home Truyện Dài Cánh Đồng Nước Nổi (12)

Cánh Đồng Nước Nổi (12)

Chiếc xe taxi quay đầu về hướng Sài Gòn, Nguyệt Nga cũng quay lưng bước vô con hẻm. Đếm từng bước trên con hẻm nhỏ cònnhiều hàng quán, những gánh hàng bán rong, xe mì còn thức. Tiếng gõ lốc cốc dọc theo con hẻm im lắng nghe rõ mồn một. Căn nhà bà Năm còn đèn sáng, cửa chưa đóng. Nguyệt Nga đẩy cửa bước vô. Bà Năm đang ngồi trên tấm di-văng, ông Năm ngồi ở bàn giữa nhà. Vừa thấy nàng đẩy cửa, bà Năm đã đứng dậy mau mắn:
– Chèn ơi, cháu đi đâu mà hổng nói gì hết trơn hết trọi, làm dì lo muốn chết.
Ông Năm ngồi im nhìn Nguyệt Nga, bà năm nắm tay âu yếm kéo lại chiếc đi-văng. Bà vồn vả:
– Cháuđi đâu vậy? Đi lạc đường hả. Trời ơi, đã nói rồi, muốn đi đâu nhớ nói mấyđứa nhỏ nó chỉ đường cho…đi lạng quạng tùm lum lạc chết.
Nguyệt Nga thấy cử chỉ của bà Năm gà, lòng nàng chợt ấm lại. Người đàn bà nầy không phải là thân nhân ruột thịt, bà con liên hệ gì với nàng, mới gặp nhau lỡ đường mà đái xử với nàng như người con người cháu. Xúc động, Nguyệt Nga ngồi xuống.Nàng trả lời:
– Dạ xin lỗi dì với dượng…cháuđâucó đi lạc đâu…cái con bạn hồi còn ở quê nó gặp cháunó dắt đi lung tung, cháu tưởng đi một chút rồi về, ai ngờ nó dẫn đi tuốt xuống Sài Gòn…
Bà Năm gà xuýt xoa:
– Coi, để dì coi….ở đây nghen, đừng có mà đi lạng quạng hổng được đâu. Bạn bè bà con làm sao với cháu? Dì cứ lo ngay ngáy sợ cháu đi lạc. Dì mới nói với ổng hổng biết nếu mà lỡ ra cháu đi lạc thì làm sao kiếm cháu về.
Nguyệt Nga cảm động, nàng cúi mặt xuống:
– Da ïcháu xin lỗi dì dượng…cháu hổng biết làm dì với duợng phải lo.
– Hổng có gì, chỉ sợ cháu bị làm sao thì dì ân hận thôi. Mà sao…đi đâu vậy?
Thấy bà Năm sắn đón hỏi han, Nguyệt Nga ngó bà một lúc lâu. Nàng nhỏ nhẹ:
– Dạ gặp lại con bạn hồi ở Mỹ Tho, bây giờ nó làm ăn phát đạt, nó dẫn đi chơi cho biết rồi nó hứa kiếm việc gì đó cho cháu làm.
Ông nam bỏ chưn xuống quay lại nhìn nàng. Ông hỏi:
– Vậy thì tốt quá rồi. Nhưng mà làm việc gì vậy?
Nguyệt Nga thành thật trả lời:
– Cháu cũng chưa biết gì hết trơn. Nó chỉnói đi làm vậythôi.
– Vậy cháu…ông Năm ngập ngừng…hổng phải tui hỏi đời tư của cháu, nhưng mà cháu có nghề ngổng gì hông? Cháu có đi học hông?
NguyệtNga bẻn lẻn:
– Dạ…thú thiệt, cháu hổng có cái nghề gì hết trơn…còn đi học cũng lập dập, mới qua được lớp ba thôi hà.
Ông Năm ngạc nhiên:
– Ủa, vậy cháu làm cái nghề gì? Mà không, con bạn của cháu nó làm nghe àgì?
Nguyệt Nga lắc đầu, nàng ngó bà Năm đang chăm chú nhìn nàng:
– Thiệt tình là cháu hổng biết.
Ông Năm la lên:
– Trời đất quỷ thần…hổng biết thì làm gì mà được…
Ông ngừng lời ngó bà Năm một hồi, ông tiếp:
– Bà nói cho cô đây cổnghe….đất Sài Gòn chớ hổng phải nhà quê đâu, coi chừng đó.
Nguyệt Nga ngạc nhiên vọt miệng:
– Ủa, coi chừng gì dượng?
– Ừ, thì…thì bà nói cho nó nghe đi.
Nguyệt Nga day qua bà Năm.
– Có chuyện gì vậy dì?
Bà Năm xởi lởi:
– Cũng đâu có gì. Nóinào ngay, dì thấy cháu chưn ướt chưn ráo đến Sài Gøòn, dì thấy hoàn cảnh của cháu gì thương…thì ổng lo ổng nói như vậy đó mà.
Nguyệt Nga ú ớ:
– Ủa, thì có gì …dì cứ nói cho cháu nghe đi.
Mọi người im lặng, Nguyệt Nga càng lo. Nàng ngập ngừng một chút rồi e dè lên tiếng:
– Dì Năm….cháu mới gặp dì có mấy bữa mà dì coi cháu như con cháu trong nhà, dì cho ăn, cho ngủ…cháu mang ơn dì suốt đời, nhưng mà lỡ cháu có làm dì phiền….xin dì cứ nói thẳng ra đi để cháu…cháu biết đường mà lo liệu.
Ba øNăm cười:
– Đâu có gì đâu, ổng là đàn ông ổng hay lo …ổng thấy nhiều chuyện xãy ra nên ổng lo cho cháu thôi. Cháu đâu co ùlàm gì cho dì phải phiền đâu. Cháu hiểu lầm ý của dì rồi.
BàNăm cười nhưng Nguyệt Nga lo lắng. Nàng nghĩ lung tung, hay là nàng làm chuyện gì không nên không phải với người ta.
– Thiệt là cháu có lỗi là đi mà hổng nói trước làm dì dượng lo. Cháu có lỗi…cháu cảm ơn gia đình dì đã cưu mang mấy ngày….ngày mai cháu sẽ nhờ con Linda nói tìm cho một chỗ khác…
Bà Năm vỗ vai:
– Đâu cógì,cháu cứ ở đây không sao đâu. Mà nếu cháu muốn đi thì dì cũng đâu có cản đản…Thôi để dì nói cho nghe.
Nó là như vầy nè, số là ở đây người ta hay về quê dụ con gái nhà quê có chút nhan sắc lên đây…nói cháu đừng buồn…dì sợ họ dụ cháu đi làm đỉ…
Nguyệt Nga tóa hỏa:
– Í trời đất quỷ thần ơi. Vậy sao.
Bà Năm thủng thẳng:
– Thiệt chớ sao hông thiệt được cháu. Thiếu giống gì chuyện đó xảy ra hàng ngày.
Ông Năm chen vô:
– Bả thiệt là hổng nghĩ gì đâu. Nhưng thấycháu mới lên mà đi đâu mất biệt cả ngày nên bả nói vậy đó.
Ông quay qua ngầyngà bà vợ:
– Tui đãnói với bà là, con cháudây nó cũng đã lờn, nó lên đây được thì nó lo được. Bà nói như vậy hóa ra.
BàNăm hỏi chồng:
– Hóa ra làm sao?
Ông Năm, mắt ngó Nguyệt Nga, miệng trả lời vợ:
– Hóa ra mình nói cho cổ lo, hay là cổng nghĩ bậy về mình sao?
– Nghĩ bậy làm sao, đâu ông nói coi.
Ông Năm lại ngó Nguyệt Nga:
– Thì co åtưởng là nha ømình có cái ý gì đó nên hù dọa cho cổ sợ chớ làm sao.
– Tui có làm gì đâu mà hù.
Ông Năm im lặng, Nguyệt Nga ngạc nhiên. Nàng không biết chuyện gì xảy ra. Nàng hỏi:
– Cháu hổng hiểu gì hết trơn.
BàNămcũng phụ họa:
-Tui cũng vậy. Hồi trưa nầy tui nói với ông là tui lo cổ bị người ta bắt cóc thôi, ông nói là hổng sao đâu. Bây giờ ổng lại nói là cổ nghĩ tui lợi dụng…tui hổng hiểu gì hết trơn hết trọi. Hồi trưa ông có nói gì đâu.

Câu chuyện không đầu đuôi,càng nói nó càng làm cho Nguyệt Nga lớ ngớ.
– Ủa, chuyện gì mà cháu hổng hiểu gì hết trơn.
Ông Năm rót một miếng nước, nhấp giọng:
– Có gì đâu. Nó là như vầy. Cái hồi hồm qua có mấy người hàng xóm họ nói là cháu bả lên đây giúp bả mua bán, rồi hồi chiều này họ lại nói thấy cháu đi đâu đó với một cô gái nào đó ăn mặc đẹp ghê lắm….in tuồng như là mấy con đỉ, ca-ve, gái nhảy gì đó. Họ lại đồn rùm lên là bả đưa cháu ở quê lên để làm gái trên nầy. Qua nghĩ là sợ cháu sẽ hiểu lầm. Ơ đời cái miệng con người nó nhiều chuyện lắm. Hổng khéo sau nầycháu lại hiểu lầm, mà gia đình tui cũng mang tiếng lây. Nói thiệt là tui với bả mới biết cháu có mấy ngày thôi mà. Đâu có biết cháu nghĩ sao. Đâu có biết cháu lên đây là lạc đường thiệt hay giả…Ui, mà thôi….qua nói là noí vậy thôi, chớ qua nhìn cái tướng của cháu cũng phúc hậu đâu đến nỗi nào.
Bà Năm thở phào:
– Thì ra là vậy. Tui đâu có nghe ai nói gì đâu.
Nguyệt Nga là người ngạc nhiên hơn hết. Nàng không ngờ chuyện nàng lỡ đường, chuyện đi chơi với con Linda mà đã có người đồn đải rồi. Mọi chuyện đối với nàng thật quá bất ngờ.
Nguyệt Nga hết ngó ông Năm rồi xoay qua ngó bà Năm.
– Thiệt tình là cháu không biếtcái chuyện nó như vậy. Tình thiệt là cháu không có nghĩ gì hết. Cháu chỉ biết là cháu lở đường, cháu được dì Năm đây cho ở cho ăn….và cháu hông biết lấy gì để đền ơn mà thôi.
Nguyệt Nga ngừng nói, nàng nuốt nước miệng nghe một cái ọt.
– Cháu hổng biết câu chuyện nó lại gây nhiều chuyện như vậy.
Bà Năm nhìn nàng, bà từ tốn:
– Dì Năm biết là đất này nó có nhiều chuyện không thể ngờ…mà gì cũng hổng ngờ là chuyện trong nhà nó hổng có gì hết mà ngoài đường họ lại nghĩ tùm lum tà la như vậy. Dì thiệt tình là thấy mắc cở với cháu. May mà mình chưa có gì.
Nguyệt Nga đỡ lời:
– Con cảm ơn gia đình dì Năm hổng hết đâu có nghĩ gì làm gì để mà để dì xin lỗi đâu. Dì có chuyện gì mà xin lỗi?
– Thôi bỏ qua chuyện đó. Đâu cháukể chuyện con bạn Linh da linh điếc gì đó của cháu cho dìnghe coi…nó làm sao mà người ta đồn bậy bạ vậy.
Nguyệt Nga sửa lại thế ngồi. Bà Năm đẩy vai nàng:
– Ủa mà quên, cháu ăn uống gì chưa? Có cơm ở dướøi xuống ăn đi cái đã.
Nguyệt Nga đứng lên đi vô nhà bếp, rót một ly nước lạnh và đi lên nhà trên. Ông Năm tắng hắng rồi nói:
– Cháu à, qua nói cho cháu nghe, ở cái đất nầy là chỗ phồn hoa đô hội nó không như ở dưới quê đâu, khó tin người ta lắm. Cháu không thấy ngoài đường đó sao mạnh ai nấy sống đó mà. Nói thiệt ra hổng phải đất nầy con người không có tình với nhau, có chuyện gì tối lửa tắt đèn vẫn nhờ nhau được mà. Nói cho cùng thì tình nghĩa xóm giềng cũng có nhưng cái cuộc sống nó như vậy đó. Đèn nhà ai nấy sáng, hồn ai nấy giữ, cuộc sống phải bương chải kiếm ăn cho nên con người ta nó phải như vậy. Qua thương em thân gái cô đơn nên qua mới nói. Ở lâu rồi sẽ biết.
Ông Năm nói một hơi những chuyện Nguyệt Nga chưa bao giờ nghĩ tới. Nàng chợt nghĩ “Hay là về phứt cho rồi.” Bà Năm nói thêm:
– Nói thì nói vậy chớ đâu đến nỗi nào ông. Ông nói quá cổ sợ.
Ông Năm cười:
– Có gì đâu bà. Chuyện nó vậy thì mình nói vậy cho cổ biết thôi.
Bà Năm chắc lưỡi:
– Cái thời buổi nầy không thể tin ai được đâu. Không phải ai cũng như mình. Có nhiều người nói năng ngọt lịm ngọt lừ mà làm thì lại khác à.
Nguyệt Nga bối rối, tiến thối hai đường điều ngược con nước. Nàng thở dài:
– Cháu cảm ơn dì dượng nói cho biết. Cháu mong mọi chuyện êm đẹp. Cháu nấn ná và ba bữa hổng được gì thì về quê.
Bà Năm xuýt xoa:
– Tội nghiệp, nhưng mà hồi cháu lên đây hổng có tính toán gì sao?
– Dạ cũng hổng có tính gì ráo.
Bà Năm im lặng, Nguyệt Nga đứng lên:
– Cháu đi ngủ.
Nàng quay lưng đi về phía buồng trong, bà Năm ngó theo thở dài:
– Tộâi nghiệp con nhỏ thiệt.
Ông Năm biểu đồng tình:
– Ừa, mấy lúc gần đây tui coi bộ con gái quê lên Sài Gòn hơi nhiều đó bà.
– Hổng biết tại sao vậy ông há.
Ông Năm rành sáu câu:
– Có gì đâu bà, ở dưới khó làm ăn. Những năm gần đây mất an ninh thì người ta dồn về phố, về tỉnh mà ở. Ai có bà con quen biết thì đi xa hơn lên đây kiếm việc mần ăn chớ có gì đâu mà khó hiểu.
– Ừa, Sài Gòn càng lúc càng đông há ông. Người khôn của khó, chợ búa ế ẩm. Đúng ra người đông thì buôn bán phải sung túc khá hơn chớ.
– Chuyện đó thì tui chịu thua.

Haivợ chồng ông Năm nói chuyện thêm một chút xíu, ông lấy cái radio mở nghe, còn bà Năm chống tay đứng dậy đi vô bếp.
Nguyệt Nga đã vô phòng con gái bà Năm, leo lên giường kéo tấm mền mõng đắp ngang bụng, gát tay lên trán miệng thở dài. Lăn qua trở lại hồi lâu không ngủ được. Con bà Năm trở mình đụng nàng:
– Ủa, chị về hồi nào.
– Mới về em.
Con bé trở mình và ngủ tiếp. Nguyệt Nga nằm ngửa mặt ngó lên nóc mùng, mấy con muỗi đói vo ve ngoài mùng. Nguyệt Nga trở mình, thở dài.
Con bé giọng ngái ngủ:
– Chị hông ngủ sao mà thở dài hoài vậy? Bộ chị có chuyện buồn hả ?
Nguyệt Nga chối:
– Không, đâu có gì đâu.
Con bé không chịu im:
– Không có sao chị thở dài. Em nghe chị thở dài mấy lần. Không nói thì thôi. Em ngủ.
Con bé quay ra ngủ, tiếng thở đều đều. Nguyệt Nga vẫn nằm ngửa mặt nhìn đỉnh tấm mùng tuyn màu xanh ngã màu cỏ úa vì lâu ngày không giặt. Cố nén tiếng thở dài, mắt nhắm cố dỗ giấc ngủ.
Nghĩ cũng lạ, đầu óc con người ta đôi khi nó không còn chịu sự điều khiển của người mang nó. Khi con người muốn nghĩ suy nó không chịu suy nghĩ, có lúc người ta muốn nghỉ ngơi nó lại chạy vòng vòng loanh quanh ở tận đâu đâu. Nguyệt Nga đêm nay bị bộ óc nó hành. Càng không nghỉ suy nó càng nhảy lung tung, có những chuyện không muốn nhờ nó cứ hiện về; có những chuyện muốn suy nghĩ để tìm ra quyết định, thì bộ óc cứ đặït sệt, đặt cứng nghĩ không ra. Những chuyện buồn cứ hiện ra như cuốn phim chiếu chậm.

Nguyệt Nga, nhớ mẹ nhớ cha, nhờ căn nhà lá, nhớ miếngvườn nhỏ sau nhà bên con lạch nước chảy lững lờ. Những đứa bạn bây giờ tụi nó làm gì? Mẹ nàng có ngóng có trông? Ánh mắt cha có còn nghiêm khắc?
– Thôi ngày mai xách túi đi về quánh cho xong.
Cố nén tiếng thở dài, nó vẫn bật ra không giữ được.
– Ngủ đi chị Sáu.
Giọng con bé nhừa nhựa bên tai. Nguyệt Nga nằm im. Nàng thiếp đi lúc nào không biết. Có tiếng lục đục dưới nhàbếp, con bé trườn qua mình nàng bước xuống giường. Nguyệt Nga giựt mình thức giấc, trời đã sáng. Đầu óc nặng trịch, hai mắt cay xè. Uể oải ngồi lên, cho chưn xuống tìm đôi dép. Có tiếng bà Năm kêu con.
Nguyệt Nga kéo lê đôi dép bước ra ngoài. Bà Năm đa õnấu xong nồi nước chế trà, đang soạn bữa ăn sáng cho cả nhà. Ông Năm ngồi ở bàn làm như cả đêm ông không ngủ. Tất cả vẫn như ngày hôm qua,tiếng ồn ào ngoài đường, tiếng rao buổi sáng, tiếng gà lục cục trong mấy chiếc lồng tre.
Nguyệt Nga bước ra lu nước sau nhà múc mước rửa mặt. Bà Năm hỏi:
– Sáu à, cháu có muốn đi chợ phụ với dì không?
Phun miếng nước đang ngậm trong miệng ra ngoài, Nguyệt Nga trả lời không suy nghĩ:
– Dạ đi dì Năm.
Ừa, không đi theo phụ với dì Năm thì nàngbiết làm gì hôm nay? Mấy ngày rồi bà Năm nuôi nấng giúp đỡ nàng, coi như con cháu trong nhà. Bà Năm tốt thiệt. Như vậy đâu có phải ở cái đất nầy người ta “đèn nhà ai nấy sáng” đâu cà? Một người không quen biết đã giúp đỡ nàng như vậy mà sao dì dượng nói toàn những chuyện nghe ớn quá như vầy?
Nguyệt Nga bước vô.
– Dì Năm ơi. Con cũng không biết tính sao.
Bà Năm ngưng tay. Ngước mắt nhìn nàng:
– Dì cũng không biết nữa. Thôi thì tùy cháu đó thôi. Dì thấy cháu lỡ đường thì dì giúp. Còn chuyện của cháu dì biết nói sao bây giờ. Anh chị ở dưới còn sống, hay là cháu về đi. Về dưới mần ruộng mà ăn. Cháu không phải hạng người sống ở cái đất nầy được đâu.
– Cháu cũng không biết làm sao. Hai bàn tay trắng, bốn bàn tay không. Về dưới đó người ta cười cho mà chết.
Bà Năm xì một tiếng:
– Mầy nóùi nghe mới lạ. Làm gì mà người ta cười? Đi mần ăn hổng được thì về chớ sao.
Nguyệt Nga ngồi xuống bên bà Năm:
– Dì biết rồi. Cái chuyện của cháu nó đãnhư vậy, cháu mắc cở lắm, với lại về dưới còn buồn thêm. Hay là dì mướn cháu làm gà, coi đồ cho dì….rồi dì cho cháu bữa ăn…thủng thẳng cháu tìm đường khác.
Bà Năm cười:
– Thì dì đâu có nói gì đâu cà. Đã giúp thì giúp cho tới cùng. Nhà dì nghèo thiệt, mầy thấy đó, nhưng dì đâu có tiếc mấy bữa ăn. Có ngặt một điều sợ cháu chịu cực không thấu. Sáng dậysớm, chiều về tối mịt tối mờ, mầy có quen không?
Nguyệt Nga trả lời:
– Cháu đâu có phải con phú hào hương chức gì đâu mà chịu khổ không được. Dì đã chịu thì cháu cố gắng.
– Ừ thì tuỳ cháu đó. Thêm cái chén đôi đủa đâu có là bao nhiêu dữ vậy.

Nguyệt Nga bưng nồi cháo đặït lên trên bàn, trước mặt ông Năm. Ông Năm bưng ly cà phê đen nhấp một ngụm. Ngó Nguyệt Nga. Nàng cúi mặt quay lưng bước đi. Mấy đứa con bà Năm vây quanh chiếc bàn ăn sáng.
– Ông à, con Sáu nó muốn ở lại đây phụ với tui, và tui cũng thấy không có chuyện gì. Ông nghĩ sao?
Ông Năm im lặng ngó mông ra cửa. Bà Năm tiếp:
– Đã lỡ giúp nó rồi thì mình cũng coi như là con cháu. Thương thì thương cho trót phải không ông?
Ông Năm trả lời vợ, mắt vẫn nhìn ra đường:
– Cái đó tuỳ bà.
Ông Năm quay qua nhìn Nguyệt Nga đang đứng dưới bếp day lưng về phía ông.
– Nhưng bà coi chừng, tui sợ nó hổng chịu đựơc đâu. Hổng phải thầy bói thầy tướng, nhưng tui coi cái bộ nó cũng truân chuyên dữ đa bà.
Bà Năm không trả lời chồng. Bà chuẩn bị mấy giỏ gà và sắp sửa ra đi. Chiếc xe ba gát đã đợi ngoài trước đường hẻm.

Nguyệt Nga theo bà Năm khiêng mấy giỏ gà ra xe. Con đường trước chợ ồn ào náo nhiệt. Trời nắng ấm, con hẻm nhỏ hàng quán mở cửa, dân phu phen lao động tụm năm túm ba ngồi coi giò lên chiếc ghế thấy húp cà phê xì xụp. Nguyệt Nga cố xua đuổi những suy nghĩ buồn bực ra khỏi đầu, chăm chú khiêng mấy giỏ gà và bước lên xe ba gát ngồi đợi bà Năm.
bà Năm và Nguyệt Nga ngồi trước thùng xe, hai chưn thòng xuống gần sát mặït đường. Ông xe ba gát đẩy mấy cái lấy trớn và thót lên yên sau vẹo người đạp rấn tới. Chiếc xe chậm chạp lăn bánh.

Xe chạy ngang trường học, qua khỏi cây cầu Phú Lâm nhập vô giòng người tất tả ngược xuôi. Vừa qua khỏi cầu một quảng ngắn, Nguyệt Nga vội vàng lấy chiếc nón che mặt quay đi. Nàng vừa thoáng thấy Linda ngồi xe máy dầu do một cô gái chở, chạy ngược chiều. Bà Năm ngạc nhiên:
– Ủûa, nắng chói mắùt cháu hả?
– Dạ không, khói chiếc xe trước làm cháu khó chịu.
– Vậy sao. Ở đây là như vậy đó cháu. Khói bụi và ồn ào suốt ngày. Ở riết rồi quen đi. Ngày mai đó, cháu lấy khăn cột lại che cái miệng với cái mũi cho đở bớt.
Nguyệt Nga dạ cầm chừng. Bà Năm nói tiếp:
– Nếu cháu đã quyết ý thì dì sẽ tính kế giúp cháu. Nói nào ngay, công chuyện buôn bán của dì cũng không cần người phụ đâu. Cháu đừng nghĩ bậy cho dì nghen. Hổng phải dì nói vậy mà dì hổng để cháu làm. Có điều, cháu còn trẻ mà nếu như cháu chịu khó thì cũng kiếm được chuyện làm, thủng thẳng rồi dì tính cho.
Nguyệt Nga cảm động:
– Dạ cảm ơn dì Năm. Hổng có dì thì cháu hổng biết tính ngõ nào.
Bà Năm cười xề xòa:
– Ơn với nghĩa gì. Đừng nói vậy.

Hai người im lặng. Chiếc xe đã vô gần tới ngả rẻ đi về Chợ Lớn.

Chợ đông kẻ đi qua người đi lại tấp nập; trên mặt đường đãnhư vậy, dưới bến sông càng ồn ào hơn. Những chiếc ghe bầu san sát dưới bến, hàng hóa đầu có ngọn chất cao trên các mui ghe, những chiếc tam bản nhỏ be xuồng mấp mé mực nước như sắp chìm. Hàng hóa đưa từ các nơi đổ về chợ. Người lên kẻ xuống, từng thùng hàng, từng giỏ trái cây được phu khuân vát chuyển lên, mấy miếng ván bắt từ ghe lên bờ nhún nhảy oằn xuống trồi lên theo nhịp chạy của mấy người phu khuân vát. Tiếng gàvịt kêu quang quát, tiếng cười nói, tiếng cải lộn tranh giành mối hàng v.v… tất cả tạo nên hoạt cảnh một bức tranh sống động nhưng lộn xộn. Nguyệt Nga nhìn ngắm mãi mê, như cố tìm ở đó một nét gì quen thuộc với nàng. Nàng đảo mắt nhìn quanh cố tìm trong những chiếc ghe đang đậu ở bến, chiếc ghe của Triệu, chiếc ghe bầu đưa nàng đến chốn nầy. Mõi mắt tìm không thấy, Nguyệt Nga quay nhìn chỗ khác; ở một bến khác, những chiếc ghe chở mắm, chở khô từ đồng bằng Cửu Long lên, đang đậu im lìm chớ không tấp nập vội vàng như cái bến trước mặt nàng. Vô tình, nàng nhìn thấy một cô gái bận áo bà ba màu xanh đọt chuối non, quần lãnh đen, tay cầm nón lá tay xách tuí đệm bàng đang bước lên, dáng dấp quen thuộc. Nguyệt Nga mở to mắt nhìn kỷ, nàng vùng đứng lên la chói lói. Bà Năm gà giựt mình quay lại:
– Chuyện gì đó cháu?
– Con bạn cháu nó ở đàng kia.
Không đợi bà Năm nói thêmtiếng nào, Nguyệt Nga vùng dứng lên xăn xái bước mai tới. Càng đến gần, lòng Nguyệt Nga càng vui mừng…Nàng kêu lớn:
– Hậu!
Người con gái đang bước lên dường như chưa nghe tiếng kêu của nàng. Nguyệt Nga kêu to hơn:
– Hậu! Mầy đó hả Hậu?
Người con gái quay lui, nhìn lại. Nguyệt Nga xịu mặt xuống.
– Chị kêu tui hả.
Nguyệt Nga yếu xìu như bong bóng xì hơi:
– Dạ tui tưởng con bạn tui. Nhưng hổng phải.
Cô gái không phải là Nhân hậu, quay lưng trở lại không nói gì thêm. Nguyệt cũng quay lưng, mặt buồn ủ dột. Bước trở lại hàng gà bà Năm với những nặng nề nhắc bàn chưn không muốn nổi.
Ngồi phịch xuống chiếc đòn kê, thẩn thờ ngó mông ra bến. Nhìn bộ mặt chảy dài của Nguyệt Nga, bà Năm hỏi:
– Hổng phải hả?
– Dạ hông.
Bà Năm hỏi thêm:
– Mà ai vậy cháu?
Nguyệt Nga day mặt lại, giọng lào khào:
– Con bạn thân của cháu ở dưới…mới ngó qua giống quá sức, nhưng hổng phải.
Bà Năm vừa đưa con gà đã làm sẵn cho khách, tay kia nhận tiền bỏ vô tuí, vừa nói chuyện với Nguyệt Nga:
– Ừ, người giống người là chuyện thường mà. Đâu có gì đâu mà buồn.
– Dạ.
Bà Năm hỏi tiếp:
– Con đó nó ở Sài Gòn hả?
– Dạ hông. Nó ở dưới.
– Cháu hẹn với nó lên đây à?
Nguyệt Nga chưa kịp trả lời, một người khách trờ tới mua gà, bà Năm bỏ lững câu hỏi. Nguyệt Nga cũng không nói tiếp. Nàng quay ra đường ngắm người qua lại.
Chợ càng lúc càng đông, người mua kẻ bán náo nhiệt, đông quá sức đông và đủ màu sắc, đông hơn chợ Mỹ Tho nhiều. Nguyệt Nga lẩm bẩm:
– Hèn chi mà ai cũng muốn đi Sài Gòn. Đông ơi là đông. Mua bán thấy mà ham.
Tiếng bà Năm:
– Cháu nói cái gì?
– Dạ hông. Cháu nói đông quá sức là đông.
Bà Năm lặo lại với nụ cười:
– Ừ, đông lắm. Ở giữa đám đông đó mà đi tìm một người quen khó còn hơn là mò kim đáy biển cháu ơi.
Nguyệt Nga lơ đểnh:
– dạ.
– Coi đông vậy chớ ai có việc đó hết trơn. Người khôn của khó, buôn bán làm ăn cũng trần ai khoai củ chớ dễ dầu gì cháu.
Nguyệt Nga dạ cầm chừng:
– Dạ.
– Nói nào ngay, nếu không giỏi giang thì làm sao mà sống hả cháu. Mấy năm sau nầy dưới quê ồn ào khó làm ăn người ta đổ về đô thành nhiều lắm. Bây giờ càng khó mần ăn hơn.
Bà bỗng đổi đề tài:
– Mà nè, nói vậy mà dì cũng chưa biết về cháu nhiều đó Sáu.
Nguyệt Nga ngó sững bà Năm:
– Là sao dì Năm?
Ba øNăm cười:
– Hổng phải dì tọc mạch nhưng mà mấy ngày rồi dì thấy cháu hình như có điều gì lo lắng, mà thiệt ra dì cũng không biết về cháu.
– Thì cháu đã kể rồi đó dì Năm.
Nguyệt Nga đăm chiêu tự nói thầm “Hay là dì Năm muốn đuổi mình ra khỏi nhà của dì?”
Bà Năm không hỏi nữa. Bà tíu tít với khách của bà đang lựa gà. Những con gà làm sẵn vàng ươm nằm phơi mình dưới bóng râm của cây điệp, những con gà sống chen chúc nhau trong mấy cái bội tre. Có con thò cổ ra ngoài bội mổ mấy miếng bánh mì rớt vương vải đó đây quanh cái bội. Có con nằm im há mỏ thở. Nguyệt Nga thẩn thờ ngó mấy con gà nằm trong bội vàn ghĩ đến thân phận mình:
– Có khác gì mấy con gà đang nằm trong bội? Vài bữa sẽ bị làm thịt nằm phơi bụng vàng khè.
Khó khăn trước mắt, tấm lòng tốt của bà Năm, không muốn trở về nhà…Những việc đó quẩn quanh trong đầu óc của nàng, làm cho Nguyệt Nga không được vui. Nàng đang muốn quên.
Bà Năm day lại nhìn nàng:
– Cháu đừng có buồn. Bỏ qua cho dì. Hổng phải dì tò mò tọc mạch chuyện riêng tư đâu.
Nguyệt Nga cố nở nụ cười cho bà Năm yên lòng:
– Dạ hổng phải cháu buồn dì đâu.
Bà Năm ngó nàng chăm bẳm:
– Vậy chuyện gì mà mặt mày cháu bí xị.
Nguyệt Nga im lặng một lát, sau đó nàng đem tất cả mọi chuyện đã xảy ra cho nàng từ mấynăm qua. Từ chuyện bị mất đời con gái ở chòi vịt ngoài đồng, đến thằng con chết nước mới xảy ra, cho tới chuyện Hai Triệu, Năm Trực và nàng có mặt ở đây. Những chuyện nàng đã kể cho bà Năm nghe sơ sơ khi mới gặp. Nàng không dấu bất cứ một chi tiết nhỏ nào. Nàng kể về con bạn thân tên Nhân Hậu…v.v.
Bà Năm ngồi dựa ngữa ra chiếc ghế bố làm bằng những sợi mũ, chăm chú lắng nghe. Lâu lâu bà đệm tiếng thở dài, chắùc lưỡi hít hà. Khi NguyệtNga ngừng kể, bà Năm thở dài thườn thượt. Bà chép miệng:
– Thiệt là gian truân quá. Dì Năm đâu có thể ngờ cháu mới từng tuổi đó mà đã gian truân dữ thần. Ông Năm nhà dì nói cũng phải, cái số con người nó theo cái tướng. Mà hễ hồng nhan thì đa truân, từ nào vẫn như vậy đó mà. Nói như vậy, ba má cháu vẫn còn ở dưới quê?
Nguyệt Nga gật đầu:
– Dạ phải.
Bà Năm hỏi tiếp:
– Khi cháu đi như vầy ảnh chỉ có biết hông?
Nguyệt Nga gật đầu tiếp:
– Dạ biết chớ.
– Tội nghiệp hông; chắc là ảnh chỉ đứt ruột hả cháu.
– Dạ.
Bà Năm ngó lơ mơ lên tàng cây điệp đang ra bông. Bà nói như đang nói với chính bà:
– Cha mẹ nào mà hổng thương con hả cháu. Đứt ruột đẻ ra làm sao mà hổng thương. Nhưng cái chuyện nầy trời xếp đặt mình đâu có làm gì được. Cái khổ là như vậy đó. Con cái mình đẻ nó ra, mình nuôi nó lớn, mà cái số phần của nó là ở cái ông Trời. Có làm cha mẹ mới biết được nỗi khổ của mẹ của cha. Cọp dữ còn hổng ăn thịt con mà cháu. Nghe chuyện của cháu, mà dì thấy tội nghiệp cho anh chị ở dưới quê. Dì cũng hổng biết nói làm sao, thôi thì làm được chút gì thì cứ làm mai sau để phúc đức cho con cho cháu.
Bà Năm ngồi thẳng lưng, bà với tay rót ly nước. Ba ønói tiếp:
– Thôi thì như vầy. Như dì đã nói với cháu rồi đó. Đã làm ơn thì làm ơn cho trót. Đã không làm phước thời thôi, mà đã làm thì làm cho tới nơi tới chốn. Dì coi cháu như con, có gì ăn nấy, cứ ở đây với dì, phụ với dì, có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo cho đến khi nào mà cháu có chuyện gì làm thì cháu cứ nói một tiếng là được rồi. Ừ, còn ba má cháu dưới quê, cháu có cần thư từ nhắn nhe với ai hông, để dượng Năm mầy ổng giúp cho.

Nguyệt Nga nghe rồi muốn chạy lại ôm bà Năm gà để khóc quá. Những giọt nước mắt sung sướng cứ chực chờ trào ra. Nàng cố dấu nỗi lòng bởi nàng chưa quen bộc lộ tình cảm trước mặt mọi người, dù người đó là người thân. Bà Năm nhìn Nguyệt Nga với ánh mắt xót thương, cái nhìn của một người thân muốn chia xẻ niềm đau và nỗi khổ của con cháu mà không làm gì được. Aùnh mắt cam chịu và đầu hàng số phận.
Bà Năm nói:
– Con người ta sanh ra đời đều có cái số cái phần hết. Tỉ như cái khổ cái vui là do ở ông Trời mà ra.
Nguyệt Nga tủi thân, nước mặt lăn dài xuống gò má không giữ được.
– Ông Trời nào mà cay nghiệt quá vậy dì Năm? Tỉ như con đây từ ngày sanh ra cho đến bây giờ con chưa có làm gì ác nhơn thất đức. Mà thôi coi như con cũng có thể làm chuyện ác mà con không nhớ thì ông trời trả báo cũng đành…chớ còn như con của con…
Nhắc đến đứa con, Nguyệt Nga không còn cầm lòng, nàng khóc òa ra tiếng, nước mắt ràn rụa xuống mặt. Bà Năm ngồi im lặng không nói một tiếng nào. Người đi đường cũng không để ý, chỉ có mấy đứa con nít đứng quanh chỗ đó nghe tiếng khóc thút thít quay lại nhìn một cách tò mò.
Bà Năm đưa chiếc khăn bà đang vắt ngang qua vai cho Nguyệt Nga:
– Nè, lau mặt đi, ra cái vòi nước đầu kia rữa mặït đi cho mát. Chuyện đã qua rồi nhắc lại càng thêm buồn.

Nguyệt Nga đưa tay cầm lấy chiếc khăn, đứng lên bước ra vòi nước. Đám con nít bu quanh dãn ra. Ngồi bên vòi nước máy công cộng, Nguyệt Nga không cầm được nước mắt, nàng không còn khóc ra tiếng nhưng vẫn dàn dụa không cầm được. Không hiểu sao nàng tủi thân quá sức.

Vốc những giọt nước mắt lạnh vuốt lên mặt, lấy tay vỗ vỗ lên trán, hai con mắt cay xè. Nguyệt Nga đứng lên, vuốt lại mái tóc, và bước trở lại hàng gà bà Năm. Ông Năm đã tới từ lúc nào đang ngồi bên gốc phượng vĩ hút thuốc.
Nguyệt Nga lên tiếng chào ông:
– Dượng Năm mới tới.

Cuộc sống không đơn giản chút nào, con người trong xã hội phụ thuộc rất nhiều vào những lề luật, thói quen và phong hóa. Kể từ thời thượng cổ, khi con người còn ở hang, chưa tìm ra lửa, mỗi ngày ăn tươi nuốt sống thực phẩm, chưa biết để dành, chưa có quần áo che thân….v.v. con người có đời sống như con thú thì con người đã khổ rồi. Đòi hỏi ít, khổ ít; nhu cầu nhiều khổ nhiều. Thưở ban sơ con người chỉ lệ thuộc vào thực phẩm, lo cho cái ăn. Càng vươn lên, thoát ra cảnh thú rừng ăn lông ở lôû, con người càng có nhiều nhu cầu….và niềm đau nỗi khổ lớn theo thời gian và trí thông minh.
Lề thoí, phong hóa, văn minh bắt nguồn từ nhu cầu đời sống trong cuộc sống chung đụng có nhiều người và nhiều nhu cầu chiếm hữu.
Người có học, có suy tư khổ nhiều. Người không biết càng đở khổ…

Ông Năm ngồi dựa gốc cây nói oang oang như vậy với Nguyệt Nga khi nghe bà vợ kể lại câu chuyện của nàng cho ông nghe. Giọng ông Năm đều đều như ông thầy đang đọc sớ, đọc kinh cầu an. Nguyệt Nga không nói chỉ ngồi im lắng tai nghe. Ông Năm tiếp:
– Càng biết nhiều càng khổ. Cái đầu con người ta suy nghĩ lung tung, vàbởi vì biết thì càng lo bo bo giữ cho khỏi vuột những thứ gì mình có được, còn tìm cách che đậy không cho người khác biết…cũng vì ai cũng có cái lòng ham muốn như vậy cho nên họ mới đăït ra lề luật, đăït ra những cách để giữ gìn sự an toàn cho họ. Không còn mạnh được yếu thua, mà là đa kim ngân phá luật lệ. Rồi theo cái cách sống của mỗi một miền, một khu vực, do đời sống của một khu vực nầy nó khác khu vực khác cho nên những con ngưòi sống gần nhau có những cái chung chung như nhau lại sanh ra cái văn hóa, cái văn minh mà mình phải chấp nhận…lâu đời nhiều kiếp nó trở thành cái thói quen không thể bỏ được. Càng sống lâu chừng nào, càng văn minh chừng nào thì lề luật ràng buộc nhiều chừng đó. Con người ta tự làm khổ con người, như con tằm nó nhả tơ ra nó bọc lầy nó…chớ nào có cái ông trời nào mà ác như vậy?

Ông Năm cứ nói, Nguyệt Nga nghe mà không hiểu. Bà Năm quay lại nhìn thấy bộ mặt ngơ ngác bơ phờ của nàng, bà kêu chồng:
– Ủa, cái ông nầy mới là vô duyên thậm tệ gì đâu. Ông đang nói cái chuyện gì vậy?
Ông Năm như người đang ngủ mê bị thức bất ngờ, ông trợn mắùt:
– Bà làm cái gì dữ vậy! Thì tui đang giảng cho con cháu nó nghe.Tui đang tìm lời an ủi nó.
Bà Năm cười hăng hắc:
– Ông thì chứng nào tật đó không bỏ được mà. Cứ hể có ai đụng đến là ông đem ba cái đó ra nói hoài. Nói mà không cần biết người ta có nghe không.
Ông Năm cự nự:
– Trời ơi là trời. Tui có làm gì đâu mà bà nói làm như tui dụ dỗ người ta ăn tiền ăn bạc gì đó.
Bà Năm xì một tiếng:
– Tui không có nói xấu gì ông hết. Tui chỉ nói là ông nói không nhằêm nơi nhằm chốn thôi hà. Lúc nào cũng như là ông…
Ông Năm nạt đùa:
– Thôi tui im rồi bà đừng có nói nữa được không.

Tuy mới quen biết với gia đình bà Năm, Nguyệt Nga cũng đã biết tánh khí cặp vợ chồng nầy. Ông Năm thích ngồi quán càfé , tụ hợp anh em bạn già vài ba người nhâm nhi la-de củ kiệu bàn chuyện thế sự, đạo đức, kinh kệ. Bà Năm, thực tế, bụng để ngoài da, nạt chồng át giọng. Những ngày đầu cứ thấy hể ông bà ngồi lại với nhau, khi ông bắt đầu nói thì bà át giọng nạt đùa, Nguyệt Nga cứ e dè sợ sệt. Cái nỗi lo lắng mang tâm trạng là mình đang làm phiền người ta. Lâu ngày, nàng biết hai vợ chồng ông Năm thiệt thà dễ ở.
Bà Năm nói tiếp:
– Tôi đã nói với ông hoài. Là ba cái chuyện của ông, ông đem ra mà bàn với bạn của ông. Còn tui chỉ biết cắm đầu làm ăn, kiếm tiền cho ông có café, có la-de củ kiệu…còn ba cái hiểu biết đó dành cho ông. Con Sáu nó nhỏ rí hà, như tui đầy tui từng tuổi này rồi mà tui còn ù ù cạt cạt, nó làm sao nó hiểu thấu mà ông đem ra giảng giải khuyên lơn?
Ông Năm cười tỉnh queo:
– Ừ, thì thôi. Nhưng dầu sao tui cũng nói cho nó nghe. Hổng được ít cũng được nhiều, ngày qua tháng lại biết đâu một ngày nào đó nó hiểu ra có lợi cho nó. Mình trách trời trách đất, mang tội. Có trách là trách con người nè.
Bà Năm ngoắt tay kêu Nguyệt Nga bước lại chỗ bà.
– Ừ, để từ từ rồi nó hiểu. Bây giờ cháu phụ coi hàng cho dì nha. Dì có chuyện phải đi qua bên chợ với ổng một chút.
Bà Năm không đợi Nguyệt Nga trả lời, bà đãđứng dậy bước đi. Ông Năm bước theo vợ. Nguyệt Nga ngồi một mình nhìn người qua lại, đầu óc mơ hồ, phân vân. Mọi chuyện đều chưa được rõ ràng, tâm thần bối rối bất an. Đang khi ngồi mơ màng nhìn ra con đường trước mặt. Mắt nàng bỗng sáng lên.
– Linda!
Người con gái đang đi bên kia đường, nghe tiếng kêu đứng khựng lại lức láo nhìn, tìm kiếm. Nguyệt Nga hối hận đã lỡ kêu. Nàng bụm miệng ngồi xuống. Người con gaí đi bên kia đường chính thị là Linda đã nhìn ra nàng ngồi bên đường, dưới tàng cây phượng vĩ, đang hối hả băng qua đường. Nguyệt Nga rối bời, vừa nhìn thấy Linda, nàng kêu lên , và khi kêu rồi nàng lại hối hận. Linda đứng trước mặt, hai mắt sáng rực mừng rỡ:
– Í, chị Nga. Sao mà may quá. Chị biết em đi đâu không?
Nguyệt Nga lắc đầu. Linda liến thoắng:
– Sáng nay em đã có chủ đích đến Phú Lâm tìm chị nè. Em ghé ngang qua đây mua ít đồ cho chị. Ai dè đâu chị lại ở đây .
Nguyệt Nga tiếp tục lặng thinh đưa mắt nhìn Linda.
– Chị làm gì ngồi ở đây? Chị bán cái gì ở đây? Í mèn ơi…chị bán gà? Ai mà biết đâu.
Linda sà xuống bên cạnh. Nguyệt Nga lí nhí:
– Của dì Năm, dỉ nhờ coi cho dỉ đi chút chuyện.
– Vậy sao? Bà Năm cho chị ở nhờ đó hả?
– Ừ.
– Thôi đi. Em ngồi đây đợi bả trở lại chị đi với em nha.
Nguyệt Nga lừng khừng hỏi:
– Đi đâu?
Nàng hỏi rồi lại hối hận, nàng nói thầm “tại sao lại hỏi chi vậy.”
Linda vẫn không để ý đến cử chỉ bối rối, lừng khừng của Nguyệt Nga, vẫn bô bô cái miệng:
– Đã nói với chị rồi, tối hôm qua đó. Em dẫn chị đi sắm đồ rồi chị đi làm với em. Chị biết sao hông, ông Chương sáng sớm hôm nay chạy xe qua nhà em rủ em đi tìm chị. Oång mời tụi mình đi ăn sáng. Oång muốn chở tụi mình đi Thủ Đức đó.
Linda cuí sát tai Nguyệt Nga nói nhỏ:
– Thằng chả có vẻ “mết” chị rồi.
Nguyệt Nga nhìu mày:
– Mết là sao?
Linda cười, giọng cười trong trẻo:
– Mết là mê đó. Mê tít thò lò. Trời ơi, chị hổng biết à. Coi cái bộ thằng chả hôm qua là em đã biết ngay mà.
Linda ngưng cười, nét mặt nghiêm trọng:
– Nhưng mà em dặn chị trước nha. Đàn ông ở Sài Gòn ghê lắm đó chị ơi, đừng tưởng bở. Cái thằng cha Chương này ghê lắm đó. Thằng chả có vợ con rồi đó.
Linda nói tỉnh queo:
– Có thời thằng chả đeo cứng em.
Nguyệt Nga nhăn mặt, Linda vẫn nói oang oang:
– Chị đừng tin tụi đàn ông. Càng co ù tiền chừng nào, càng dê xồm chừng đó.Thằng cha nào cũng một điều thương yêu, hai điều là thề với thốt. Xí! Toàn là một đám cà chớn, vợ con đùm đề…mà có cha lại sợ vợ như gì mới chết.
Lần đầu tiên Nguyệt Nga nghe hai tiếng cà chớn. Mặt nàng lôä vẽ ngạc nhiên, Linda không thấy.
– Nói chị nghe. Chỗ chị em, em nói thiệt. Làm cái thân đàn bà con gái như tụi mình nếu mà ngu chỉ có khổ. Hồi em mới lên đây em cũng vậy thôi. Có chút sắc đẹp là đàn ông nó bu lại như kiến. Ở đời mà chị…Mà nói chị nghe nè, nếu mình hổng khéo thì bị mấy con vợ nó đánh cho bờm đầu.
Càng nghe Nguyệt Nga càng nhăn mặt. Những chuyện chưa nghe qua lần nào chớ nói chi mà thấy. Linda vẫn tỉnh bơ kể:
– Để rồi từ từ chị sẽ biết. Chị có nghe hay chưa, con bạn em nó nói như vầy…cái gì mà “Đàn ông năm bảy lá gan, lá ở cùng vợ lá toan cùng người” gì đó. Ghê lắm chị ơi.
Càng nghe, lỗ tai Nguyệt Nga càng lùng bùng. Nàng im lặng nghe. Linda nói tiếp:
– Mà thôi, chuyện đó để từ từ tính sau. Bây giờ chị làm gì ở đây?
Nguyệt Nga trả lời gọn lỏn:
– Bán gà.
– Trời đất! Thiệt hả?
– Chớ làm gì bây giờ.
Linda đứng lên, hai tay chống nạnh ngang hông, nghiêng đầu nhìn Nguyệt Nga như thể người ta đang nhìn con gà trong bội để ước lượng trả giá:
– Chị nói thiệt?
Nguyệt Nga lặp lại:
– Ừ.
Linda xà xuống ngồi bên cạnh Nguyệt Nga. Cười:
– Thôi đi chị ơi.
– …
– Chị mà đi bán ga.ø Uổng chết. Ở đây người ta ham muốn làm cho có tiền, mà càng có tiền mới sống sung sướng được.
Nguyệt Nga trả lời:
– Ở đâu cũng vậy mà.
– Nhưng mà chị hổngbiết. Người con gái có sắc như chị ai lại đi bán gà bao giờ?
– UaÛ, sao vậy? Chớ làm gì?
Linda cười hăng hắc:
– Ông trời ổng cho người con gái là cái sắc. Có sắc đẹp thì mình phải biết lợi dụng cái vốn đó để mần tiền. Vừa có nhiều tiền mà khoẻ cái tấm thân.
– Là sao?
Linda chậm rải nói như gằn từng tiếng:
– Là bắt mấy cái thằng có tiền mà còn lộn xộn, dê xồm như thằng cha Chương cung phụng tụi mình. Ở đời thiếu giống gì những cái thằng như vậy.
Bây giờ thì có ngu đến đâu, Nguyệt Nga cũng biết Linda làm nghề gì. Nguyệt Nga chưa dám nói ra suy nghĩ của mình, đúng như là con Nhân Hậu đã nói “đi một ngày đàng học một sàng khôn” nàng ướm thử:
– Làm sao mà mình bắt người ta cho được.
Linda bật ngửa ra cười khoái trá:
– Thì chị cứ theo em rồi biết.
– Chị hổng biết đâu em.
– Đã nói rồi mà. Chị cứ để đó em lo. Chị muốn gì được nấy. Chị có biết hông, cái hồi ở dưới quê, em là con Lép ngu dốt đen đủi xấu xa. Em theo cái thằng bồ em lên đây rồi nó bỏ em ở lại. Em như con gà lạc mẹ, như con chuột vướng bẩy…rồi ông trời cũng thương, đâu cũng vô đó hết trơn.
Đang ngon trớn, giọng Linda bỗng ướu rượt:
– Nhắc lại hồi đó…em muốn khóc. Với chị em coi như bà chị của em, em hổng dấu. Chị nghĩ coi, một thân một mình, nhà quê nhà mùa lạc lên đây, một chữ cũng không biết, cái tên đường đọc cũng không ra…ngó đâu cũng minh mông như cánh đồng vào mùa nước nổi…đi hổngbiết lối, về hổng biết đường về nói chi đến chuyện làm với ăn. Rồi đâu cũng vô đó chị ơi. Đói đầu gối phải bò, cuộc đời nó đưa đẩy em đến bây giờ. Nói thiệt chị thương, em cũng có về quê mấy lần, thăm lại mổ mã tía má của em…có lúc em cũng muốn bỏ cha nó cái chốn nầy mà về mua vài ba công đất, mấy công ruộng lấy một tấm chồng mần ăn…nhưng chưa được đó chị ơi.
Linda ngừng nói, mặt nó cúi xuống chớ không vênh vênh vui sướng như lúc nãy, Nguyệt Nga biết nó nói thiệt. Nàng chợt bồi hồi:
– Bây giờ về vẫn còn được mà em. Hay là em theo chị về quê đi.
Nghe nhắc đến “về quê” Linda ngước mặt lên, giọng ráo hoảnh, chắc như cua tối trời:
– Hông!
NguyệtNga chưng hửng với cái giọng nói của Linda. Nàng ngảngười lua ra mộ chút, ngó chăm bẳm:
– Ủa, sao vậy. Hổng phải em mới bói với chị là em muốn về quê kiếm khoảng vườn mần ăn đó sao?
Linda gật cái đầu:
– Ừ, em có nói với chị như vậy. Nhưng đó là những ý nghĩ hồixửa hồi xưa kìa.
Linda đưa mắt ngó mông ra con đường ồn ào trước mặt. Giọng xa vắng:
– Còn bây giờ….thì em hổng thể đi về.
Nguyệt Nga ngạc nhiên thiệt sự:
– Kỳ há. Tại sao vậy. Nhà mình còn đó, đất mình còn đó….quê mình còn đó sao em hổng về được.
Linda ngồi im chưa trả lời. Ngồi một lát, Linda hỏi ngược:
– Mà sao em phải về chớ?
Ngyệt Nga cười ra tiếng:
– Em nói mói ngộ chưa. Thì em ước được miếng vườn, vài ba công ruộng để mần ăn…bây giờ em có tiền thì về mà mua đất lập vườn, mua ruộng cấy lúa chớ có gì.
Linda nhìn NguyệtNga như thể nhìn một con người từ trời mới rớt xuống trước mặt:
– Chị mới ngộ đó ta ơi. Em đã nói là có hồi em nghĩ như vậy.Đành rằng bây giờ em có dư tiền để mua ruộng, lập vườn lấy một tấmchồng….nhưng mà hổng được nữa rồi chị ơi.
– Sao vậy?
– Sao trăng gì đâu.
Linda im lặng một hồi và cuối cùng giở giọng triết lý:
– Ước mơ….ừa, ai mà hổng có ước mơ. Con nít thì có mơ ước của con nít. Người lớn có ước mơ của người lớn. Mơ ước thì ai cũng mơ ước nhưng….chị à.
Lại im lặng…
– Ước mơ thì ai cũng như ai…nhưng còn biến được cái niềm mơ nỗi muốn đó thành việc có thiệt….thì đâu phải ai cũng làm được đâu chị ơi.
Càng nghe Nguyệt Nga càng mờ ớ:
– Ngộ chưa. Em nói gì mà nghe lạ thiệt là lạ. Đâu phải em muốn thành bà hoàng bà chúa, công tử vương tôn làm thánh làm tướng gì đâu cà. Em chỉ muốn có miếng đất lập vườn…mà em có của thì em bỏ ra mua chớ có gì?
Linda cười như nắc nẻ, cười như thấy chuyện mắc cười, chuyện lạ chưa từng thấy. Nín cười, Linda vỗ vai Nguyệt Nga:
– Cái nầy thì em xin chị bỏ qua…chị đừng giận em, em phải nói thiệt là chị còn ngây thơ lắm. Chị thiệt thà quá đổi đi chị Nga ơi.
Nguyệt Nga không giận mà càng ngạc nhiên. Linda nhìn bộ tịch như chúa tàu nghe kèn, nàng nghiêm nét mặt, giọng chửng chạc, rạch ròi:
– Để em nói chị nghe. Cái chuyện em nói đây không phải là chuyện có tiền hay là không có tiền. Cái chuyện đáng nói ở đây là cái lòng con người. Hồi năm nẳm em là con Lép, em nghèo em đói em đen dủi xấu xa….em đói cơm khác nước, em thấy người ta có nhà cò cửa em ham…cái nỗi ham muốn bình thườngcủa một con người. Cái ăn và cái mặc. Nhìn thấy miếng ruộng lúa trôû bông vàng, nhìn cái đìa con cái nó đớp móng như cơm sôi….cái nồi canh chua cá kho, cái miếng ớt xanh dằm mắm…đó là mơ ước …còn bâygiờ…chị nghĩ coi.
Linda ngừng nói, lấy tay chỉ vô ngực của mình. Và hỏi:
– Chị coi cái bộ vó của em bây giờ…chị nhắm em đi mần ruộng, nhổ cỏ, lên liếp….có được hông?
Hỏi va øtrả lời luôn:
– Không được đâu chị ơi…cái tâm lý con người nó kỳ lắm. Hồi chưa có ăn thì muốn có ăn…ăn cái gì cũng được, chỉ cầu no…còn bâygiờ, cái ăn không còn cần thiết nữa. Em bây giơ ølà muốn ăn ngon, mặc đẹp, ngày tháng rong chơi ma økhỏi phải mần gì ráo trọi….đó bấy nhiêu thôi….làm sao em về ruộng được hả chị Nga?
Nguyệt Nga im lặng. Linda tiếp tục triết lý.
– Cái nầy kêu bằng được voi thì đòi tiên đó chị. Mà nào phải mình em muốn đâu…ai ai cũng vậy hết đó mà. Thoạt kỳ thủy là muốn ăn no mặc ấm, nhưng đã có chút rồi thì lại muốn ăn ngon mặc đẹp…va ønếu được đừng có làm gì ráo mà có ăn ngon mặc đẹp….mới là đã đó chị.
Nguyệt Nga kín đáo nhăn mặt, Linda vẫn vô tình nói oang oang. Nàng nói bằng cái giọng thỏa mãn, dạy đời:
– Nói chị nghe, đời nó dạy cho em như vậy. Hỏi chị một câu nha. Trên đời nầy có người nào hổng muốn giàu sang phú quới, chị nói em nghe coi? Hổng có đâu chị hai ơi. Nói thiệt với chị, nếu em mà ở hoài dưới miệtr uộng, em sẽ là một con Lép nghèo đói đi ở đợ kiếm cơm, suốt ngày cứ chùi mình ngoài bờ sông, mé lạch…chờ cho nhà nào họ tát đìa la ømình mò tới bắt hôi…còn bây giờ…thời thế nó khác. Ai ngu thì ráng chịu. Em học được một câu “Không sống mống chết’” mà chị.
Linda ngừng lời, Nguyệt Nga chưng hửng. Nàng chưng hửng là phải, con Lép ngày nào bây giơ økhác huơ khắc hoắc. Nó khôn lanh, rành rỏi chớ đâu có như nàng. Mà nói cùng thì con Lép nói đâu có sai. Nhân Hậu nói hoài cái câu tục ngữ “Tay ôm túi bạc kè kè, nói bậy nói bạ người ta nghe rầm rầm.” Phải mà, làm gì thì làm mà hổng có tiền có bạc thì đâu có ai nghe. Ông bà đã dạy “lúa thóc đâu bồ câu theo đó” coi vậy mà trúng phóc. Nguyệt Nga không biết nhiều, nhưng nàng nhìn thấy sự đời diễn qua trước mắt cũng đủ hiểu ra chút ít. Linda cười vỗ vai nàng:
– Rồi sao? Bây giờ chị muốn làm con bán gà hay là chị muốn đi với em.
Nguyệt Nga không trả lời. Linda nói tiep:
– Em đã nói rồi. Em xin lỗi chị rồi…em hổng phải dạy đời cho chị đâu, nhưng mà thiệt là nó như vậy.
Linda bất chợt xuống giọng như thể phân trần:
– Em đâu có giựt tiền giựt bạc của ai. Em đâu có lường thưng tráo đấu, ăn chận ăn giựt. Phải chi mà em đi buôn bán đe øđầu cởi cổ ai, hoặc giả là em cho vay cắt cổ, giựt ruộng thu lúa của ai… Chỉ là vì co ùmấy thằng cha đàn ông dê đạo lộ thì mới ra cái cớ sự nầy. Cái đó là tự mấy thằng chả chớ nào có phải tại em đâu. Mấy chả tự nguyện mà.
Nghe Linda phân trần, Nguyệt Nga không biết nói gì ngoài sự im lặng và một nỗi xót xa dâng lên trong lòng. Ừ, nó nói vậy mà phải. Ở nhà quê thì mấy cha chủ điền, hương chức chén ép đâu phải là không có. Cái chuyện mất vợ đợ con đâu phải là không xảy ra ở quê? Cha nào có chức có quyền là có bà lớn bà nhỏ, con rớt con riêng…ở chợ nó khác mà ở thành nó càng khác hơn.
Nguyệt Nga gục gặt mái đầu:
– Ừ, em nói thì chị nghe. Chị hổng biết nói lời gì với em.
Linda cười lớn lên, mừng rỡ:
– Như vậy là chị chịu rồi phải hông?
Nguyệt Nga trớt hướt, như gáo nước đổ đầu con vịt:
– Chịu gì?
– Hừ…chị khéo giả bộ với em.
– Thiệt mà.
– Chớ hổng phải là em nói với chị là chị em mình cùng đi làm với nhau.
– Ừ…thì chị sẽ đi làm.
Nguyệt Nga ngập ngừng:
– Nhưng mà…như em nói…đi làm….nghề giựt chồngcủa người ta thì….thì…
Linda nhảy dựng lên như dẵm trúng cục than hồng:
– Í mẹ ơi…cái gì mà làm nghề giựt chồng người ta???
– …
– Chị nói gì mà ghê quá mạng. Đi giựt chồng người ta nó đánh cho mà bờm đầu à?
Nguyệt Nga trợn mắt:
– Chớ nảy giờ em nói cái gì? Chị nghe là em chỉ muốn ăn không ngồi rồi, mà có người đem dưng tiền hiến bạc cho mình sắm sanh vòng vàng xuyến bạc, hột xoàn…
Linda cười:
– Ừ, thì đại khái là như vậy đó…nhưng mà mình đâu có giựt chồng cuả ai đâu. Người ta tự động đem dưng cho mình mà.
Nguyệt Nga vẫn lắc đầu:
– Chị hổng hiểu. Chị nghe chưa kịp…
Linda vuốt vai:
– Thôi, bỏ đi. Bây giờ chị cứ chịu đi cái đã, còn chuyện gì thì hạ hồi phân giải. Chị muốn về quê mần ruộng thì mần. Muốn ở đây với tụi em thì ở. Em nói chắc một điều là cái xã hội nào cũng vậy. Ở quê thì có cái ở quê, thiên lôi hà bá…còn ở thành thì nó có cái chuyện ở thành…cứ anh anh em em là xong hết ráo chớ có gì đâu. Cái đó là do mình biết khôn mà thôi. Đã nói là “không sống mống chết” mà.
NguyệtNga không muốn nghe nữa. Trong lòng nàng đã tan nát rối mù như đám rễ lục bình. Thôi thì cứ nhắm mắt đưa chưn tới đâu hay tới đó. Nhưng nàng tự dặn lòng đừng có làm điều gì “thương luân bại lý, điếm nhục tông môn” là được rồi.Ông trời ổngcó mắt xét soi cho tấm lòng và cảnh khổ của nàng.
Nguyệt Nga đâm nhớ nhà quá thể, hình ảnh những bữa cấy, đập lúa trên sân đình làng. Những đem trăng thả mái dầm bơi chiếc tam bản đi coi hát bóng, hát bội…sao mà nó vui ơi là vui, sướng ơi là sướng…chớ có đâu mà phải nghĩ phải suy phải làm màu làm kế như con Lép-Linda mới nói. Rõ ràng là từ cha sanh mẹ đẻ đến giờ nàng mới nghe được lần đầu. Các câu chuyện kể đời xưa, những gương tốt sao mà không thấy ở đây. Cái chốn nầy, phồn huê đô hội, người ta ăn trắng mặc trơn, quần là áo lụa. Như con Lép đây…mới ngày nào ở chốn quê mùa, cái chữ cắn làm hai để mài ra làm thuốc cũng hổng có mà bây giờ nó triết lý ra gì. Cái mững nầy dám nó còn hơn con Nhân Hậu.
Linda ngó thấy bộ vó của Nguyệt Nga như kiến bò chảo nóng, nhấp nha nhấp nhỏm. Cái sắc trên mặt lúc đỏ lúc xanh, khi thì vàng như nghệ lúc xanh chành như trái mù u. Linda bắt mạch biết là Nguyệt Nga còn bở ngở. Ở đời mà, mới đầu thì còn làm bộ làm tịch, chớ khi mà đã cắn rồi…chà chà…nệm êm chăn ấm, quần áo vòng vàng đeo đỏ tay thì lúc đó trời gầm cũng hổng nhả chớ nói chi chuyện khác. Linda cười mím chi, cái cười làm nổi rõ hai cái đồng tiền trên đôi má. Linda cười thiệt lâu rồi mới nói:
– Thôi em dzìa nha. Mai mốt em tới dẫn chị đi chơi nữa. Chị làm lỡ chuyện của em hết trơn…bữa nay tính đi mua cho chị mấy bộ đồ vía, mà gặp chỉ ở đây nói chuyện loanh quanh hết giờ rồi. Bây giờ em có cái hẹn phải đi liền. Ngày mai hay ngày mốt em tới nha.
Nguyệt Nga gắng nở một nụ cười:
-Ừ, có chuyện thì cứ đi.Chị cũng phải ngồi đây chờ dì năm dỉ về mới được.
Linda đứng dậy, vươn vai, sửa lại áo quần:
– Được rồi. Mai mốt em lại chơi. Chị nghĩ cho chín đi nghen. Em hổng nói dốc chị đâu. Vài ba bữa nữa chị vù qua mặt em một cái ào bây giờ.

Linda đã bước qua tới bên kia đường, Nguyệt Nga vẫn còn ngóng mắt ngó theo. Nhìn cái dáng nhún nhẩy trong từng bước chưn của Linda, nàng bất giác lắc đầu mấy lượt. Khó mà hiểu cho được bộ mặt thực của đời sống. Nguyệt Nga không bao giờ hiểu được. Nàng lầu bầu trong miệng “Khổ thiệt chớ không phải chơi.” Cuộc sống tự nó đã có quá nhiều điều khó hiểu, xã hội tạo nên đời sống lại càng có nhiều điều khó hiểu hơn. Con nguời mỗi thời mỗi khác. Mỗi một thời, mỗi một nơi đều có những điều ẩn dấu và tạo nên con người sống trong môi trường đó. “Ở bầu thì tròn ở ống thì dài” có phải ông bà cha mẹ đã dạy cho nàng? Ừ, nghe thì có nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ đâu mất tiêu cho tới khi đụng chuyện đối mặt với đời con người ta mới bất chợt nhớ ra. Người xưa đã nói thì không mấy khi sai chạy.

Nguyệt Nga vẫn mông lung với những ý nghĩ, mắt vẫn nhìn người qua kẻ lại tấp nập. Những con gà khát nước cục cục trong mấy chiếc bội tre, những con gà làm sẵn nằm phơi mình vàng óng trên bàn. Nguyệt Nga vói tay lấy bình nước trong chiếc giỏ mây của bà Năm, uống một ngụm và nàng đổ nước ra bàn tay xoa lên mặt, vuốt vuốt mấy cái cho tỉnh táo. Có mấy người khách đang ngồi chồm hổm lựa gà, nàng không thiết mời chào như lời bà Năm dặn dò.
Trời càng về trưa, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt, xe chạy ồn ào, không khí chung quanh như đăïc cứng lại quanh nàng. Lấy chiếc nón lá xuống, quạt hối hả như múc gió đổ vô người vẫn không hết nóng. “Như vầy mà sống được…sao mà nóng nực quá trời quá đất.”
Bà Năm từ đàng xa bước lại, người chưa tới mà giọng nói đã tới rồi:
– Sao bán được không cháu.
Bà Năm ngồi xuống, lấy khăn lau mặt và than:
– Chợ sắp tết nên đông quá sức. Hôm nay lại trở trời nóng hầm hập như lò lửa.
Bà day qua Nguyệt Nga hỏi:
– Cháu muốn uống nước gì kêu con nhỏ đàng kia nó làm cho một ly, lát nữa ăn cơm.
Nguyệt Nga ngồi nép qua một bên nhường chỗ cho bà Năm ngồi xuống, một người khách mua mấy con gà sống và một con gà làm sẵn. Bà Năm tính tiền, Nguyệt Nga nhìn qua bên chiếc xe bán nước mát ở bên cạnh. Chiếc xe có mái che, được đặt trên 4 bánh xe bằng gỗ nhỏ. Chung quanh chiếc xe có gắn những miếng kiếng và những tấm kiếng vẽ hình những vỡ tuồng hát bội. Mọi thức uống đều được đựng trong các chiếc bình bằng đồng bóng. Đứa bé ngồi trên chiếc ghế cao cẳng vừa đọc truyện bằng tranh. Có một cặp thanh niên nam nữ đang ngồi uống nước. Bà Năm thấy nàng ngó chăm chăm vô chiếc xe, bà nói:
– Uống nước đi cháu. Làm một ly sâm bổ lượng cho mát.
Nguyệt Nga ngó bà:
– Sâm bổ lượng? Nước sâm hả dì Năm.
– Không biết, tao nghe người ta kêu như vậy thôi. Nó mát lắm.
Nguyệt Nga đứng dậy bước mấy bước đến bên chiếc xe, con bé bàng hàng ngó nàng như dò hỏi. Bỏ quyển sách xuống, nó hỏi:
– Chị uống gì?
Nguyệt Nga trả lời như cái máy:
– Sâm bổ lượng.
Vói bàn tay nhuyễn nhừ như người ta múa, con bé bán hàng dùng một chiếc kẹp bằng nhôm gắp gắp bỏ bỏ nhiều thứ làm sẵn vô chiếc ly bằng thủy tinh, cuống cùng nó đổ đầy một thứ nước vàng sóng sánh như mật ngập chiếc ly. Đưa cho nàng, con bé tò mò:
– Chị là con dì Năm?
Nguyệt Nga chưa kịp trả lời, nó đã nói tiếp:
– Chắc không phải, mấy chị em biết mặt hết trơn.
Con bé nói chuyện ngây thơ và thiệt thà, nàng nhìn ngó cười nhẹ:
– Chị là cháu dì Năm.
– Ô! Vậy sao, hèn gì em thấy chị lạ hoắc.
– Chị ở đâu?
Nguyệt Nga nhìn nó với cảm giác gần gủi.
– Chị ở dưới quê lên chơi.
– Hèn gì.
Nguyệt Nga ngạc nhiên khi nghe như vậy. Nàng hỏi:
– Hèn gì …!!!
Con bé bán nước giải khát cười để lộ chiếc răng khểnh dễ thương. Nó liến thoắng:
– Nhìn chị là em biết liền là chị không ở đây.
Càng ngạc nhiên, Nguyệt Nga hỏi:
– Sao vậy. Bộ chị lạ lắm sao?
– Hông có đâu. Nhưng…mà hổng biết, em chỉ nói đại vậy đó mà. Em không biết tại sao mới nhìn chị là em biết chị không phải là người ở đây.
Nghe con bé nói, Nguyệt Nga càng ngạc nhiên. “Ủa, không lẻ mình có gì khác với người chung quanh đây?”
Tuy ngạc nhiên trong bụng nhưng nàng không hỏi, nàng ngó con bé và nói:
– Ừ, em giỏi quá, mới ngó qua là biết chị không phải người ở đây.
Con bé cũng mau miệng:
– Đâu có gì đâu, em ngồi đây từ hồi còn tí xíu, người ta qua lại ở đây hà rầm, người nào mới đến, người nào buôn bán nhìn qua là em biết liền.
Nguyệt Nga không hỏi nữa, nàng bưng ly nước về chỗ ngồi, con bé nhìn theo.
Ba ø Năm ngó nàng:
– Hai chị em nói gì mà con nhỏ nó vui vẻ vậy?
– Dạ đâu có nói gì đâu. Nó mới nhìn cháu là nó biết cháu không phải người ở đây.
Bà Năm cười:
– Đâu có gì khó đâu cà. Dân đô thành họ sống khác, từ cách đi đứng, ăn nói, mua sắm đều khác. Mình sống đâu quen đó, nhìn người lạ mới đến lần đầu là mình biết liền chớ khó gì.
Nguyệt Nga múc từng muỗng nước đưa lên miệng, những sợi rau câu, những hột đậu xanh không võ lẫn lộn với những miếng táo tàu gây cảm giác lạ miệng.
– Cũng ngộ ha.
Bà Năm quay lại:
– Cái gì ngộ?
– Thì người đông như kiến mà mới ngó qua tới con nhỏ đó nó cũng biết là người lạ…cháu thấy ngồ ngộ.
– Đâu có gì đâu.
– Ở dưới quê người ta biết nhau hết trơn, còn ở đây dượng Năm nói mạnh ai nấy sống mà sao họ để ý làm mà biết người lạ người quen? Chi vậy?
Bà Năm ngồi bật ngửa ra chiếc ghế đan bằng những sợi ny-long, bà nói:
– Thì thấy cái cách của cháu người ta biết liền là người lạ. Sao thì dì không biết, nhưng mấy người buôn bán họ phải biết khách hàng của mình là ai để mà bán buôn chớ.
Càng nghe càng lạ. Nguyệt Nga hỏi tới:
– Ủa, chi vậy dì Năm.
– Đâu có gì lạ. Như dì thì không để ý làm chi, nhưng con buôn ở đây họ biết để mà họ bán. Người ở quê lên, họ bán mắc hơn, hoặc giả họ bán đồ xấu. Ui, mà hơi sức đâu mà để ý.
Nguyệt Nga có một thời gian đi buốn bán ở dưới quê trong thời gian đem đứa con lên chợ. Tuy mang tiếng là buôn bán nhưng nàng chưa phải là người biết ăn biết nói, cứ thiệt thà có sao nói vậy quen thói quê mùa. Hèn chi khi đi mua sắm với Linda nàng đã thấy bạn trả treo giá cả với người bán. Từ trái cây cho đến thức ăn, từ chợ chồm hổm cho đến các cửa hàng. Co ùlần nàng đã nhìn thấy bảng giá niêm yết và có ghi câu “Bán đúng giá, không trả giá” nhưng Linda vẫn kì kèo. Nghe bà Năm nói như vậy, Nguyệt Nga càng ngán ngẫm hơn.
– Buôn bán ở đây khó quá hả dì năm?
– Không có đâu. Trăm người bán vạn người mua mà. Ai làm được nấy ăn chớ có gì đâu mà khó.
– Chắc cháu không buôn bán được.
– Sao vậy?
Nguyệt Nga cười:
– Cháu không biết nói thách.
Bà Năm la lên:
– Í trời! Có gì mà không biết. Đi buôn bán mà không biết nói thách làm sao mà bán mà buôn.
Nguyệt Nga vặn mình nghe lốp rốp.
– Nói thách làm gì cho mắc công trả giá qua lại. Cứ mau sao bán vậy kiếm đồng lời chớ mắc gì phải thách.
Bà Năm cười:
– Con nầy nói nghe mới ngộ. Hổng thách làm sao bán. Tỉ như mấycon gà nầy, mình bán buổi sáng khác buổi chiều chớ, mà ngưòi mua ở đây cũng quen rồi, không thách người ta vẫn trả giá rồi mình ngồi đó mà đợi à.
Nói cháu nghe, nghề buôn bán nó là như vậy mà. Có làm gì đâu mà khó.
Bà Năm chỉ tay ra đường, nơi đó có mấy người thanh niên mang trên vai một cái giỏ cần xé bự tổ chảng, trên đó đựng đủ thứ đồ vật dụng. Từ cái chổi làm bằng lông gà đến cây kim ống chỉ. Bà nói:
– Không phải dì nói tốt chớ…như mấy người bán dạo đó, nếu người ta mua sao bán vậy thì làm sao mà chạy hàng. Cứ coi mặt mà bắt hình dong. Cũng một món đồ nhưng tuỳ người mà mình kêu giá. Con gà thì không thách được nhiều như mấy cái món khác, nên mình thách ít thôi. À, mà có món không thách…như là ly sâm bổ lượng trên tay cháu đó.
Nguyệt Nga không hỏi thêm nữa. Mới có mấy ngày mà nàng đã thấy mình khác hoàn toàn. Sau khi tiếp xúc với đời sống Đô Thành, từ con Linda Lép, đến ông Chương, gia đình bà Năm gà. Tất cả đều mới lạ. Một chân trời mới mở ra trước mắt nàng với bao nhiêu là thử thách.
Uống tiếp cho đến khi không còn một giọt nước nào ở trong ly, Nguyệt Nga mới thở ra cái phì:
– Chắùc cháu chỉ buôn bán được chiếc xe nước mát đó thôi.
– Ừ, cháu có chút vốn thì sang lại một chỗ mà bán.
Nói cho qua chuyện chớ trong thâm tâm nàng vẫn chưa biết làm gì. Buôn bán phải cần vốn, nghề không vốn như Linda thì nàng chưa dám nghĩ tới. Nguyệt Nga lại miên mang nhớ đến Nhân Hậu. “Phải chi mà có nó ở đây thì đỡ biết mấy.”
Bà Năm bận rộn với mấy người khách mua gà; bỗng nàng giật mình như ngồi trúng cục than hồng. Nàng vội vàng bụm miệng để khỏi la hoảng. Quay mặt đi chỗ khác. Nàng vừa thoáng thấy người đàn ông đứng đàng sau người phụ nữ đang trả giá mua gà.
“Trời ơi, không biết ổng thấy mình chưa.”
Tuy quay mặt đi, nhưng nàng vẫn không dấu được nỗi tò mò, lâu lâu lại liếc ra phía trước. Nàng biết chắc người đàn ông đứng đó chưa nhìn thấy nàng. Cứ ngó cái mặt ông ta nhởn nhơ phì phà điếu thuốc lơ đểnh ngó loanh quanh là biết liền. Trong đầu nàng lại hiện lên nỗi thắc mắc “Người đàn bà đang đi với ông ta là ai?”
Kín đáo lượm chiếc nón lá, Nguyệt Nga giả bộ quạt và che phía trước. Xuyên qua vành nón, nàng để ý quan sát người đàn bà đang mua gà với dì Năm. Người đàn bà trông sang trọng. Bà ta mặc chiếc áo đầm màu mỡ gà, cổ áo xẻ xuống gần sát ngực, một xâu chuỗi ngọc lấp lấp trên chiếc cổ trắng. Tay bà ta đang cầm một chiếc bóp đầm màu đen bóng có hai quay xách để mang vai. Tóc bà uốn cao để lộ chiếc ót với mấy sợi lông măng màu vàng lợt. Bà ta đưa tay chỉ một con gà trong bội, nơi ngón tay đeo nhẫn một chiếc nhẫn có nạm hột lấp lánh dưới ánh nắng chiếu xiên xiên. Cánh tay trần thon nhỏ, tuy gương mặt đã hơi già hơn nàng nhưng không dấu nét đẹp thời con gái. Bà ta khoảng trên 30 tuổi. Sang trọng, quý phái. Câu hỏi lại trở về trong đầu nàng “Bà ta là ai. Là vợ của ông ta?”mien tay chèo xuồng

Leave a Reply