng nhỏ năn nỉ con nhỏ cái gì cũng tính được hết trơn, cứ theo ổng về Sài Gòn đi rồi ba má nó đi vô cưới hỏi đàng hoàng…Con nhỏ đâu có nghe, nó nói là ba mẹ thằng bồ nó hổng có thích con gái Sài Gòn. Nó nói nó cương quyết mang cái bầu với thằng bồ nó rồi nó mới chịu về Sài Gòn. Rồi mầy biết sao hông?

Bà vừa buộc miệng hỏi là bà nhận ra liền. Bà cười toe toắt nói tiếp:
– Thì nó ở riệt ngoài đó, nó đeo cứng cái thằng con trai đó…riết rồi cuối cùng hai bên cha mẹ phải chịu thua nó…mầy thấy có gan chưa.
– Dạ!
Nguyệt Nga dạ nhịp từ nảy giờ. Bây giờ nàng mới hỏi:
– Mà về sau nầy hai người có hạnh phúc hông dì?
– Có chớ! Cũng tại cái duyên cái nợ, ông trời ổng thương.
Nguyệt Nga gật đầu. Bà Năm kể tiếp:
– Đó, còn cái ông hồi nảy mầy biết hông? Ổng là chồng nhỏ con mẹ đó đó …
Nguyệt Nga la hoảng:
– Cái gì? Dì nói chơi ha gì?
Bà Năm cười hết cở, cái miệng bà sắp đụng mang tai. Bà cười một hồi bà mới nín. Và nói:
– Thiệt. Mấy mới nghe lần đầu hả?
– Dạ. Vợ nhỏ thì có nghe, chớ chồng nhỏ thí chưa nghe qua bao giờ. Đây là thứ nhứt.
Bà Năm sửa lại thế ngồi. Bà nằm dưạ ra chiếc ghế phô-tơi đan bằng những cộng ny-lon dẹp đủ màu sắc.
– Tao không nói thêm đâu. Bà đó có hai chồng. Quan trọng là cái anh đàn ông đó cà. Hổng biết tại sao màổng chịu.
Nguyệt Nga nghe chuyện lạ, nàng chúi sát cái đầu gần đụng cái ghế bà Năm đang nằm. Nàng nồng nhiệt hỏi:
– Đâu! Đâu! Dì năm kể con nghe chút coi./
– Ừ,
Ba øNăm làm như được gải đúng chỗ ngứa, đôi mát bà sáng rực lên, làm như bà thích thu ù lắm vậy. Ba øtằng hắng:
– Thằng cha đàn ông đo ù tên Chương.
Mặc dù đã biết trước nhưng nàng không khỏi giựt mình khi nghe bà Năm xác định đó chính là người đàn ông hào hoa mà nàng mới gặp ngày hôm qua.
– Ông Chương, nghe đâu cũng là một tay yên hùng chọc trời khuấy nước, tay đó có bao nhiêu là vợ và hàng lố bồ bịch, đào tơ gái bao…nói chung là thằng cha đó cũng hổng vừa vỏi gì. Cái ngộ ở đây là , người ta nói sao thằng chả cao tay ấn như vậy mà chả lại chịu lép trước con mẻ. Người thì nói thằng chả đào mõ con mẻ để lấy tiền nuôi gái, người thì đồn con mẻ có thỉnh bùa ở bên Xiêm về…ớ, mà nói gì thì nói, con đó hai chồng mà in tuồng như là hai thằng chồng không biết mặt nhau hay sao đó. Còn con mụ đó hơn 30 rồi chớ ít ỏi gì…mà sao hay quá con mẻ giữ gìn nước da nước thịt nó sáng trưng như bộ tam sênh chà bóng.

Bà Năm thao thao bất tuyệt về cặp vợ chồng của ông Chương. Nguyệt Nga lơ đểnh nghe, không còn náo nức như phút ban đầu. Nàng nghẹo đầu qua một bên, dựa lưng sát miếng ván dựng đứng bên câycột đèn đường, khép chặt đôi mi, nàng cố dỗ giấc ngủ trưa ngắn ngủi. Thở ra một hơi dài…Nguyệt Nga lẩm bẩm: “Vậy mà đi theo tán tỉnh ve vản con gái con lứa như là trai tân…cuộc đời thiệt là khó mà lường.”
Nguyệt Nga đã ngủ lúc nào không hay, bà Năm gà nói mặïc bà Năm, nàng ngủ và bà không biết. Giọng bà lên bổng xuống trầm như người đang diễn xuất, đến một lớp cụp lạc éo le, bà lập lại điệp khúc:
– Rồi mầy biết sao hông?
Bà hỏi không nghe tiếng dạ nhịp hưởng ứng, bà day lưng qua nhìn. Bà la lên:
– Í mèn ơi, cái con nầy ngộ ghê chưa. Đang tới cái hồi hấp dẫn sao mầy ngáy pho pho hồi nào vậy? Sáu à, mầy ngủ hay còn thức đó.

Hỏi mấy bận không nghe tiếng trả lời, bà Năm chán nản lấy cái nón úp lên mặt, ngả lưng ra chiếc phô-tơi lim dim cặp mắt. Tiếng của bà phát ra từ dưới cái nón úp mặt.
– Con Sáu coi vậy mà dễ ngủ quá mạng. Mới đó mà đã mê mang tàng tịch rồi, giả như có ai khiêng nó đi nó cũng hổng hay.
Giọng bà Năm càng lúc càng nhỏ dần, lào khào và im bặt.

Buổi trưa Sài Gòn nóng hừng hực, mặt đường nhựa như có hơi nước bốc lên, người đi vội vã, nhịp độ bán buôn trên các hàng quán ở vỉa hè dường như bất động. Người nào người nấy uể oải, che tay lên miệng ngáp dài, chỉ còn quán cơm bình dân là nhộn nhịp. Xích lô, xe lôi, người bán dạo ngồi chật kín trên mấy chiếc ghế đẩu nhỏ, thấp lè tè, vây quanh chiếc bàn kê gần sát lề đường. Mỗi người một dĩa cơm và một ly trà đá. Họ ăn ngon lành mặc cho xe cộ qua lại ồn ào, bụi bặm bốc lên ở sát ngay bên cạnh chiếc bàn. Người phụ nữ bán cơm, tay lia lịa lấy dĩa,, nồi cơm thì lúc nào cũng mở sẵn chiếc nắp nồi, tay chị múc cơm, chiếc lưng đẫm mồ hôi day qua day lại liên tục như thể trên hông chị có gắn chiếc bản lề. Đứa con gái nhỏ phụ giúp cũng bận rộn không kém, tay cầm ly múc nước đá trong chiếc thùng bằng móp, đá vừa đầy ly là nó nghiêng chiếc bình bằng thiếc to, đổ đầy một chất nước màu vàng nhạt, miệng nó tía lia: Trà đá, trà đá đây.
Những người khách của quán cơm bình dân bình thản gác càng chiếc xích lô sát vô tận trong lề, hoặc đặt cái gánh, cái giỏ dưới chân họ và bình thản xúc cơm ăn, bưng ly nước trà đá uống ừng ực, hoặc súc miệng rồi phun vải ra mặt đường. Mọi sựxảy ra chung quanh dường như không ảnh hưởng gì đến họ.

Có tiếng động, Nguyệt Nga choàng dậy, mở mắt ngơ ngác ngó quanh. Nàng cất tiếng kêu:
– Dì Năm! Có khách.
Bà Năm ngủ, nhưng đôi tai bà rất thính, vừa nghe tiếng động lục cục của mấy con gà kêu lên trong bội là bà đã mở choàng mắt, cất chiếc nón qua một bên và bật dậy tỉnh táo khi Nguyệt Nga chưa nói hết câu. Bà cất tiếng mời:
– Mua gà đi bà Hai. Con Sáu mầy đói chưa? Kêu một dĩa cơm bên đó cà.
Vừa nói bà Năm vừa đưa tay chỉ quán cơm bình dân cách đó vài thước.
– Dạ con đợi dì Năm ăn luôn một thể.
– Ừ, ăn gì thì kêu nó làm cho, rồi nó bưng qua đây. Trà đá thì biểu nó làm luôn, mà sâm bổ lượng thì con nhỏ hồi nảy đó. Cứ ăn đi đừng ngại.
Nguyệt Nga gật đầu. Bà Năm nó tiếp:
– Gà của nó bán là tao cung cấp cho nó chớ ai. Cơm gà, cơm sườn, cơm bì chả trứng, canh khổ qua…nó làm ăn được lắm đó mầy, mà còn vệ sinh sạch sẽ nữa.
Nguyệt Nga đưa mắt liếc qua quán cơm, bà Năm nói tiếp:
– Có cơm của nó tao mới ăn, mầy biết sao hông? Nói ra thì thiệt là có tội chớ mấy cái quán cơm bình dân nó bán toàn là gà chết không đó mầy. Gà từ Lục Tỉnh lên, những con nó chết trước khi tới vựa, họ đem làm thịt bán cho mấy cái quán cơm như vầy.
Nguyệt Nga ngạc nhiên:
– Ủa thiệt vậy sao dì Năm?
Bà Năm cười:
– Thì có vậy người ta mới bán rẻ chớ. Mầy coi đó, dĩa cơm tổ chảng, bành ky với cái đùi gà chiên vàng rụm vậy mà có nhiêu đâu mầy. Hỏi mầy hổng bán gà chết thì lấy đâu mà lời?
Nguyệt Nga tỏ vẻ không tin:
– Nói vậy chớ, gà đâu mà chết nhiều dữ vậy.
– Tao đâu biết. Thì nó nói với tao chớ ai.
Nguyệt Nga chỉ biết cười. Nàng nghĩ thầm trong bụng “Cuộc sống sao mà kỳ cục thiệt. Càng nghe càng thấy nó làm sao đâu.” Nàng nghĩ đến những việc khác đang bày ra trước mắt nàng. Người đi nườm nượp ngoài kia, bề ngoài đều tốt đẹp nhưng bên trong biết ai tốt ai xấu. Các dảy quán chật đường đi, hàng bày la liệt, sáng trưng, tươi tốt nhưng biết chỗ nào là thiệt giả; khó mà phân tỏ. Nguyệt Nga lắùc đầu ngao ngán.
Bà Năm bận rộn với mấy người khách hàng. Nguyệt Nga bước đến quán cơm bình dân. Đã quá trưa, quán cơm vẫn còn đông khách. Đứng nhìn một lát, khi người phụ nữ ngước mắt nhìn nàng và hỏi:
– Cô ăn cơm gì? Có cơm sườn, cơm gà, cơm xá xíu…chả trứng, canh khổ qua, canh cải…cô ăn cơm gì?
Người phụ nữ hơi luống tuổi, thân hình đẩy đà, gương mặt phúc hậu, giọng nói nhe ïnhàng dễ nghe. Nàng có cảm tình ngay với người phụ nữ.
– Dì cho dĩa cơm gà và hai tô canh. Một tô canh cải một tô canh khổ qua dồn thịt.
Nguyệt Nga muốn ăn dĩa cơm sườn. Nhìn những miếng sườn chiên vàng ươm váng mỡ, thấy phát thèm. Nhưng nàng sợ ăn trúng thịt heo chết. Đã bán được gà chết thì heo chết cũngbán được chớ sao không. Nguyệt Nga mĩm cười với mình.
Bưng hai tô canh, một dĩa cơm và ly nước trà đá trên chiếc khay nhôm về chỗ bà Năm. Vừa đặt phần cơm xuống chiếc bàn nhỏ dưới gốc cây, Nguyệt Nga nghe tiếng kêu mừng rỡ:
– Sáu Nguyệt Nga.
Ngó lên, nàng sững sờ như không tin ở mắt mình. Lù lù trước mặt nàng là Tư Nhân Hậu bằng xương bằng thịt, bên cạnh là Sáu Bảnh, hai tay hai giỏ đệm đựng nhóc đồ. Nguyệt Nga đứng vụt dậy như lò xo bật, ào tới chụp bạn, miệng la:
– Í mèn đét ơi. Mầy đây hả Hậu?
Nhân Hậu nhoẻn miệng cười:
– Mầy lạ lắm hả?
– Lạ gì…tao mừng quá chớ. Mầy đi đâu đây? Sao biết tao ở chỗ nầy.
Nhân Hậu đẩy nhẹ bạn ra, vừa tháo chiếc khăn lau mặt, vừa nói:
– Thì tao đi Sài Gòn mua đồ, nhân thể tao dò la tin tức của mầy.
Nguyệt Nga lặp lại câu hỏi:
– Làm sao mầy biết tao ở đây?
Nhân Hậu cười bí mật:
– Từ từ tao nói nghe. Bí mật mà.
Nguyệt Nga đấm lên vai bạn thùm thụp:
– Tao mừng quá. Tao gặp mầy tao mừng quá.
Sáu Bảnh vẫn lớ ngớ chưa biết đứng ngồi ra sao. Bà Năm nghe ồn ào quay lại:
– Sáu, ai vậy?
Nguyệt Nga hào hển, vừa cười toét miệng vừa chỉ Nhân Hậu:
– Con bạn thân thiết nhứt của cháu đó dì Năm. Con Tư Nhân Hậu.
Nhân Hậu gật đầu chào:
– Chào dì Năm.
– Chào cháu.
Bà Năm nhìn Nhân Hậu từ đầu tới chưn, bà khen:
– Cha chả…cái nầy dì nói thiệt nghen. Cháu ở đâu mà sao nước da trắng phong phóc như hột gà, không giống đứa con gái làm ruộng gì ráo vầy nè.
Nhân Hậu mặt đỏ tới mang tai, lí nhí:
– Dạ…
Nguyệt Nga đỡ lời bạn:
– Tụi cháu ở Đồng Tháp Mười.
– Chèn ơi, người ta con gái Sa Đéc trắng da dài tóc, mà Đồng Tháp Mười là chỗ nào?
Nguyệt Nga cười:
– Dạ, thì ĐồngTháp Mười là ở Đồng Tháp Mười chớ ở đâu dì Năm. Sa Đéc cũng là Đồng Tháp Mười luôn.
– Ờ! Ờ! Chắc là như vậy. Người ta nói:
– “Gà nào hay cho bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh cho bằng gái Nha Mân.”
Chắc hai đứa tụi bay ở Nha Mân?
Nguyệt Nga ú ớ lắc đầu.
– Dạ cháu cũng không biết Nha Mân.
Bà Năm gà ngoái cổ lại nhìn Sáu Bảnh:
– Còn cháu nào đây?
Nhân Hậu, Nguyệt Nga giựt mình cùng la lên:
– Í chết. Cháu chưa nói cho dì Năm hay. Anh Sáu, bạn của con Nhân Hậu.
Sáu Bảnh lóng cóng gật đầu:
– Dì Năm.
– Chào cháu. Bước vô đây ngồi chơi. Làm gì mà như là thằng rể đi hầu ông già vợ quá vậy.
Nguyệt Nga cười:
– Dì nói sao mà đúng quá. Chồng chưa cưới của con Nhân Hậu đó.
Nói ra lời rồi, Nguyệt Nga mới giựt mình quay qua Nhân Hậu hỏi ý. Nhân Hậu cười:
– Ừa, tía má tao đồng ý rồi. Tao với ảnh đi Sài Gòn sắm đồ.
Nguyệt Nga trợn tròn đôi mắt, miệng há lớn.
– Chu mẹt ơi. Thiệt vậy sao? Tao mừng cho mầy. Vô đây ngồi chơi anh Sáu….tui hổng bắt anh làm rể đâu nha. Vô đây! Vô đây!
Sáu Bảnh lí nhí:
– Dạ được.Tui đứng được mà.
Nguyệt Nga chọc tới:
– Đâu có ai bắt anh đứng đâu mà. Con bạn tui nó hiền queo mà. Ai mà dám ăn hiếp anh đâu. Bước vô đây đi.
BàNăm ngồì im quan sát hai đứa con gái đang tíu tít. Ba ønhìn Sáu Bảnh:
– Thì bước vô trong nầy đi cháu. Chỗ nầy dì Năm buôn bán nó không có lều sạp gì hết. Vô ngồi đở ở cái đòn đó đi. Chiều về nhà tao chơi cho biết. Ma ønè, dì hỏi thiệt. Hai đứa tụi bay đã ăn uống gì chưa. Aên trưa với dì Năm luôn thể nha?

Bấy giờ Nguyệt Nga mới ngó xuống dĩa cơm và 2 tô canh:
– Ừ, phải đó. Tao mới kêu một dĩa cơm bên kia. Dì Năm cũng chưa ăn cơm. Mầy với anh Sáu ăn luôn nha.
Nhân Hậu gật đầu:
– Ừa, tao với anh Sáu đi từ sáng tới giờ, mua được chút đồ, chưa cơm nước gì. Với lại vừa đi loanh quanh vừa để ý tìm mầy.
Nguyệt Nga chợt nhớ lại thắc mắc hồi nãy:
– Ừ, tại sao mầy biết tao ở đây mà đi tìm?
Nhân Hậu cười bí mật:
-Tao hổng nói đâu. Bí mật.
Sáu Bảnh xen vô:
– Đâu có gì bí mật đâu. Sao em hổng nói cho …
Nhân Hậu cười, nạt:
– Anh này. Để cho nó thắc mắc chơi. Khi nào mình đi về mình mới nói.
Nguyệt Nga hết ngó Nhân Hậu lại quay qua nhìn Sáu Bảnh, nàng chưa biết hai người đang bày cái trò gì đây. Nàng cười:
– Mầy biết tao quá mà Hậu. Tao đâu có chịu được. Nói đi. Làm sao mà mầy biết tao ở đây?
Thấy mặt bạn háo hức trông chờ, Nhân Hậu càng làm già:
-Không. Đợi lúc nào tao với anh Sáu sắp đi về tao sẽ nói cho mầy nghe.
Nguyệt Nga xìu như trái bong bóng hết hơi:
– Mầy ác quá Nhân Hậu à.
Nhân Hậu cười:
– Nhưng tao cho mầy biết một chút xíu.
Mặt Nguyệt Nga sáng rực trở lại:
– Ừa, nói đi. Nói đi!
Nhân Hậu rề rà:
– Mầy nhớ ai đưa mầy lên Sài Gòn hông?
Nguyệt Nga la lớn:
– Hai Triệu.

Nghe nhắc đến Hai triệu, mặt Nguyệt Nga xìu xuống như cái bánh ướt. Giọng nàng xa vắng:
– Nhớ.
Nhân Hậu vổ vai Nguyệt Nga:
– Tao gặp anh Hai Triệu.
Nguyệt Nga lơ đảng:
– Rồi sao?
– Có sao đâu, hổng gặp ảnh thì làm sao tìm được mầy. Mà cũng may ghê.
Nguyệt Nga day mặt lại, nhìn Nhân Hậu không chớp mắt:
– Đâu mầy kể tao nghe.
Nhân Hậu vẫn chưa biết gì về nhữngchuyện xảy ra cho bạn, nàng nói:
– Đi loanh quanh ở bến, tao gặp Hai Triệu…Mà in tuồng như Hai Triệu với bạn của y là Hải cũng có ý đi tìm mầy mà mấy trốn phải hông?
Nguyệt Nga bỗng phát lên cười, Nhân Hậu ngó bạn ngạc nhiên:
– Chuyện gì mà mầy cười?
– Hổng có chuyện gì. Đâu mầy kể tao nghe coi Hai Triệu nói gì?
Nhân Hậu im lặng nhìn bạn nghi ngờ. Nàng đã nghe Hai Triệu kể cho nghe về người người bạn gái của nàng. Nửa tin nửa ngờ, nàng quyết đi tìm bạn. Bây giờ gặp bạn, Nhân Hậu có cảm giác ngờ ngợ làm sao. Nhân Hậu day qua kêu Sáu Bảnh:
– Anh Sáu, lại đây chút coi.
Sáu Bảnh đang nhai cơm, nghe kêu khựng lại. Nhân Hậu thò tay kéo áo Sáu Bảnh:
– Đâu anh nhích lại gần đây chút coi. Anh có nhớ Hai Triệu nói chuyện con Sáu Nguyệt Nga hông?
Sáu Bảnh thiệt thà:
– Có nghe chớ. Mà sao?
Nguyệt Nga trả lời:
– Thì anh ngồi sát vô đây, để Tư kể cho nó nghe.
Sáu Bảnh ngơ ngác:
– Ừ thì Tư kể cho Sáu nó nghe đi, tui nghe rồi mà.
– Anh sao mà kỳ quá hà…in tuồng như là có chuyện hổng đúng cho con Sáu, Tư muốn anh …mà thôi anh lo ăn đi.
Nhân Hậu bỏ mặc Sáu Bảnh, nàng quay qua Nguyệt Nga tiếp tục câu chuyện. Sáu Bảnh bưng dĩa cơm, kéo sát chiếc đòn nhỏ ngồi sát vô một bên Nhân Hậu. Nguyệt Nga ngó bạn, nhìn thấy hạnh phúc của bạn nàng càng tủi cho thân phận của riêng nàng.
Nhân Hậu bắt đầu kể mọi chuyện xảy ra từ cái lúc Nguyệt Nga rời làng ra đi cho đến nay, chuyện vợ chồng ông Năm Hương, ông Tám Trống, chuyện cưới hỏi của nàng, và cuối cùng đi Sài Gòn mua sắm thế nào, gặp Hai Triệu ra sao, y kể chuyện như thế nào…Cuối cùng nàng thở phào:
– Khi tao mới xuống ghe, bất đồ có tiếng ai đó kêu tên anh Sáu, tao quay lại coi ai, thì ra là Hai Triệu đang neo ghe ở bến kế bên đó. Sau khi tao với anh Sáu xuống ghe, tụi tao ghé qua bên Hai Triệu, y nói là chở mầy tới Sài Gòn, một đêm mầy bỏ trốn mất, mầy quơ đồ đạc của y mầy đi luôn. Y nói thôi kệ coi như làm phước. Sau đó y có thấy mầy quanh quẩn đâu đây, bên chợ với người đàn bà nào đó.
Nguyệt Nga giận cành hông. Nàng nhớ lại lúc nàng đi lạc đường, lòng lo buồn và sợ hãi ra sao, nàng ao ước được gặp lại Hai Triệu, cảm giác lo lắng đó như in trong trí nàng, bây giờ quay lại rõ rệt từng chi tiết. Nàng giận Hai Triệu quá chừng, y nở lòng nào nói xấu, nói thêm, gieo tiếng ác cho nàng. Dù nàng có ý theo y làm vợ nhưng chưa tỏ ra bằng lời, nàng vẫn coi y như người thân. Những câu y nói ngọt nói ngon nàng còn nhớ rõ từng lời, bây giờ y ngược ngạo nói điêu. Nguyệt Nga chán nản quá sức. Thở hắt ra một tiếng, mặt nàng năïng trịch như có đeo chì.
– Sao mầy hổng nói gì hết trơn?
– Nói cái gì bây giờ?
– Thì Hai Triệu nói như vậy đó. Tao biết tánh mầy mà. Tao hổng tin, có điều tao biết được mầy còn lẩn quẩn đâu đây. Nói thiệt là tao mừng lắm…Mầy biết hông, từ cái hồi mầy đi đến giờ biết bao nhiêu là thay đổi. Tao cứ đồ rằng mầy có chuyện gì đó mới hổng tin tức gì về nhà. Mà cũng ác thiệt, tao với con Lụa, ngóng tin mầy quá trời quá đất, đợi cái ghe bầu của hai Triệu trở về mà biệt tăm luôn. Tao đâu có ngờ mầy ra thân làm vậy.
Nhân Hậu nói một hơi, Nguyệt Nga chỉ biết nghe, hai hàng nước mắt tự dưng chảy dài xuống má tự hồi nào nàng không hay. Đầu lưỡi nghe mặn, nàng đưa tay lên chùi. Nhân Hậu ái ngại ngó bạn. Bà Năm gà bỗng xen vô:
– Cô Hai nè, tự nãy giờ tui nghe hết rồi. Tui xin lỗi đã nghe chuyện riêng của hai cô, nhưng mà con Sáu đây, nó gặp tui, tui đã coi nó như là con cháu trong nhà. Nó cũng có kể cho tui nghe gia cảnh của nó. Tui định bụng khi nào nó có chút tiền tui sẽ khuyên nó đi về thăm nhà. Mà nói nào ngay, từ cái ngày nó gặp tui, nó đâu có làm ra được đồng nào, mà tui cũng nghèo đâu có đồng dư mà cho nó. Chắc là cô hai đây thân thiết với nó, cô cũng biết nó thiệt thà quá mà. Tui cũng e ngại giùm cho nó mà hổng biết tính cái lẽ nào cho phải, cứ phải nấn ná hoài là vậy.

Nguyệt Nga im lặng nghe bà Năm nói. Nhân Hậu ngồi sát vô bên bạn, đưa tay choàng qua vai, thân thiết nói nhỏ bên tai:
– Thôi, chuyện gì rồi nó cũng qua.
Quay qua một bên, Nguyệt Nga đưa tay xịt nước mũi đang chảy, lấy ống tay áo chùi mặt. Nàng nói trong tiếng sụt sùi:
– Tao phải kể cho mầy nghe cái chuyện tao gặp dì Năm đây. Nếu mà trời hổng thương tao thì bây giờ tao hổng biết ra làm sao. Nói thiệt mầy nghe, tao giận ôngTrời thấu tim gan, mà tao cũng mang ơn ổng thiệt là nhiều, nhờ ổng đưa đẩy tao gặp dì Năm. Bây giờ tao cũng hổng biết làm sao nữa.

Nhân Hậu vuốt vuốt trên lưng bạn, giơ tay chùi dòng nước mắt đang chảy xuống hai má của bạn. Nhân Hậu lặng thinh. Sáu Bảnh lặng thinh, và bà Năm gà cũng lặng thinh. Không ai nói một tiếng nào. Cả thân hình Nguyệt Nga dịu nhỉu mềm èo dựa vô vai Nhân Hậu. Bên ngoài trời vẫn đổ nắng xuống mặt đường, xuống hàng quán, những hàng cây bên đường không che được cái nắng gay gắt trong khu phố chợ. Người người vẫn nhộn nhịp với đời sống đang diễn ra. Bên kia đường có tiếng cải chí chóe, tiếng chữi thề. Có tiếng la “Aên cướp” có tiếng chạy huỳnh huỵch, tiếng còi xe bóp inh ỏi. Một thằng bé đen đủi đang cố sức chạy lủi vô đám đông, người đàn bà mất bóp đang ngơ ngác. Người cảnh sát ở ngã tư đường đang thổi còi phạt chiếc xe chạy bậy. Tất cả không ảnh hưởng gì đến Nguyệt Nga, nàng thấy như mình đang ở một nơi chốn trống rổng, minh mông, chung quanh nàng vắng ngắt lặng thinh.
Tiếng Nhân Hậu vang lên như từ một nơi nào đó xa xăm lắm:
– Nguyệt Nga!
– Nguyệt Nga!
Aùnh mắt mất thần nhìn chăm chú vào khoảng không trước mặt. Nguyệt Nga không nghe bạn kêu. Tiếng bà Năm nóivới Nhân Hậu.
– Thôi để cho nó yên một chút đi. Tui chắc là nó đang đau khổ lắm. Cái chuyện cô vừa kể tui đã nghe nó nói cho tui khi nó đi lạc qua đây. Cái ông nào đó nói oan cho nó. Tui biết hết mà. Cái ngày nó lạc qua đây, nó đi hai bàn tay không, trên tay nó chỉ có cái giỏ đệm với mấy bộ đồ. Cũng may là nó gặp tui. Tui có hỏi nó, mà nó hổng nhớ đường về, mà thiệt tình là tui cũng không rảnh để mà đưa nó đi tìm. Nói nào ngay, cái ý của nó cũng không muốn đi tìm cái ông Hai nào đó. Nói cô hai nghe, ban đầu tui tưởng nó là gái ăn sương, giả bộ để xin tiền…ở đây xảy ra hà rầm mà. Mấy ai tin được ai, cũng may nhìn cái tướng nó tui nghĩ nó nói thiệt. Cũng hổng biết tại sao.
Bà Năm kể lại đầu đuôi khúc chiết chuyện đi lạc như thế nào cho Nhân Hậu và Sáu Bảnh nghe.
Nhân Hậu vừa nghe vừa vuốt vuốt lưng của bạn. Nguyệt Nga vẫn dán mắt vào khoảng không trước mặt, tất cả những câu chuyện trao đổi giữa hai người đàn bà không lọt vô lỗ tai nàng. Nước mắt vẫn chảy dài trên đôi má. Nhân Hậu kêu nho nhỏ:
– Nguyệt Nga!
– …
– Mấy có nghe tao nói hông?
– …
– Thôi! Mọi chuyện đã qua hết rồi. Mầy nếm cũng đủ mùi rồi.Tao hiểu mầy Nguyệt Nga ơi. Hồng nhan đa truân, tự hồi nào vẫn như vậy đó mà. Nguyệt Nga! Nguyệt Nga!
– …
Nhân Hậu ngó vô mặt bạn. Nét mặt NguyệtNga thật bình thản gần như vô hồn, nước mắt như hai giòng suối nhỏ vẫn trôi lăn trên hai má. Nhân Hậu đưa chiếc khăn lên chùi. Bà Năm bàn:
– Tui định thế nầy. Bây giờ, tui kêu một chiếc xích lô máy nó chở 3 người về nhà tui đi. Về nhà nghỉ ngơi lát chiều tui về rồi mình nói chuyện nhiều hơn. Bây giờ tui thấy con Sáu nó xúc động quá sợ ngồi đây hổng tiện. Vậy đi nha, cô hai nghĩ sao? Thấy tiện hông?
Nhân Hậu nhìn bạn, nàng biết Nguyệt Nga bây giờ đang ngỗn ngang trăm mối. Nhân Hậu thương bạn nhưng không biết có cách nào chia xẻ được nỗi buồn của bạn.
Bà Năm không đợi đồng ý, bà đã đưa tay ngoắt chiếc xích lô máy vừa trờ tới. Bà đứng lên hối thúc Nhân Hậu đưa Nguyệt Nga về nhà. Bà bước ra dặn dò người xích xô máy điều gì đó, khi Nhân Hậi dìu Nguyệt Nga ra đến lề đường thì ông tài xế đã gật đầu lia, thưa gởi ồn ào với Bà Năm:
– Dì Năm khỏi lo đi. Cháu biết mà, cháu sẽ đưa mấy cổ về tới nhà đàng hoàng không mất một sợi tóc đâu mà dì dặn dò kỷ lưỡng như vậy.
Nguyệt Nga dịu nhơ dịu ngắt ngã đầu trên vai để Nhân Hậu dìu đi, Sáu Bảnh đi theo sau tay xách nách mang những đồ dùng hai người vừa mua trong chợ. Lủ khủ đồ đạc như người đưa thân nhân đi bệnh viện. Bà hàng cơm hỏi bà Năm gà:
– Con nhỏ bị trúng gió hả dì Năm?
– Úi trời ơi, con nhỏ dễ thương hết sức mà sao nó bị cái gì vậy bà Năm?
– Chèn ơi, đẹp thì đẹp chớ lạng quạng thì gió nó đâu có chừa.
– Tội nghiệp.
Những lời bình phẩm hỏi han chung quanh lào xào, Nhân Hậu không biết trả lời ra sao. “Người ở chốn đô thành có khác. Cái gì cũng bu lại coi như là coi hát bội vậy” Nhân Hậu lầu bầu trong miệng. Sáu Bảnh lẻo đẻo theo sau. Chiếc xích lô máy to bề ngang và thấp lè tè, Nhân Hậu mới thấy lần đầu tiên. Sáu Bảnh thì ngạc nhiên quá đổi. Cả hai lớ ngớ chưa biết ngồi đứng chỗ nào. Người tài xế là một thanh niên cở tuổi với Sáu Bảnh. Anh ta nhìn Sáu Bảnh hỏi:
– Anh muốn ngồi trước hay ngồi sau?
– Trước là chỗ nào mà sau là chỗ nào?
Người tài xế chỉ cái yên sau và nói:
– Đó.
Sáu Bảnh ngó chiếc “bọt-ba-ga” to đùng phía sau và thấp lè tè, e ngại. Người tài xế ra lịnh:
– Thôi, ông la ø thanh niên, ông ngồi sau đó cho chắc ăn. Hổng lẻ ông để bà xã ông ngồi đó rồi ông ngồi trước? Mà ai là bà xã của ông? Người bịnh hả? Nếu vậy thì được. Bà kia ngồi yên sau.
Sáu Bảnh tá hỏa, xua tay lia liạ:
– Hông được. Bà xã tui là người lành đó. Để bả ngồi trước với bạn của bả đi.
Người tài xế dìu Nguyệt Nga lên xe và chỉ cho Nhân Hậu ngồi một bên. Cả hai lọt tỏm vô trong chiếc ghế bành rộng và hếch ngược cái càng xe lên trời. Nhân Hậu sém té mấy lần khi bước lên xe vì tài xế lấn nàng để bồng Nguyệt Nga lên xe. Nguyệt Nga bây giờ như người bịnh nặng. Hai mắt lờ đờ, cặp môi thâm tím…Nhân Hậu bắt rùng mình.
– Hổng lẻ nó trúng gió thiệt?
Chiếc xe ngừng lại trước con hẻm, người tài xế móc từ trong túi áo một miếng giấy nhỏ ra coi lại. Anh nói với Nhân Hậu:
– Tới rồi đó cô hai. Căn nhà trong ngõ hẻm nầy. Cô đi thẳng vô đó, căn nhà có cánh cửa màu xanh.
Vưà nói anh vừa đưa tay chỉ căn nhà trong ngõ hẻm. Nhân Hậu chưa bước xuống xe, nàng nhìn người tài xế, nhỏ nhẹ:
– Chú chở tui vô thẳng trong đó được hông? Con bạn tui nó xỉu rồi, tui không cõng nó được.
Sáu Bảnh đã nhảy xuống xe, bước đến gần, ngó chăm chăm vô mặt Nguyệt Nga:
– Ủa, cổ ngủ rồi hả?
– Đâu có mà ngủ như vầy. Nó xỉu rồi đó.Trúng gió cái mặt xanh chành đây nè. Anh cõng nó vô được hông?
Người tài xế với ve õmặt ái ngại, anh nói:
– Thôi để tui chở vô tới trỏng luôn cho. Anh đi bộ theo. Cô Hai ngồi lên xe đi.
Chiếc xe đậu xịch trước hè làm mấy đứa con nít chơi gần đó giựt mình ngừng trò chơi và bu lại dòm. Những người đàn bà ngồi quanh đó cũng ngừng tay.
Sáu Bảnh đã chạy đến cùng Nhân Hậu đở Nguyệt Nga xuống khỏi xe. Một người đàn bà bỏ công việc đang làm dở dang chạy lại hỏi:
– Ủa có chuyện gì vậy cô? Bà Năm bị làm sao vậy?
Nguyệt Nga day qua người đàn bà:
– Dạ chào dì. Hổng phải dì Năm. Con bạn của tui nó bị ngất xỉu.
– Chèn ơi! Làm tui hết hồn, tưởng đâu bàNăm gà bị chuyện gì. Ủa, mà cô là ai vậy…bà con làm sao với bà Năm.
Nhân Hậu không có thì giờ giải thích, nàng cùng Sáu Bảnh dìu Nguyệt Nga đang nằm dịu nhỉu trên vai nàng bước tới trước nhàbà Năm. Cánh của khép hờ, nhìn vô trong không thấy có ai. Nhân Hậu e ngại, lúng túng đứng trước cửa. Người đàn bà hàng xóm mau mắn bước tới:
– Có ổng ở nhà. Để tui kêu cho.
Bà vừa đưa tay mở cánh cửa, miệng bà kêu ơi ới:
– Ông Năm ơi ông Năm. Ông có nhà hông?
Không có tiếng trả lời, bà đẩy vai Nhân Hậu:
– Vô đi! Vô đi! Vô chớ đứng đó trúng gió chết tươi bây giờ.
Nhân Hậu dìu bạn bước vô nhà. Căn phòng khách không có ai. Người đàn bà hàng xóm xăm xăm bước thẳng xuống nhà bếp, miệng bà kêu:
– Ông Năm đâu rồi? Mới thấy đó mà ông đi đâu rồi. Có người tìm kìa ông Năm ơi.
Nhân Hậu đở bạn đến chiếc đi-văng kê ở góc phòng, đặt bạn ngồi xuống, Nhân Hậu thở ra. Nàng day lưng lại nói với Sáu Bảnh:
– Thiệt khổ rồi anh Sáu ơi. Mình biết làm sao bây giờ?
– Thì cứ để cổ nằm nghỉ một chút đi cái đã. Lát nữa ông Năm nào đó ổng biết rành hơn mình ổng lo cho.
Không biết nói gì hơn, Nhân Hậu đở vai cho bạn nằm xuống. Hai mắt nhắm nghiền, Nguyệt Nga nằm im thin thít.
Có tiếng dép lẹt quẹt từ nhà sau đi lên. Tiếng người đàn bà oang oang:
– Anh lên nhà mà coi. Con cháu bà Năm nó bị xỉu người ta chở nó về đó.
Người đàn ông xuất hiện ở cửa, ông nhìn hai người khách lạ.
– Hai cháu đây là chi của bà nhà tui? Tha lỗi cho tui. Tui mới gặp lần đầu phải hông.
Nhân Hậu đứng lên:
– Dạ tụi cháu là bạn của con Sáu. Dì Năm chỉ nhà đưa nó về nằm nghỉ, nó bị bịnh.
– Là vậy. Bà tui có nói gì hông?
– Dỉ nói đưa về nhà năm nghỉ, chiều dỉ về.
Ông Năm bước tới gần, nhìn nét mặt Nguyệt Nga. Ông nói:
– Chết thiệt. Con nhỏ nó bị trúng gió rồi. Thôi hai cháu ra ngồi ở ghế chơi, để tui cạo gió cho nó trước cái đã nghen.
Ông Năm bỏ xuống nhà bếp, Nhân Hậu ngó Sáu Bảnh. Cả hai người lớ ngớ không biết ngồi đâu đứng đâu. Người đàn bà hàng xóm vẫn còn đứng giữa nhà. Bà nói:
– Hai cháu ngồi lại bàn đó chơi. Uống nước đi. Có ổng lo cho được rồi. Thôi tui về.
Bà vừa bước ra cửa vừa quay mặt vô trong vừa nói to:
– Tui về anh Năm ơi.
Căn phòng im lặng, Nhân Hậu nghe rõ cả tiếng thở phì phò của Nguyệt Nga đang nằm ở đi-văng. Cả hai vẫn còn đứng như trời trồng ở giữa nhà. Thời may lúc đó, ông Năm đã trở lên. Trên tay ông cầm chai dầu nóng, tay kia cầm cái muỗng bằng nhôm. Thấy hai người còn đứng giữa nhà, ông mau mắn nói:
– Ủa, ngồi đi chøớ. Ngồi đó rót nước uống đi. Tui phải cạo gió cho nó chớ để lâu nó lậm thì nguy.
Bước đến bên chiếc đi-văng, ông Năm nhíu mày, quay lại nhìn Nhân Hậu:
– Tui nhờ cháu giúp cho một tay. Leo lên đi- văng ngồi bên kia con nhỏ đi. Lật cho nó nằm sấp xuống rồi vén cái áo nó lên giùm tui.
Nhân Hậu bước mau tới, leo lên ngồi bên cạnh Nguyệt Nga và làm theo lời dặn của ông Năm.
Chiếc áo vén lên phơi chiếc lưng trần màu nâu sậm, rắn chắc ra lồ lộ. Nguyệt Nga vẫn nằm thin thít không phản ứng.
Ông Năm nhẹ nhàng nghiêng chai dầu nóng ra bàn tay và xoa lên lưng Nguyệt Nga, ông dùng tay chà xát lên lưng. Ông nói:
– Làm cho nó ấm trước, rồi sau đó mới cạo gió.
Miệng nói, tay ông thoăn thoắt bôi dầu nóng dài theo xương sống. Ông trở cái muỗng cầm trên tay và cạo soàn soạt lên lưng Nguyệt Nga. Nàng rên ư ử và vẫn nằm im. Những vết bầm từ từ hiện lên. Tấm lưng thon hấp dẫn của Nguyệt Nga bây giờ bầm tím, có những vệt nâu đỏ khắp trên lưng dọc theo xương sống và hai bên sườn. Không biết là bao lâu, Nguyệt Nga cất tiếng nói yếu ớt:
– Đau quá! Đau quá!
Ông Năm không nói gì, ông ra dấu cho Nhân Hậu đở Nguyệt Nga nằm ngửa. Chỉ một lúc sau, trên cổ, trên trán của Nguyệt Nga hiện ra những dấu bầm do ông bắt gió, giựt gió. Người nàng toát ra mùi dầu nóng. Bước xuống đi-văng, ông Năm xoa hai tay vào nhau. Ông nói:
– Xong rồi, như vậy là đỡ rồi khỏi lo gì nữa. Bây giờ hai cháu ngồi chơi, tui đi nấu cho nó miếng cháo nóng lát nữa nó tỉnh dậy ăn là yên.
Ông Năm bỏ đi xuống nhà bếp, Sáu Bảnh từ nãy giờ vẫn đứng lớ ngớ giữa nhà, trên vẫn xách hai cái bao cà ròn. Nhân Hậu ngồi im trên đi- văng. Sáu Bảnh hỏi:
– Bây giờ mình đi về hả?
Nhân Hậu lắc đầu:
– Về sao được mà về. Ở lại coi nó có làm sao không cái đã. Lát nữa nó tỉnh lại mới biết được.
Còn anh bỏ hai cái giỏ xuống đất đi, làm gì mà đứng hoài vậy.

Nguyệt Nga trở mình, ngồi dậy. Nhân Hậu day người lại nhìn. Nguyệt Nga ngồi lên, hai tay xoa lên mặt, mắt mở lớn ngó ra cửa. Đôi mắt lờ đờ. Nhân Hậu hỏi nhỏ:
– Đỡ rồi hả?
Nguyệt Nga không trả lời, mắt vẫn nhìn ra cửa, vô hồn. Đôi mắt như người mới ngủ dậy. Mở lớn, trừng trừng, hai tròng đứng im, giống như buồn ngủ mà không phải. Nhân Hậu ngồi sát bên bạn.
– Mầy thấy thế nào? Tỉnh chưa?
Nguyệt Nga ngồi im, hai tay thả xuôi, những ngón tay rung rẩy như mân mê một vật gì đó vô hình.
– Nguyệt Nga!
– Nguyệt Nga!
Vẫn im lặng. Nhân hậu ngồi sát hơn, một tay vén mái tóc rủ suống trước trán của bạn. Giọng nàng nhỏ hơn:
– Nguyệt Nga! Mầy có nghe tao nói gì hông?
Nhìn thẳng vô mặt bạn, bỗng Nhân Hậu phát hoảng kêu Sáu Bảnh:
– Anh Sáu! Anh Sáu!
Sáu Bảnh đang ngồi, nhổm dậy:
– Cái gì?
– Anh coi cà. Coi cái mặt nó làm sao mà khờ câm khờ đặt vậy anh Sáu.
Sáu Bảnh bước tới. Anh nhíu mày:
– Hổng sao mà.
Không có tiếng khóc, nhưng hai hàng nước mắt chảy dài theo gương măït Nguyệt Nga. Nhân Hậu lo lắng:
– Nó không nói gì hết mà nó khóc…Nó làm sao vậy anh Sáu.
Sáu Bảnh bứt đầu gải tai. Anh thanh niên to xác lớ ngớ loay xoay lắc đầu:
– Em mà hổng biết làm sao tui biết.
– Anh ơi, nó còn buồn anh à.
Sáu Bảnh vuốt theo:
– Hổng buồn làm sao được.
Nguyệt Nga nói lầm bầm, giọng nói khàn khàn từ trong cổ họng:
– Con ơi! Con đâu rồi!
Giọng Nhân Hậu lo lắng:
– Coi chừng nó phát cuồng, phát điên đó anh.
Sáu Bảnh trợn mắt:
– Đừng có nói xàm. Điên đâu mà điên.
Như trả lời cho Sáu Bảnh. Nguyệt Nga tuột xuống đất, hai mắt mở trừng trừng bước thẳng ra cửa. Nhân Hậu la hoảng:
– Kêu ông Năm cho em. Nó đi đâu vậy.
Sáu Bảnh bước thụt lui, quay lưng phóng xuống nhà bếp. Giọng anh hoảng hốt:
– Chú Năm ơi chú Năm.
– Cái gì đó. Đợi chút nữa cháo chín tui đem ra. Ngồi chơi chút đi.
– Chú lên đây một chút.
Ông Năm vẫn bình thản nói vọng lên:
– Sắp được rồi.
Nguyệt Nga bước thẳng ra cửa như người mộng du, đầu tóc rủ rượi. Nhân Hậu lật đật bước theo nằm tay nàng kéo lại:
– Mầy đi đâu đó.
Nguyệt Nga lảm nhảm:
– Con tao đâu rồi? Mầy trả con lại cho tao.
– Nguyệt Nga. Mầy nói với ai vậy?
Nguyệt Nga đã ra tới cửa, Nhân Hậu nắm tay bạn kéo lại. Nguyệt Nga vùng ra, bước tới.
– Anh Sáu. Anh ôm nó lại cho em.
Sáu Bảnh chưa kịp bước tới, Nguyệt Nga đã quay lưng giang thẳng cánh tay tát Nhân Hậu một cái. Vô tình không đề phòng, Nhân Hậu lảnh một cái tát như trời giáng. Nàng thấy bảy tám ông trời chớp nháng đầy sao. Xây xẩm mặt mày. Đưa tay lên ôm má, năm ngón tay in rõ trên má trắng ngần.
– Chết em rồi anh Sáu ơi.
Nhân Hậu lảo đảo bước lui, miệng rên rỉ. Nguyệt Nga vẫn bước tới, hai mắt mở lớn nhìn vô khoảng không trước mặt. Nhân Hậu thất kinh, bước thụt lùi kêu:
– Anh Sáu. Anh ôm nó lại anh. Nó điên rồi.
– Trả con lại cho tao.
Sáu Bảnh nhào tới ôm chầm Nguyệt Nga, nàng vùng vẩy chòi đạp. Sáu Bảnh nhấc bổng nàng khỏi mặt đất.
– Ôm chặt nó lại bỏ nó lên giường đi anh.
Sau mấy cái chòi đạp không thoát nổi vòng tay Sáu Bảnh, Nguyệt Nga lại khóc thút thít như một đứa con nít.
Đặt nàng trở lại chiếc đi-văng, Nhân Hậu như quên cái tát tay đau điếng, nàng bước lại giang rộng hai tay ôm Nguyệt Nga dìu cho nàng nằm xuống. Nguyệt Nga gục vào vai nàng khóc rưng rức. Nhân Hậu vuốt nhè nhẹ lưng bạn, mùi dầu nóng xông lên làm hai mắt nàng cay xè.
– Nằm xuống ngủ đi. Tao nè Nguyệt Nga. Mầy nhận ra tao hông?
Nguyệt Nga theo tay đở của Nhân Hậu nằm xuống. Tiếng khóc rấm rứt, ấm ức chưa dứt. Ông Năm vừa bước lên, trên tay ông có chén cháo nóng bốc khói.
– Có chuyện gì vậy? Cháo được rồi, thức cổ dậy ăn đi cho nó giải cảm.
Vừa nói ôâng bước lại, ngạc nhiên:
– Ủa có chuyện gì vậy?
Khi nhìn thấy dấu năm ngón tay còn đỏ rần nằm trên má Nhân Hậu, ông hỏi lần nữa:
– Chuyện gì xảy ra? Cái má của cô…
– Con bạn cháu nó phát điên. Nó đánh.
– Có chuyện gì?
– Cháu đâu biết. Nó nói mê nói sảng rồi giang tay thẳng cánh xáng một bạt tay thấy mấy ông trời.
Ông Năm nghiêm giọng:
– Tui không biết chuyện gì xảy ra cho cổ. Nhưng khi bà nhà tui đưa cổ về đây thì tui đã thấy có chuyện rồi. Mà thôi, từ từ mình nói chuyện sau. Bây giờ cô giúp cổ cho cổ ăn chút cháo đi nha. Tôi ra tiệm thuốc trước ngõ đây mua mấy viên thuốc về cho cổ giải cảm. Khi nào cô tỉnh táo lại nói chuyện nha.
Ông Năm đăït tô cháo xuống bàn, quay lưng bước ra cửa:
– Hai cháu ở nhà chơi, cứ tự nhiên như người trong nhà. Đừng ngại, lát nữa mấy đứa nhỏ nó đi học về nói tui về liền.
– Ủa, bác đi lâu mau mà dặn vậy?
– Tui nói hờ vậy thôi. Tui ra mua thuốc rồi về cấp kỳ.

Ông Năm đi rồi, Nhân Hậu đứng nhìn bạn nằm rủ trên đi-văng. Hết nhìn bạn, nàng quay qua nhìn Sáu Bảnh. Anh lắc đầu không nói gì. Nhân Hậu thở dài:
– Em nghĩ nó bị ám ảnh chưa quên được chuyện đứa con của nó. Rồi lên đây không được việc gì nên nó buồn. Cầu Trời khẩn Phật cho nó tai qua nạn khỏi. Phải hổng phải, mình đưa nó về lại quê cho xong.
Sáu Bảnh ngồi im mà nhìn, Nhân Hậu hai tay bó gối, chưn co sát vô ngực. Nàng ngồi như vậy thật lâu. Tiếng thở ra nghe càng thêm đứt ruột. Chén cháo hành nóng bốc khói vẫn còn nằm im trên đi-văng, Nguyệt Nga hai mắt nhắm nghiền. Hết ngó bạn, Nhân Hậu ngước lên dòm Sáu Bảnh. Mặc dầu rất quyền biến và phản ứng lanh lẹ, trong lúc này Nhân Hậu chưa biết xử trí làm sao. Nguyệt Nga trở mình, Nhân Hậu vội vàng bỏ chưn xuống, cúi mặt sát xuống nhìn chăm chăm vô mắt bạn. Nguyệt Nga giương đôi mắt vô hồn nhìn bạn, Nhân hậu cố gắng nở nụ cười thật tươi, nàng nhỏ nhẹ:
– Mầy thấy trong người ra làm sao? Aên chút gì đi nghen.
Nguyệt Nga ngó bạn chăm bẳm, vẫn chưa mở miệng. Nhân Hậu cúi sát hơn nữa, hai mặt gần đụng nhau. Giọng tha thiết:
– Mầy đừng làm tao sợ nha.
Nguyệt Nga nhìn thẳng, hai mắt mất thần, khôngnói. Nhân Hậu không biết làmgì hơn là ngồi im ngó bạn.
Cuộc đời có gì buồn hơn khi ngồi không một chỗ, chẳng biết làm gì ngoái việc ngó mông ra cửa, ngó quanh ngó quẩn trong nhà. Lại càng buồn hơn đốivới những người như Sáu Bảnh. Anh ham hoạt động, hai chưn như có gắn bánh xe, anh đi đầu nầy sang đầu no đâu bao giờ chịu ngồ ìm một chỗ. Thậm chí khi ngồi túm năm tụm ba châu đầu vô uống rượu, anh cũng táy máy. Mỗi ngày dậy từ tiếng con gà gáy hiệp đầu, côngviệc đồng án chỉ vài ba tháng, số ngày còn lại công kia chuyên nọ trong nhà ngoài rẩy. Ở nhà, tay thì táy máy không để im, hễ không làm việc nầy cũng làm việc nọ. Lúc thì sửa lại cái giàn mướp cho mẹ, khi dặm lại cái hàng rào…vậymà bây giờ, từ trưa đến xế chiều anh phải bó gối ngồi im thin thít như thịt nấu đông trong căn nhà lạ hoắc lạ huơ hỏi lamø sao Sáu Bảnh chịu đời cho thấu.
Nguyệt Nga và Nhân Hậu, mặt đâu mặt, mắt nhìn mắt im ru bà rù làm Sáu Bảnh nãy giờ ngồi im đâm ra phát chán. Anh tằng hắng mấy lượt. Anh cất tiếng e dè:
– Em tính sao cho phải bây giờ? Hổng lẻ mình ngồi chết trân một như vầy hoài?
Nhân Hậu ngước mắt nhìn người bạn đời. Nàng thấy thương Sáu Bảnh hết sức. Lắc đầu mấy lượt, Nhân Hậu cất tiếng:
– Tư cũng hổng biết làm gì bây giờ. Ai có hay cái cớ sự nó như vầy. Đất thì đất lạ, nhà là nhà của người ta, anh biểu Tư làm sao đây?
Sáu Bảnh ú ớ:
– Tư hỏi thì hỏi chớ Tư biết là tui không có ý kiến mà. Mà dù gì thì cũng phải tính cái gì đi chớ. .. hổng lẻ cứ ngồi im hoài?
Nhân Hậu, đứng lên. Bước ra cửa dòm chừng trông ngóng. Bước trở vô bưng chén cháo lên tay. Rón rén ngồi xuống bên cạnh Nguyệt Nga. Múc một muỗng cháo, đưa lên trước miệng Nguyệt Nga, nàng nói nhỏ:
– Nguyệt Nga, chuyện gì thì chuyện, mầy ráng ăn một chút mới được.
Nguyệt Nga vẫn im lặng, cái đầu ngút ngắt, cái mặt day ngang. Nhân Hậu dỗ dành, như dỗ con nít:
– Há miệng ra, tao đút cho mầy.
Không thấy bạn có phản ứng gì, Nhân Hậu đưa muỗng sát vô môi bạn. Nàng dỗ dành:
– Há miệng ra.
Bất thình lình, Nguyệt Nga đưa hai tay ra phía trước, nhào tới. Nhân Hậu giựt mình chưa kịp phản ứng, cái muỗng cháo bị hất văng xuống đất. Nguyệt Nga đứng dậy ôm chầm lấy Nhân Hậu.
-Á!!!
Sáu Bảnh đang mơ màng ngó mông ra cửa nhìn người đi lại trước con hẽm, nghe tiếng la thất thanh hốt hoảng của Nhân Hậu, anh quay lưng lại, vừa kịp nhìn thấy Nguyệt Nga nhào tới, và chén cháo đã rớt xuống đất bể tan, cháo văng tung tóe. Anh nghĩ rằng Nguyệt Nga buồn quá hóa điên nhào tới hành hung, quậy phá gì đó …vừa dợm nhào vô…bỗng anh khựng lại. Nguyệt Nga làm chuyện bất ngờ, đứng lên quá lẹ, Nhân Hậu đâm hoảng kêu la…nhưng mọi chuyện xảy ra ngược lại. Nguyệt Nga nhào tới ôm chầm hai vai bạn và gục đầu trên vai Nhân Hậu, miệng thều thào:
– Tao khổ quá mầy ơi.
Sau phút bất ngờ, Nhân Hậu hoàn hồn đứng im khi nghe bạn thều thào bên tai. Khe khẻ vuốt nhẹ trên lưng bạn, giọng chùng xuống, nàng an ủi:
– Ừa, tao biết. Tao biết mầy quá buồn. Ùa! Tao biết.
– Tại sao vậy Hậu ơi!
– Tại sao hả. Tao không biết mầy ơi.
Im lặng…
– Bây giờ tao mừng rồi.Tao hết lo rồi, mầy còn nhận được ra tao thì tao hết lo rồi. Mầy còn nói được mầy buồn, thì mầy đã hết buồn rồi đó.
Dìu bạn trở lại bộ ván, Nhân Hậu vỗ về;
– Mầy có biết không tao lo lắm. Tao thấy mầy im im, mắt mầy thì trắng xát như mất hồn, cái miệng mầy cứ mím lại…tao sợ…tao sợ mầy điên thì khổ. Bây giờ mầy đã hoàn hồn …mầy ăn cháo nha.
Chỉ tay xuống nền ciment, Nhân Hậu cố tạo không khí vui tươi:
– Đó, mầy thấy không? Chén cháo thịt, hành, nóng hôi hổi, ngon lành mà mầy làm nó đổ ráo trọi rồi kìa. Bây giờ mầy ăn nha. Tao đi múc chén khác.
Nguyệt Nga lắc đầu:
– Tao hông đói.
Nhân Hậu nói theo:
– Tao biết mầy hổng đói. Cái miệng hông muốn ăn, nhưng cái bụng nó cồn cào đó mầy. Thôi, ráng ăn chút đi.
– Hổng đói là hổng đói mà.
– Tao biết, mới có hồi trưa tới giờ thôi thì đâu có đói mấy. Nhưng mầy phải biết, hồi nãy mầy trúng gió, ông Năm cạo gió cho mầy, mầy phải ăn cho ra mồ hôi để khỏi bị bịnh thôi.
– Lát nữa. Tao muốn nghỉ một chút.
– Sao cũng được. Nhưng mà trước hết mầy phải ăn. Aên cho nó ra mồ hôi mới khỏi bịnh. Mầy nghe tao đi
Không đợi Nguyệt Nga đồng ý, Nhân Hậu đứng dậy. Sáu Bảnh đang ngồi đứng lên theo. Anh nói:
– Tư ngồi đó với Sáu đi. Để đó tui đi múc cháo cho.
Nhân Hậu ngước mắt nhìn Sáu Bảnh thầm ý cám ơn. Nguyệt Nga đưa tay vuốt mái tóc ra sau lưng, xoa hai vào nhau, bẻ mấy ngón tay kêu răng rắc. Nhân Hậu nói với Nguyệt Nga.
– Tao mừng quá.
– Tư Hậu!
– Cái gì?
– Mầy lên đây hồi nào? Làm sao mầy biết tao ở đây mà đến?
Nghe bạn hỏi, Nhân Hậu há hốc miệng ra, ngó bạn trừng trừng. Ngạc nhiên:
– Ủa! Hồi trưa tao kể cho mầy nghe rồi mà.
– Tao hỏi sao mầy hổng trả lời.
Nhân Hậu ngạc nhiên qua đổi. Nàng kêu lên:
– Nguyệt Nga!
Giọng Nguyệt Nga ráo hoảnh:
– Cái gì?
– Mầy có tỉnh hông đó?
Nguyệt Nga không nói gì nàng bỗng cất giọng cười lên lanh lãnh. Giọng cười nghe như tiếng gương vỡ. Nó cao vút, sắc lịm…tiếng cười đập vô vánh ván vang vang trong căn nhà tole nhỏ. Nó không phải là tiếng cười mà như tiếng rú, tiếng gào…Nhân Hậu thất kinh. Tiếng cười chưa dứt, ông Năm đã bước vô nhà. Ông nghe tiếng cười, khựng lại.
– Chuyện gì đó cô Hai? Con Sáu nó tỉnh dậy chưa? Nó ăn chưa vậy cô?
Như người chết đuối chụp được miếng ván, Nhân Hậu vụt đứng lên chạy ào ra. Giọng hốt hoảng:
– Chú Năm ơi, con Nga nó …nó…
Ông Năm bỏ cái bịch ny lon lên bàn. Ông hỏi:
– Con Sáu nó làm sao? Chuyện gì? Có chuyện gì vậy? Thằng gì đó đâu rồi?
Nhân Hậu lắp bắp:
– Hồi nãy nó tỉnh rồi. Nó đang ngồi với cháu…rồi nó phát cái chứng gì nó phát nó cười như điên…thì…thì chú vừa bước vô.
Ông Năm bước tới bên bộ ván. Ông cuí xuống,và nói:
– Sáu! Sáu à…Chú Năm đây. Mầy làm cái gì vậy.
Nguyệt Nga vẫn cười, bây giờ tiếng cười biến thành tiếng nức nở. Nguyệt Nga gục đầu xuống ván khóc rấm rức. Ông Năm thở phào nhẹ nhỏm:
– Thôi được rồi. Không sao đâu. Nó chưa qua hết cơn xúc động. Cứ để nó khóc đi. Như vậy là tốt đó. Lát nữa cho nó ăn cháo…đến chiều tối là nó khoẻ lại.
Ông quay ra nhìn xuống bếp:
– Thằng chồng của cháu ở dưới bếp hả?
– Dạ ảnh xuống múc cháo. Aûnh mới bước xuống đó.
– Đề chú xuống nấu thuốc cho nó. Cháu cứ ngồi đây trông chừng. Không sao đâu.
Nhân Hậu bước lại ghế ngồi xuống, miệng lầm bầm:
– Chuyện gì đâu mà rắc rối quá. Thiệt là khổ…không lẽ yêu đương thù hận nó làm con người ta ra như vầy?
Nguyệt Nga vẫn còn khóc rấm rức. Nhân Hậu cẩn thận, rón rén bước lại sau lưng.
– Nguyệt Nga! Tao nè, con Tư bạn mầy nè. Mầy đừng làm tao sợ nha.
Nhân Hậu đứng im sau lưng bạn, Nguyệt Nga vẫn gục đầu xuống bộ ván. Sáu Bảnh đã bước ra tự lúc nào nàng không hay biết. Trên tay bưng chén cháo, Sáu Bảnh nói nhỏ:
– Ủa, lại trở chứng rồi hả?
Nhân Hậu day người trở lại, nhìn Sáu Bảnh, mắt nàng u buồn.
– Anh Sáu để chén cháo đó đi. Em buồn quá anh ơi.
Sáu Bảnh như người rớt từ trên trời xuống. Ngơ ngác:
– Có chuyện gì vậy Tư? Ai làm cho Tư buồn?
– Anh Sáu ngồi xuống đó đi. Chuyện con Nguyệt Nga để chú Năm chủ nhà chú lo giùm. Em bây giờ hổng biết làm sao hết.
Sáu Bảnh trớt huớt:
– Vậy là mình đi về hả Tư?
Nhân Hậu đang buồn, nghe câu hỏi của Sáu Bảnh nàng phát cười ngang:
– Về đâu mà về.
Nhân Hậu ngồi xuống ghế đối diện Sáu Bảnh. Giọng buồn buồn:
– Em nghĩ sao hổng biết mà lạ kỳ hết sức.
– Là sao? Chuyện gì vậy?
– Thì chuyện con Nguyệt Nga.
– Ủa, chuyện của nó mắc mớ gì đến mình mà buồn. Bạn bè khi có chuyện thì mình tới giúp nhau, còn chuyện của nó làm sao mắc mớ gì đến mình đâu?
Nhân Hậu bực mình, nhưng nàng càng thương Sáu Bảnh. Thương cái tánh hiền đến độ ngây ngô, thiệt thà mà vô tâm của anh.
– Nói như anh thì đâu có chuyện gì để nói. Phải chi mà ai cũng được như anh thì đâu đến nổi có chuyện buồn.
– Ừa, thì chuyện ai người nấy lo, chớ mình lo làm được mà lo chớ?
Nhân Hậu quá biết cái tánh vô tư như con nít của Sáu Bảnh. Không trách, không buồn. Nàng hỏi:
– Giả tỷ như em có chuyện gì anh có buồn hông anh Sáu.
Sáu Bảnh cười cười:
– Hỏi ngộ hông? Buồn chớ sao lại hông. Mà em hỏi cái gì mà lạ ghê.
– Thì đó. Con người ta nó buồn là vậy đó. Khi mà yêu thương không được trọn vẹn thì người ta buồn…hổng phải buồn ít đâu, buồn tới điên luôn.
Sáu Bảnh ngơ ngác không biết người vợ anh yêu thương đang muốn nói chuyện gì. Nhân Hậu không để ý đến gương mặt “chúa Tàu nghe kèn” của Sáu Bảnh. Nàng nói tiếp:
– Ai sanh ra trên cõi đời nầy cũng muốn được sung sướng phải hông anh Sáu?
– Ừa, đúng rồi.
– Vậy sao có người muốn mà hổng được?
Sáu Bảnh kêu trời hổng thấu. Anh nhăn nhó:
– Chèn ơi, em hỏi mới là ngộ . Đâu có phải ai muốn cũng được hết đâu.
– Ừøa anh nói nghe được. Ước mà hổng được, xin mà hổng cho thì người ta phải buồn, phải khổ chớ.
– Thì đúng rồi.
Sáu Bảnh nói thêm:
– Mà Tư nói chi ba cái chuyện hổng ăn nhậu gì đến mình hết trơn vậy Tư? Có chuyện gì thì Tư nói phứt ra đi, Tư nói vòng quanh như con trâu bị cột gốc cây giữa đồng…tui …
Nhân Hậu cười:
– Thì em dắt anh Sáu đi vòng vòng cho anh chóng mặt chơi. Tại anh trớt huớt, anh lù khù Tư chọc anh đó.
– Chèn ơi, chi vậy em Tư. Tui nói thiệt mà. Thôi đi…đừng làm tui thót ruột.
Nhân Hậu nghiêm nét mặt:
– Hổng phải đâu anh Sáu ơi. Nhìn cái cảnh con Nguyệt Nga, em đâm ra buồn đó anh….em buồn ngang xương, em buồn như thể chuyện của em. Nghĩ mà coi. Con Sáu nó đâu có xấu phải hông? Nó cũng hiền thục,chăm chỉ….vậy mà sao cuộc đòi nó khổ quá mạng. Nó điên là phải rồi. Nhìn nó, em hổng phải thương cho số phận của nó mà em thương cho số phận của em, số phận của những đứa con gái quê như em.

Sáu Bảnh chưng hửng như trên trời rớt xuống. Anh ngồi im, Nhân Hậu nói tiếp suy nghĩ của mình:
– Anh nghĩ coi nha, làm cái phận đàn bà nó đã là một cái khổ, lại là cái kiếp đàn bà con gái ở quê còn khổ gấp mấy lần.
Sáu Bảnh trở mình, miệng cười chúm chím:
– Em nói cái gì nghe ngộ ơi là ngộ. Ngộ hết sức.
Nhân Hậu nhíu mày hỏi:
– Có gì đâu mà anh cứ kêu ngộ…ngộ hoài.
Sáu Bảnh cười ra tiếng. Anh ngó Nhân Hậu bằng ánh mắt thương yêu:
– Tư nói sao tui nghe làm vậy. Nhưng mà Tư nói con gái quê mình khổ thì tui mới thấy ngộ. Nói vậy chắc mấy chỗ khác không khổ đâu há. Con người sanh ra ở trên đời là phải bương chải mần ăn, phải cuốc đất vở mương tạo đồng lập cảnh mà sống chớ sao kêu bằng khổ. Ừ, thì cũng có khổ thiệt, giả tỷ như bữa nay nè, qua đến đất Sài Gòn tui mới thấy, con gái đàn bà ở đây họ sướng thiệt… con gái ăn tráng mặc trơn, quần MỹA áo cánh bông hoa sặc sỡ, Nhưng mà…chắc gì họ sướng hả Tư…thấy người ta bương chải, chạy rần rật ngoài đường, chen chơn hổng lọt, mua bán ồn ào…tranh giành, cướp giựt…thì sướng cái nổi nào. Còn như mình đây, cái làng quê êm ả, sáng sáng chiều chiều sông nước lặng lờ, hàng dừa soi bóng, con cá con mắm ngoài đồng ăn hoài hổng hết, đêm đêm câu hò tiếng hát…Tư nghĩ quê mình có sướng không?
Nhân Hậu thở dài:
– Anh Sáu nói như vậy thì Tư hổng cải với anh. Cái chuyện mà anh Sáu nói là chuyện khác, còn cái suy nghĩ của Tư là cái khác. Cái nỗi khổ của đờn bà con gái là chuyện tình cảm, là chuyện ”phu xướng phụ tùy”, cha mẹ đặït đâu còn ngồi đó, cái áo mặc không qua khỏi đầu. Dẫu biết rằng “làm hoa cho người ta hái làm gái cho người ta ngó”…người đờn ông không phải lo lắng nhiều, tỉ như anh đó, anh vô can hết thảy mọi chuyện đó mà.
Đầu óc Sáu Bảnh rối mù như giây cây giăng vướng gốc, như bàn tay bị con cá ngát nó đâm, chỉ còn biết hít hà:
– Tư nói chữ nói câu làm gì cho tui nghẹn họng? Chớ bây giờ Tư biểu phải làm gì ?
Nhân Hậu nhướng mắt nhìn người yêu, càng thương hơn. Nàng nhoẻn miệng cười:
– Đâu có biểu anh Sáu làm chuyện gì đâu. Buồn cho chuyện của con Nguyệt Nga nên Tư than với anh đó mà.
Sáu Bảnh chưa nói gì thì dưới bếp tiếng ông Năm kêu lớn:
– Sáu ơi Sáu à. Xuống đây tao nhờ chút xíu coi thằng Sáu mầy.
Nhân Hậu ngó Sáu Bảnh, nói:
– Chú Năm kêu anh cái gì đó. Anh xuống phụ một tay đi. Em ngồi đây với con Nguyệt Nga.
Sáu Bảnh quày quả bước xuống nhà bếp. Co ù tiềng ông Năm nói:
– Bây giờ như vầy, mầy ra ngoài sân sau lấy bó củi trên giàn xuống, chẻ nhỏ ra đem vô đây dùm tao. Nấu thuốc nó cực lắm, đáng lý ra phải nấu bằng than mới phải, mà kẹt cái bữa nay nhà hết than rồi, nấu củi phải canh chừng tao không bỏ đi được. Chịu khó chút nghen.
Sáu Bảnh vui vẻ:
– Có gì đâu mà khó chú Năm. Để đó tui làm cho.
Năm Gà xởi lởi:
– Mầy coi bộ ít nói mà nhặm lẹ dữ thần ôn. Tao coi được đa mầy. Lát nữa xế chiều, xong cái siêu thuốc nầy tao với mầy lai rai và ba xị. Tao thích mầy rồi đó Sáu.
Sáu Bảnh cười và bước đi, ông Năm kêu giựt ngược:
– Ê! Sáu, mầy có biết nhậu hông mầy?
Sáu Bảnh quay lại nhăn răng cười hể hả:
– Chèn ơi, chú Năm nói cái gì ma ø lạ ghê. Dù hèn cũng thể, dù bể cũng còn kêu cạch cạch chớ chú Năm. “Nam vô tửu như kỳ vô phong” mà chú.
Năm Gà cười lên ha hả ra điều thích chí:
– Ý mèn ơi, coi cái bộ tịch mầy củ mỉ cù mì mà cũng biết nói câu nói chữ dữ thần đa nghen.
Sáu Bảnh cười theo:
– Đâu có đâu. Học lóm đó mà.
– Được! Được! Tao coi bộ mầy ngon cơm. Thôi đi chẻ cho tao nắm củi đi rồi tính sau.

Nhân Hậu ngồi bên bạn, Nguyệt Nga bây giờ hết nằm, nàng đã ngồi lên, lưng dựa vô vách ván mắt ngơ ngác nhìn ra con hẻm trước nhà. Nhân Hậu thương bạn hết sức, nàng nhích sát gần bạn hơn. Vỗ về.
– Khoẻ chưa? Aên chút cháo nghen.
Nguyệt Nga không phản ứng, Nhân Hậu bưng chén cháo lên tay, múc một muỗng nhỏ đưa vô miệng bạn. Nguyệt Nga há miệng ra húp từng ngụm cháo nhỏ nuốt chậm rải. Hết muỗng nầy đến muỗng khác, Nhân Hậu mớm cháo cho Nguyệt Nga được vài ba muỗng. Bỗng! Nguyệt Nga ngậm chặc hai hàm răng không ăn tiếp. Nhân Hậu dỗ dành:
– Thêm vài ba muỗng nữa đi.
Nguyệt mở miệng, không phải để đón muỗng cháo Nhân Hậu vừa đưa tới. Nàng nói:
– Tao khoẻ rồi Hậu à.
Nét mặt Nhân Hậu rạng rở. Giọng nói phát ra như hơi thở phào nhẹ nhỏm:
– Mèn đét ơi! Mầy làm tao mừng hết lớn đó Nguyệt Nga. Mầy khoẻ lại rồi. Mầy khoẻ thiệt rồi.
Giọng Nguyệt Nga như gió thoảng:
– Ừa, tao thấy đỡ lắm rồi. Tao hổng có đói.
– Ráng ăn chút thôi. Hổng đói nhưng mầy phải ăn. Hồi trưa nầy mầy đâu có ăn gì đâu, hổng đói làm sao được.
– Ừa, tao ăn mà. Tao ăn cho mầy vui. Tao biết mầy khổ sở vì tao lắm. Tao chỉ còn mầy là bạn thân thiết nhứt mà thôi.
Nhân Hậu đưa tay chận ngang:
– Đừng, đừng nói vậy Nguyệt Nga. Mầycòn nhiều con bạn thân thiết mà…con Lụa, con Tám, con Quyên…cái đám bạn của mình từ cái ngày còn hỉ mũi chưa sạch đó mầy.
Nguyệt Nga chùng giọng:
– Ừa, cái đám mấy con quỷ đó là bạn của tụi mình. Nhưng mà tao thấy gần gủi mầyhơn. Tao mang ơn mang nghĩa mầy nhiều hơn. Nhớ cái ngày tao với mầy đi lên Châu Đốc bằng xe đò, cái ngày tao với mầy dắt nhau ra chợ Mỹ Tho. Cái ngày đó tao không bao giờ quên. Mầy hiểu tao hơn, mầy gần tao hơn…Con Lụa tánh nó thiệt thà nhưng nóng nảy, còn con Quyên củ mỉ cù mì chỉ cười hổng biết nói chuyện gì mà giọng hát thiệt là hay. Đứa nào cũng tốt với tao hết trơn, chỉ có tao là hổng biết điều. Tao chưa có làm điều gì cho tụi bay vui chỉ làm khổ tụi bay thôi.
Nhân Hậu để chén cháo xuống bộ ván. An ủi bạn:
– Mầy nghĩ tào lao gì đâu không à. Bạn bè có đứa vầy đứa khác, tánh tình thì ông trời ổng sanh…tao có làm gì hơn tụi nó đâu. Bạn tụi mình đứa nào cũng thương mầy hết trọi.
– Ừa, tao biết đứa nào cũng thương tao. Mà tao thì nghĩ tới mầy nhiều hơn. Không có mầy an ủi thì tao đã chết từ tám mươi đời vương rồi chớ đâu còn tới ngày hôm nay.
Nhân hậu giơ chém cháo lên.
– Mầy đừng có nói nữa được hông? Cái trước mắt là mầy ăn cháo, uống thuốc cho mau hết bịnh rồi còn đi về.
Nguyệt Nga thở ra:
– Nói tao mới nhớ. Gần cả tháng nay tao chưa biết làm chuyện gì để mà sanh sống. Á! Tao chưa kể mầy nghe hả? Cái chuyện mấy ngày tao ở Sài Gòn nè.
Thấy bạn đã tỉnh táo, Nhân Hậu bỏ bụng mừng; nghe bạn nhắc chuyện, nàng vui vẻ nương theo:
– Ừa, tao chưa được nghe. Từ hồi sáng đến giờ tao với mầy chưa nói gì hết trơn. Đâu mầy kể tao nghe coi.
Một bóng mờ vừa che phủ nét mặt Nguyệt Nga, nửa như vui mừng nửa như khó chịu. Giọng trầm trầm, nàng nói:
– Tao gặp một đứa bạn. Ơ! Mà không phải bạn, con đó tao biết hồi cái năm tao ở chợ Mỹ Tho. Con Lép…
Nàng ngừng lời, Nhân Hậu nhìn chăm chú lắng nghe.
– Con Lép. Ừa, nó tên là Lép, bây giờ nó tên là Linda…Chèn ơi, Linda…cái tên nghe sao lạ hoắt.
– Mà nó làm gì mầy?
– Không làm cái gì hết trơn. Tao cũng vô tình gặp nó ở ngoài chợ, chỗ dì Năm bán gà.
Nguyệt Nga im lặng. Nhân Hậu kiên nhẫn ngồi im. Mùi thuốc thơm nồng từ nhà bếp bay lên, căn nhà hơi mờ tối khi ngoài hẻm đã tắt nắng. Con hẻm bị những căn nhà trồi sụt, cao thấp khác nhau che hết ánh nắng chiều. Con nít đã tụ tập đông hơn và ồn ào hơn; một vài hàng quán bán đêm đã dọn tràn ra con hẻm.
Nguyệt Nga im lặng ngó ra hẻm, giọng nàng đều đều:
– Con Lép ở chợ Mỹ Tho là một đứa con gaí nghèo, nó có chút sắc đẹp, không biết tại sao nó lên đây và bây giờ nó thay đổi hoàn toàn. Quần áo nó sáng rực rỡ, móng tay chuốt trơn tru, hai bàn tay nó bây giờ đeo vàng đỏ tay. Nó làm ăn cái nghề tao không biết. Nhưng…
– Nhưng làm sao?
– Tao không biết nói sao cho mầy nghe. Tao thấy nó đi với một người đàn ông tên Chương, nó biểu ông Chương xin việc cho tao. Mà cái ông Chương đó, tao hổng chịu chút nào.
Theo dõi từ đầu câu chuyện, Nhân Hậu không hiểu Nguyệt Nga nói cái gì, nàng mơ hồ nghe tên Lép, Linda, người đàn ông Chương … Câu chuyện không đầu đuôi, ngắt quảng.
– Mà mấy người đó liên quan với mầy ra sao?
– Liên hệ gì đâu. Tao nói là con Lép là con Linda, ông Chương là bạn của nó.
– Ừa, rồi sao?
– Ông Chương có vợ rồi, tao mới gặp hai người đi chợ sáng nay nè.
Nhân Hậu càng mơ hồ hơn. Nàng chận ngang lời bạn:
– Thì có sao đâu. Đàn ông có vợ là chuyện bình thường mà.
Nguyệt Nga cải:
– Bình thường sao được chớ?
– Tao hổng hiểu mầy nói cái gì. Cái ông tên Chương có vợ thì đâu có sao đâu.
Mặt Nguyệt Nga sáng lên, ánh mắt như có tia lửa:
– Đàn ông gì mà kỳ cục. Có vợ rồi mà còn đèo bòng. Dì Năm nó đất Sài Gòn kỳ cục lắm, chuyện gì cũng ngược hết trơn.
Nhân Hậu đưa hai tay ra trước với dáng điệu ngơ ngác:
– Tao không hiểu.
– Có gì mà không hiểu. Theo tao thấy, họ dẫn tao đi ăn tiệm, tao coi mòi con Linda Lép làm vợ bé cái ông Chương.
– Vậy sao?
– Ừa, nhưng chưa hết đâu nha. Oång còn chọc ghẹo nói xa nói gần với tao trước mặt con Lép mà nó tỉnh bơ à. Nó nói tao đi theo nó mần công chuyện như nó…mà tao thì mường tượng ra là đi làm …
– Làm gì?
Nguyệt Nga đau khổ:
– In tuồng như là nó đi làm …làm…đỉ.
Nhân Hậu phát la lên:
– Ý mèn đét ơi. Mầy nói cái gì?
Giọng Nguyệt Nga yếu xìu:
– Nó rủ tao đi làm đỉ.
– Trời đất quỷ thần ông địa ơi.
– Thì tao thấy như vậy tao mới buồn.
Giọng Nhân Hậu nghi ngờ :
– Mầy nói con Lép rủ mầy đi làm đỉ?
– Thì tao đồ như vậy.
Nhân Hậu hứ nghe một cái cốc:
– Đừng nói tầm phào. Nó chưa nói với mầy mà sao mầy dám nói như vậy?
Nguyệt Nga lên giọng:
– Thì đâu đợi nó nói chớ. Tao có ngu mà tao thấy cái mòi đó tao cũng biết mà.
Nhân Hậu hỏi tiếp:
– Rồi mầy đi với nó nên mầy buồn mầy chán, mầy oán mầy hận?
Nguyệt Nga lắc đầu thở ra:
– Chưa. Mới đi ăn tiệm mấy lần thôi hà. Nó còn nói nó sắm đồ cho tao nữa.
Nhân Hậu lắc đầu:
– Mầy đừng nghi oan cho bạn mầy tội chết.
Nguyệt Nga cố cải:
– Nghi gì mà nghi. Tao thấy rõ ràng mà. Trước mắt tao đó mà.
Tấm lòng Nhân Hậu không bao giờ nghĩ xấu cho bất kỳ ai, đối với nàng, người dân Việt đã quá khổ cực rồi thương không hết lấy đâu mà giận hờ, nghi ngờ đổ lỗi cho nhau. Từ ngày tía má cho nên hình nên vóc, ông trời cho được có trí khôn, đến trường đi học, ông thầy dạy cho biết đọc biết viết, để đọc mà biết văn chương chữ nghĩa thánh hiền, biết nhân quả nhà Phật, biết lưới trời tuy thưa mà không lọt; tích đức phùng đức, tích thiện phùng thiện. Những chuyện bên Tàu bên Tây, những triết lý đông tây kim cổ nàng có đọc qua. Người con gái nhà quê chân đất đó hiểu biết mà không làm gì được, đời nàng khổ kể gì. Cái ước ước mơ làm cô giáo cũng bất thành chỉ vì ông Năm Hương bất đắc chí đưa vợ con về quê cuốc đất mần ruộng. Nhân Hậu biết thế nào là sự dốt nát. Và sự dốt nát luôn luôn kèm theo sự nghèo đói và khổ cực. Cũng may, cuộc đất Đồng Tháp Mười, có đủ mọi thức cần dùng gần như vô tận từ ông Trời cho, ăn hoài không hết. Cái may mắn đó biết đến bao giờ sẽ dứt? Đã may mắn làm vậy mà người dân quê vẫn ở chòi lá, ăn gạo chợ uống nước sông…
Nhân Hậu nghĩ ngợi mông lung, bất chợt nàng thở dài nghe não ruột, thương bạn qua chừng. Mừng bạn thoát khỏi cơn bịnh ngặt nghèo bị khùng bị điên.
Mặc cho Nguyệt Nga kể chuyện Sài Gòn, Nhân Hậu nhìn bạn chăm chú, nàng theo dõi từng cử chỉ, ánh mắt, nụ cười.
– Cầu xin cho nó đừng điên.
Nàng nói thầm, đã có nhiều chuyện xảy ra trong làng, người ta buồn quá hóa cuồng hóa điên mà bên ngoài mặt vẫn tỉnh rụi ngon ơ như người bình thường. Những cơn điên như vậy người bịnh và người chung quanh không biết. Những cơn điên nguy hiểm.
Nguyệt Nga tiếp tục nói về Sài Gòn. Giọng nàng trầm trầm có chút xót xa. Không muốn đễ bạn trầm uất trong những suy nghĩ không mấy tốt, Nhân Hậu kéo bạn về cảnh quê, xóm làng trù phú, thiên nhiên tưới mát tốt tươi.
Nhân Hậu chen vô câu chuyện:
– Thôi, đừng nói ba cái chuyện nghe chán muốn chết, lại làm cho mầy càng buồn thêm. Đã bước tới thì cố gắng mà đi. Còn buồn quá tao kể mầy nghe chuyện nầy.
Nhân Hậu chờ Nguyệt Nga uống nước, nàng cũng bưng ly nước uống một ngụm. Nàng tiếp:
– Trời bây giờ chập choạng tối rồi, ở đây đèn đường sáng trưng, còn ở miệt dưới mình tối hù à. Nhưng mà mầy biết mùa này ở Đồng Tháp Mười có chuyện gì vui hông?
Nguyệt Nga ngẩn ngơ chút xíu.
– – Tao đi cũng lâu nhưng mà có đi có về mà. Sao tao hổng nhớ cà. Hay là mầy nhắc gặt đập và hát đố trên sân lúa?
Nhân Hậu cười:
– Lúa đâu mà lúa mùa nấy, gần tết rồi chớ bộ. Để tao nhắc mầy nhơ.ù Một trong những cái đẹp và hấp dẫn nhứt của xứ sở mình là những sân chim, vườn cò.
Nguyệt Nga sáng mắt lên:
– A! Tao nhớ rồi chim tràm Đồng Tháp Mười,
Ông trời cũng công bằng, cái cánh đồng nước nổi mà quanh năm ngập phèn ngập nước, nhờ vậy mà tràm đước vẹt mọc lưu cửu ở trỏng làm sân cho chim đậu kể gì.
Sáu Bảnh đang ngồi ngáp vặt, nghe nói chim hừng chí ngứa miệng xía vô:
– – Í mèn ơi, đừng nhắc tới sân chim. Giác này mà vô sân chim thì phải biết. Tui nhớ lần đầu tui với thằng Út giữa đi lạc muỗi nó cắn cho mà bá thở. Bây giờ thì rành sáu câu rồi.
Nguyệt Nga rành rõi:
– Ừ, ngộ hén, cái gì cũng có luật bù trừ ráo trọi. Nước phèn, rừng tràm, năng, lát đã cho con người biết bao nhiều tài nguyên quý giá kể gì, Nếu mà hổng có nó làm sao mà dân mình sống cho nổi với ba hột lúa. Mà nghe đâu người ta săn người ta bắn dữ thần lắm.
Như gải trúng chỗ ngứa, Sáu Bảnh nhảy vô liền:
– Khỏi nói. Hổng bán mà làm bẩy bắt tuốt luốt luôn. Hàng mấy chục cây số ngàn, nhìn mút mắt trong rừng tràm, nhưng tui độ chừng chỉ có khoảng nào đó mới nhiều chim thôi à. Chim nó cũng như con người ta vậy. Nó biết tụ lại thành đàn, và nó chọn chỗ ở hẳn hoi đó nghe. Như mình tụ tập trên bờ mẫu, xóm gò, doi sông…thì tụi nó cũng vậy. Cho nên có chỗ chim nó về cơ man nào mà kể. Chắc có hàng trăm loài mà mình không biết hết được.
Nhân Hậu ngó Sáu Bảnh mĩm cười sung sướng. Nàng nói thầm:
– Ít ra ảnh cũng còn có chút kinh nghiệm và biết ghi nhớ. Chỉ tội không có điều kiện để đi học cho nên mù mờ ú ớ trước những việc xảy ra trong đời sống, trong thiên nhiên.
Sáu Bảnh đang ngon trớn nói ào ào, ngó trực lại thấy Nhân Hậu ngồi im tủm tỉm cười, anh phát hoảng:
– Mẹ, chắc là nói tầm ruồng chuyện gì rồi.
Ngó Nhân Hậu anh hỏi:
– Ủa, coi bộ tui nói cái gì không nên không phải hay sao mà em Tư ngồi tủm tỉm hoài vậy?
Nhân Hậu đỏ mặt sung sướng:
– Đâu mà có anh Sáu. Tư ngồi nghe anh nói đó mà. Anh nói đúng đó, phải chi mà người ta mướn mình có cái nghề kiểm chim, nuôi chim thì hay biết mấy ha.
Sáu Bảnh nói liền:
– Có chớ sao lại không cưng. Người ta thuê mướn nhiều đó chớ, nhưng mà Sáu nghĩ cái nghề ác đức nên không muốn mần.
Nhân Hậu sáng mắt lên. Hai mắt nàng chiếu ra những tia rực rở như ánh sáng ban mai. Nhìn Sáu Bảnh, nàng nói:
– Anh nói phải.
Sáu Bảnh gật đầu:
– Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá mà khá làm sao nổi.
Nhân Hậu cười:
– Ừøa, để Tư kể anh Sáu cho anh với con Nguyệt Nga nghe một chút về các giống chim ở cánh đồng của mình. Ở đó có thể có hàng trăm loài thực vật cây cỏ, mà nhiều nhứt, là tràm, lúa ma, cỏ lác, năng, bông súng, bông sen…ai cũng biết rồi há, ngoài ra còn có hơn trăm loài động vật có xương sống, trong đó có các loài bò sát như rắn, kỳ đà, cá sấu; rồi các loài chim, có nhiều loại chim quý. Có một số loài chim quý như loài cò cốc, thường sinh sống ở các đầm lầy, làm ổ ở những khu rừng ngập mặn, rừng tràm, loài gà đẩy, hạc trắng, cúm núm…biết cơ man nào mà kể.
Nói tóm lại thì miệt lục tỉnh ngoài cái chuyện ruộng lúa cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi chưa hết, nào vườn, nào đìa, con cá con mắm nhóc ra đó, còn có nhiều chim nữa nghen; như ở Bạc Liêu, Cần Thơ, Cù Lao Thới Sơn ở Mỹ Tho. Nghe mà sướng há.
Nguyệt Nga khen:
– Ừøa, nghe đã cái lỗ nhỉ ghê…mà sao mình cứ nghèo mạt rệp vậy mầy?
Tới chỗ nầy Nhân Hậu ú ớ liền. Mặt nàng xìu xuống như bánh tráng nhúng nước.
Nguyệt Nga nói thêm:
– Ở Sài Gòn sung sướng ăn trắng mặc trơn, tuy có khổ mà còn có cái ăn. Còn như ở dưới mình, đất nước giàu ba chê mà dân mình cứ khổ. Ở đây tao mới biết. Chú Năm ở đây chú nói, người Sài Gòn khoái đi về lục tỉnh để nghỉ hè. Ai có tiền có bạc tậu miếng vườn đào cái ao nuôi cá….hoặc giả mấy ông đại điền chủ có vườn ruộng ở miệt lục tỉnh nhưng nhà cửa lâu đài thì ở Sài Gòn. Mầy biết người ta về đâu hông?
Con Lép, quê nó ở gần Thới Sơn, cái miệt đó vườn tược trù phú mà nó thì nghèo tả tơi. Bây giờ đời nó được lên hương, nó nói người ta hay ghé thăm miệt vườn như ở cù lao Thới Sơn bên kia Rạch Miễu, ở đó cây trái sum sê. Dọc theo dòng Tiền Giang, một bên là vườn cây trái ngọt tiếp nối bạt ngàn với các bến sông tấp nập ghe xuồng chất đầy trái cây, ngó qua bên kia sông là cồn Rồng. Nó nói cái ngày nó còn ở quê nó đâu có thấy đẹp, mà bây giờ khi nó lên Sài Gòn, ăn trắng mặc trơn có tiền của quay về thăm quê, nó mới hưởng được cái thú đó. Nó lội bộ từng bước thong thả nhàn hạ trên cù lao, đi dưới những tàn lá vườn cây nặng trĩu bông trái thơm lừng như xoài, mận, sầu riêng nghe lòng khoan khoái tê mê sung sướng.
Sáu Bảnh nuốt nước miếng nghe “ực” một tiếng.
– Mèn đét ơi, xoài xanh, cái thứ xoài tượng còn xanh nó dòn kể gì. Nước mắm ngon, vài ba muỗng đường, rồi xoài xắt ra từng lát dày cui, múc mắm đường cắn nghe cái rốp….ê thấu chưn răng, vậy mà ngon. Đừng nhắc tới xoài làm tui phát thèm.
Nhân Hậu, Nguyệt Nga nhìn nhau cười ý nhị, cả hai người kín đáo che dấu sự thèm muốn chảy nước miếng khi nghe nhắc đến đồ chua.
Nguyệt chép miệng cố lấn lướt qua cái thèm. Nàng nạt Sáu Bảnh:
– Cái anh Sáu nầy kỳ ghê. Nhắc chi cho người ta thèm muốn chết. Để tui kể tiếp chuyện người Sàigòn họ nói cho mà nghe. Mình sanh ra ở đó, mình lớn lên ở đó, mình ôm bập dừa lội sông ở đó mà mình đâu có thấy đẹp gì đâu. Nay họ nói mình mới bật ngửa. Tỉ như người ta đi thăm cồn Phụng của ông Đạo Dừa là những lối đi trên ván, như một cái làng nổi trên sông, những con đường dẫn vô các xóm có chợ búa, có hàng quán, được coi chiếc thuyền Bát Nhã của ông Đạo Dừa. Trên chiếc thuyền đó, ông làm hình một cái bản đồ nước Việt Nam ở cái chỗ kêu bằng HàNội, ổng dựng một cái đài bát giác, bên Sài Gòn ổng cũng dựng một cái đài bát giác.

Nguyệt Nga ngưng ngang, Sáu Bảnh đang dỏng tai lên nghe, bất đồ ba bên bốn phía im ru, tức quá anh la lơnù:
– Ủa, sao kỳ dzậy, đang kể đến chỗ hay phát ngừng lại ngang xương không có nhịp song lang gì hết ráo vậy Sáu.
Nguyệt Nga nhoẻn miệng cười. Nụ cười từ sáng đến giờ Nhân Hậu đang chờ. Nó cười tươi như vậy thì nó hết bịnh thiệt rồi. Nàng dấu tiếng thở ra nhẹ nhỏm như cất được gánh nặng trên lưng. Nguyệt Nga uống nước.
– Thì anh cũng phải cho tui xả hơi, lấy trớn, uống chút nước thấm giọng chớ. Xong rồi.
– Uống thì uống lẹ lẹ lên. Kể coi ông Đạo Dừa ổng mần cái gì.
Nguyệt Nga cười như nắc nẻ khi nghe Sáu Bảnh hỏi:
– Mèn đét ơi, anh qua chợ Mỹ bao nhiêu bận sao anh hổng tấp ngang qua đó mà coi cho biết.
Tức quá Sáu Bảnh phan ngang:
– Nói như mầy, thì còn gì để nói nữa. Tao qua đó coi ông Đạo Dừa thì ai chống chèo cho tao? Có rảnh đâu mà đi ngang đi dọc như vậy. Mà nói thiệt tình là từ nào đến giờ tao chưa biết ở trển có gì đó nha.
Nguyệt Nga la chói lói:
– Í mèn ơi, anh Sáu mầy tao với tui ha. Đâu như hồi con nít nữa.
Sáu Bảnh yếu xìu:
– Ừ, thì tao…ủa quên…bỏ qua cho tui.
– Nói chơi vậy mà. Để nói tiếp nghe nghen. Cái đài bát giác đó cao lắm, cao như là cái cột buồm tàu thủy, mấy người đệ tử nói mỗi ngày mấy bận, đứng ngọ hoặc nửa đêm…ông Đạo Dừa lên đài cầu nguyện rồi đi qua đi lại cái cầu…àtui quên nói thêm là, giữa hai cái đài bát giác đó ông Đạo có xây một cây cầu nối ngang giữa hai cái đài. Ông đạo đi qua đi lại, ông Đạo cầu nguyện.
Sáu Bảnh chịu hông nổi hỏi liền:
– Ủa, ổng đi qua đi lại cầu nguyện cái gì?
Nguyệt Nga ngừng nói, ngước mắt nhìn Sáu Bảnh:
– Ủûa, bộ anh hổng biết thiệt sao?
– Đã nói rồi mà. Hổng biết là hổng biết chớ thiệt giả nổi gì nữa.
– Vậy để tui nói tiếp. Ông Đạo cầu nguyện là cầu nguyện cho 2 cái miền Nam và cái miền Bắc được bình an, cho hai người ở 2 nước đó nói chuyện với nhau.
Sáu Bảnh lắc đầu:
– Hai nước là hai nước nào?
Nguyệt Nga nhăn mặt:
– Cái cha Sáu nầy dzô dzuyên hết sức à nghen. Anh hỏi tui thì tui đi hỏi ai đây.
Sáu Bảnh sừng sộ:
– Hổng biết thì tui phải hỏi chớ. Sao đương không chữi tui dzô dzuyên. Sao kỳ cục dzậy? Lãng nhách à.
Nguyệt Nga ngó Sáu Bảnh chăm chú, nàng bỗng hỏi:
– Anh hổng biết cái bắc Rạch Miễu?
Sáu Bảnh cười:
– Sao hổng biết, nó nằm ở sông Tiền, Mỹ Tho qua Bến Tre chớù ở đâu mà hổng biết.
– Vậy sao anh còn hỏi, ở khúc sông đó có 4 cái cồn là cồn Rồng, cồn Phụng…
Sáu Bảnh nhảy vô:
– Chèn ơi, biết chớ sao không. Cái tui hỏi là cái cồn ông đạo Dừa.
Nguyệt Nga cười nhỏn nhoẻn:
– Ừa, thì thủng thỉnh tui nói cho mà nghe. Sớn sát không hà.
Như vầy, trên cái cồn đó, có nhiều nhà lập thành làng thành xóm ở trển, hổng ghé vô chơi là hổng biết đâu. Nó có chợ nè, quán ăn, hàng quán bán đủ thứ không thiếu thứ gì hết. Mà cái ngộ là người ta sống trên đó người ta ăn chay trường. Trường trai và tu hành là mấy người đệ tử của ông Đạo đó. Bận áo nâu sòng, trường trai như thể mấy ông sư.
– Vậy sao?
– Chớ hổng lẽ tui nói thêm làm gì. Ờ, còn cái thuyền đậu ở giữa sông kêu bằng thuyền Bát Nhã, trên cái thuyền đó, người ta nói ông Đạo mỗi ngàylên trển cầu nguyện. Còn hai cái đài cao là chỗ ổng cầu nguyện cho quốc thới dân an, cầu nguyện cho người mình được sung sướng khỏi phải chiến tranh.
Sáu Bảnh hít hà, khen rối rít:
– Oång tốt quá hả. Rồi sao nữa?
– Người ta nói ổng nuôi nhiều con vật ngộ lắm.
Sáu Bảnh nhảy vô hỏ:
– Con gì mà ngộ?
Nguyệt Nga háy Sáu Bảnh một cái, không trả lời, nàng kể tiếp:
– Thì nuôi con gà, con chuột, con mèo, con chồn…
Sáu Bảnh mấp máy cái môi định nói, Nhân Hậu liếc mắt cản lại. Nguyệt Nga ngó thấy, nàng cười:
– Tui biết anh định nói gì rồi. Anh định nói mấy con đó ai mà hổng nuôi được phải hông?
Sáu Bảnh cười hề hề gật đầu. Nguyệt Nga tiếp:
– Tui biết liền mà. Thì ai nghe cũng nghĩ vậy. Nếu mà như vậy thì đâu có gì để nói phải hông? Ai mới nghe qua cũng nghĩ như vậy hết trơn. Nhưng mà hổng phải vậy đâu nha. Oång nuôi chung mấy con đó với nhau mới là ngộ.
Sáu Bảnh nhíu mày suy nghĩ, Nhân Hậu cười và ngồì im. Nguyệt Nga sung sướng ra mặt. Nỗi sung sướng của con người biết nhiều hơn người khác.
– Hổng phải mình anh đâu nha. Để tui nói cho mà. Oång nuôi con chuột với con mèo chung trong một cái chuồng, con gà sống chung với con chồn…Bây giờ anh thấy lạ chưa? Có ngộ hông?
Sáu Bảnh trả lời trớt huớt:
– Hông. Tui hổng thấy gì ngộ hết trơn.
Nguyệt Nga cụt hứng:
– Vậy mà hổng ngộ à?
– Ngộ làm sao?
Nguyệt Nga nhăn mặt:
– Anh nầy thiệt là làm sao á. Vậy mà anh hổng thấy nó ngộ ha? Nè, tui hỏi anh nha. Con mèo với con chuột là gì? Con chồn với con gà là gì?
Sáu Bảnh coi bộ suy nghĩ:
– À! Tui biết rồi. Con mèo nó bắt con chuột, con chồn nó ăn con gà. Rồi sao?
Nguyệt Nga ngó Nhân Hậu cười hãnh diện:
– Đó! Đó! Hai thứ đó là như nước với lửa, như mặt trời mặt trăng. Ông Đạo ổng nuôi chung mà nó không cắn lộn, con này không ăn thịt con kia. Đó, như vậy mới là tài đó. Oång có phép thuật mà.
Sáu Bảnh ngơ ngác hỏi:
– Mà ổng nuôi như vậy chi vậy cà?
– Thì nuôi cho nó lạ chơi chớ chi.
– Hay là ổng làm như vậy để ổng bán vé cho người ta coi như là coi hát vậy?
Nguyệt Nga nói liền:
– Hổng có đâu. Ai muốn coi thì coi không có mất tiền đâu.
Sáu Bảnh vẫn thắc mắc:
– Oång làm vậy chi?
Nguyệt Nga lắc đầu:
– Tui hổng biết. Nhưng mà như vậy mới là tu chớ. Người ta nói khi mình đi tu là mình có pháp thuật. Như tỉ ở trên núi Cấm đó, trên Thất Sơn đó. Anh có nghe ở trển có cái bàn cờ tiên hông?
Sáu Bảnh lắc đầu gọn lỏn:
– Hông.
Nguyệt Nga hãnh diện làm cái bộ song tàn:
– Ý chời ơi, ở trển mà hổng biết hả?
Sáu Bảnh thiệt thà:
– Hông. Thất Sơn thì tui biết, con sông Thoại Hà thì tui có giòng ghe qua đó mấy lần. Con sông Giang Thành ở rạch Giá, Hà Tiên tui có qua đó mấy bận. Núi Thạch Động Hà Tiên tui có qua. Tui lễ miếu Bà Chúa Sứ tháng 10 thì có….mà cái bàn cớ tiên thì tui chưa biết.
Nguyệt Nga khen:
– Ý mèn đét ơi. Anh coi bộ củ mỉ cù mì mà đi nhiều quá ha. Ừ, mấy chỗ anh kể đó mỗi nơi đều có cái tích của nó hết đó nghen. Mà anh chưa thấy bàn cờ tiên trên núi Cấm?
Sáu Bảnh lắc đầu:
– Chưa.
– Vậy sao. Ở trên đó có một cái bàn cờ…mà ngộ lắm nha. Có đủ mấy chục con cờ đàng hoàng nha, bằng đá màu đen, cái bàn cờ nằm trên bàn đá, cái bàn và bộ cớ đó nó nằm ở trên lưng chừng núi. Mà anh biết đánh cờ hông?
– Biết. Hỏi chi?
– Thì hỏi để anh nghe mới kịp. Caiù bàn cờ có đủ tướng sĩ quân lính voi ngựa xe pháo nha. Đánh được luôn đó nha.
Sáu Bảnh nóng ruột:
– Ừa biết rồi. Sao nữa?
Nguyệt Nga như quên đi câu chuyện buồn của mình. Nàng cười tươi tỉnh:
– Cái gì mà nóng nước đỏ gọng vậy trời. Thủng thỉnh tui nói.
– Cái chuyện thì hổng có đầu đuôi gốc ngọn gì ráo mà cà kê lòng thòng. Cái nầy kêu bằng hát dỡ mà mần tuồng thì lâu.
– Xí! Đã kể sự tích cho nghe mà còn nói cạnh nói khoé người ta.
– Nói thiệt đó chớ.
– Chán anh thấy mồ. Bây giờ có muốn nghe nữa hông nè?
Sáu Bảnh cười hề hề:
– Nghe chớ. Nhưng kể lẹ lên. Đừng có chuyện nọ xọ qua chuyện kia. Đang ở Cồn Rồng phát nhảy qua nuí Cấm.
Nguyệt Nga háy Sáu Bảnh một cái dài sắc lẻm, nhưng miệng vẫn tiên tu bất tận:
– Ừa, cái bàn cờ đó ai muốn lên đánh thì đánh nha. Không có ai trông coi gì ráo. Nhưng có điều lạ là như vầy.
Sáu Bảnh nhấp nhõm, Nguyệt Nga ngó Sáu Bảnh cười mĩm chi ra cái đều đừng có nóng. Nguyệt Nga không để ý, nàng tiếp
– Cái đều lạ là mấy cái con cờ đó nó vẫn ở dó hổng biết là bao lâu nhưng không bao giờ mất nha. Có người nói là nếu mà có ném nó xuống vực sâu, ngày mai trở lại nó vẫn còn đủ như thường. Người ta kể là có người rắn mắt phá chơi, đem con cờ ném xuống dưới núi, đến ngày mai trở lại bàn cờ vẫn không thiếu con nào. Chà! Như vậy mới là ngộ chớ.
– Thiệt hông?
– Thiệt chớ sao hông?
– Cô Sáu có đến đó coi chưa?
Nguyệt Nga bẻn lẻn:
– Ờ! Cái đó thì chưa.
– Chưa tới đó coi lần nào mà sao kể nghe như thiệt?
Nguyệt Nga nói chắc nịch:
– Chuyện đó thì chắc. Hông tới coi lần nào mà tin là có thiệt.
– Sao thiệt?
– Hổng thiệt làm sao người ta kể ra được chớ?
– Ủa, bộ hể kể ra là có thiệt hả?
– Hổng có làm sao thành chuyện được chớ? Mà anh có biết Châu Đốc hông cái đã?
– Sao lại hổng biết?
– Vậy là anh biết Thất Sơn?
– Ừa, chi?
– Chuyện gì ở Thất Sơn đều có thiệt người ta mới nói. Như Ngày Vía Bà Chúa Xứ, nếu hông có bà Chúa Xư ùlàm sao có ngày cúng của bả được? Anh hổng có mẹ cha làm sao có anh bây giờ?
Sáu Bảnh cứng họng. Anh xoay qua chuyện khác.
– Ừa, cứ cho là như vậy đi nha. Còn cái chuyện ông Đạo Dừa, kể tiếp đi chớ?
– Có gì đâu nữa mà kể?
– Có chớ sao hông. Hồi nãy cô Sáu nói ổng lên trên Bát Quái Đài cúng ở trển rồi đi qua đi lại cầu nguyện cho hòa bình rồi sao? Câu chuyện chưa hết mà?
Nguyệt Nga cải:
– Tui hổng có nói Bát Quái Đài à nha.
Sáu Bảnh cười:
– Ừa! Thì cô hổng nói, tui nói đó. Cái đài xây hình bát giác…như là trong chuyện Phong Thần kêu bằng Bát Quái Đài. Cái đài ông KhươngTử Nha lên đó đặt bảng Phong Thần cho chư tiên.
Nguyệt Nga cười nghặt nghẻo:
– Ý cha, cái anh Sáu ảnh cũng thuộc chuyện xưa dữ à nha.
– Có gì đâu. Coi hát bộ mà hổng biết sao? Nhưng mà nói cái chuyện ông Đạo Dừa cầu nguyện đi chớ. Oång nuôi mấy con gà con chuột rồi làm sao?
– Cái nầy thì tui chịu thua luôn. Con Nhân Hậu nó biết nó kể cho mà nghe kìa. Hỏi nó đi.
Nhân Hậu nãy giờ ngồi im, nỗi lo trong lòng nàng về con bạn đã vơi đi gần như không còn nữa. Nàng thấy nhẹ người, như vừa trút được gánh nặng trên vai. Ngồi im lặng nghe hai người đối đáp qua lại không nói tiếng nào. Khi biết chắc Nguyệt Nga không còn trầm uất, những chất chứa u sầu đã trút bỏ. Nhân Hậu nhìn Nguyệt Nga:
– Cái gì mà kéo tao vô trỏng?
– Thì cái thằng cha Sáu nầy kỳ cục. Tao kể chuyện gì thằng chả cũng hổng tin, chả vặn vẹo bắt bí tao quá xá. Tao biểu hỏi mầy đi.
Nhân Hậu cười:
– Thì có gì đâu. Hổng biết thì hỏi chớ có gì xấu đâu.
– Thì mầy nói đi.
– Nói cái gì mơiù được?
– Mầy có qua cồn Phụng rồi hả? Mầy có thấy con chuột sống chung với con mèo? Con Gà sống chung với con chồn ha? Mầy nói đi. Tại sao làm chi vậy?
Nhân Hậu ngó qua Sáu Bảnh, trông cái bộ tịch anh ta cũng đang nhóng lên nghe. Nàng cười:
– Có gì đâu mà khó đâu cà. Mầy biết rồi, ông bà mình nói là như mèo với chuột. Con mèo nó ăn con chuột. Hai con đó không bao giờ sống chung được với nhau. Hễ con chuột gặp con mèo là chạy trốn, con mèo thấy con chuột là chụp liền. Con chồn thích ăn thịt con gà…Nói chung là hai giống đó nó kỵ với nhau. Hai giống đó nó không bao giờ sống được gần nhau, là kẻ thù truyền kiếp đó mà. Bây giờ, ông Đạo ổng đem hai con vật không đội trời chung, hai con vật khắc chế lẫn nhau và ổng cho nuôi chung trong một chuồng.

Sáu Bảnh hỏi liền:
– Mà để chi?
Nhân Hậu cười hiền:
– Oång muốn chứng mình và dạy dỗ cho tín đồ, những tín hữu tin vào giáo lý của ổng một điều là: Trên thế gian nầy không có cái gì mà không hòa thuận được. Oång dạy cho tín đồ của ổng một chân lý: Hòa bình sẽ mang lại bình an. Không còn cảnh cá lớn ăn cá nhỏ, người nầy chèn ép người kia. Như con vật đó, nó còn có thể sống vơi nhau thuận hòa, thì hà huống gì mình là con người mà mình không thể sống bình an với nhau. Bạo lực sẽ không đem đến bình an. Chỉ có con tim thương yêu mới đem lại bình an. Và chỉ có con tim biết thương yêu mới hóa giải được hai đối cực, như con gà sống với con chồn, con chuột làm bạn với con mèo.
Nhân Hậu cố gắng nói cái lý cao siêu bằng những lời bình dân thực tế, nhưng nhìn vô mặt Sáu Bảnh, nàng hiểu người yêu của nàng vẫn chưa thấu suốt được cái lẽ huyền vi trong một câu chuyện tầm thường. Không có gì lạ đối với nàng. Cái lẽ huyền vi đâu có phải một ngày một bữa mà thông. Nếu nàng không được ông Năm Hương hướng dẫn, không có sự giải thích tận tường của thầy thì nàng đâu khác Sáu Bảnh, hay Nguyệt Nga.

Leave a Reply