home Giải Trí, Truyện Dài, Văn Học Cánh Đồng Nước Nổi

Cánh Đồng Nước Nổi

Từ châu thành thị xã Long An (Tân An) đi ngược lên sông Vàm Cỏ Tây, lên tới gò Bắc Chiên, rồi qua đến Soài Riêng (Kampuchia) băng băng theo kinh Cái Cỏ, rạch Sở Hạ quay về Hồng Ngự (Châu Đốc) xuôi theo giòng Tiền Giang tới bắc Mỹ Thuận gặp quốc lộ số 4 xuôi về Long An. Trong khu tứ giác đó là cánh đồng đầy lau sậy, bàng, lát, nước phèn vàng huờm. Cánh đồng nước nổi quanh năm. Đồng Tháp Mười. Cánh đồng có người nói rằng bề ngang gần một trăm cây số, bề dài dọc theo sông Tiền hơn 100 cây. Nơi cánh đồng đó về diện tích có thể có hàng triệu mẫu đất. Hàng triệu mẫu đất hoang vu; nhưng, dân cư thưa thớt. Cánh đồng từng là căn cứ địa của các anh hùng kháng Pháp thời Tây đô-hộ. Nơi đó có những con người có khi cả một đời chưa thấy ánh đèn màu. Nhưng cũng ở đó có những con người ít chữ nghĩa mà thâm nhập sâu đạo thánh hiền. Ở đó có những cánh tay rám nắng, có những bàn chưn đóng phèn. Ở đó có những người con gái tóc không thơm mùi dầu phố chợ văn minh, ở đó có những mái tóc thơm hương bưởi, nồng đượm hương bồ kết vào những dịp cúng đình. Họ đã sống như thế, và chết thảnh thơi làm phân cho bàng lát lan nhanh. Cũng ở đó có những mối tình vụng trộm, có những tiếng khóc tiếng cười lẫn trong tiếng hò theo mái chèo lảng bảng buông lơi.

Con người nước Việt mở đường về cõi phương Nam, xây dựng nên Miền Tây Nam Việt trù phú, trong đó có công sức của đám dân đen thấp cổ bé miệng, có bàn tay của những con người chất phát thật thà. Tiểu thuyết đồng quê Cánh Đồng Nước Nổi lấy bối cảnh ở Đồng Tháp xin được ghi lại hầu cống hiến quí bạn đọc.

Lê Việt Điểu

1

Buổi chiều xuống chậm, mặt trời hắt lên ánh vàng rực ở phía Tây, những đám mây phản chiếu nhiều màu sặc sỡ, những cánh cò vờn liệng ở xa xa và hạ xuống một đám lau cao quá đầu người. Cánh đồng mở rộng đến tận chân trời phía xa. Chiếc xuồng nhỏ vượt qua khỏi con rạch nhỏ len lõi vô đám bàng rậm rịt ven bờ nước. Tiếng muỗi vo ve, có tiếng cá ăn móng lách chách. Sáu Bảnh buông dầm thả trôi, móc gói thuốc, xé một góc miếng nhựt trình vò nhăn nhúm nằm trong rỗ đựng lỏng chỏng mấy cái chén, vài đôi đủa bằng tre, một cái bình trà bị sứt vòi. Bật lửa năm ba lượt Sáu Bảnh mới mồi được điếu thuốc. Hút liền mấy hơi, chuyền điếu thuốc cho người sau lái:

– Ê mầy, làm đỡ mấy hơi cho ấm trước cái đã, lát nữa tới chỗ rồi hút thả dàn nghen mầy.

Thằng nhỏ ngồi thu lu một đống sau lái tay trái kẹp chặt mái dầm, chồm người tới phía trước cầm điếu thuốc.

– Anh nói đi có một chút mà sao từ nãy giờ mặt trời xuống hơn một con sào mà chưa tới vậy anh Sáu.

Người thanh niên ngồi đằng mũi vừa đập muỗi vừa lấy tay che mắt ngó lức láo:

– Hả, mầy nói cái gì tao nghe hổng rõ.

– Tui nói sao đi lâu quá vậy? Có đúng đường hông đó.

Sáu Bảnh chửi thề:

– Đ.M mấy con muỗi bất nhơn cứ bu theo cắn miết. Tao đã xoa hành, xoa tỏi quá trời rồi mà nó cứ bu miết.

Thằng nhỏ ngồi phía sau không hỏi nữa, nó im lặng cặp chặt mái dầm giữ cho chiếc xuống đi đúng theo hướng chỉ của Sáu Bảnh. Bập bập mấy hơi thuốc, nói vói ra đằng trước:

– Anh có hút nữa hông tui làm hết luôn đó.

Sáu Bảnh không quay lại:

– Ừa, mầy làm hết luôn đi. Chắc tao lộn chỗ rồi mầy ơi. Tối nay hổng biết làm sao đây. Lần trước tao vô đây tao nhớ là từ Vàm Cỏ Tây đi về Ngã Năm đi chừng hết một con nước rồi tới chỗ cái lùm hồi nãy có cái cây thiệt bự…mà …mà sao từ chiều tới giờ tao tìm hoài hổng thấy cái cây đó…tao…

Sáu Bảnh không nói hết câu, ngưng ngang bằng tiếng thở hắt ra. Theo thói quen nó đút tay vô tuí lôi gói thuốc, vấn một điếu, le lưỡi liếm miếng giấy nhựt trình, để điếu thuốc vô giữa hai bàn tay xe một cái, điếu thuốc tròn vo. Sáu Bảnh dắt điếu thuốc lên mép tai, ngồi xuống miếng ván sạp, tay cầm mái dầm bơi mạnh. Nó nói với thằng nhỏ ngồi sau:

– Mầy để tao bơi cho, mầy nhen lửa lên bắt nồi cơm đi. Tao đói bụng qua mạng rồi, làm gì thì làm chớ ăn phải lo trước hết thảy.

Thằng nhỏ ngồi sau lái gát mái dầm lên xuồng bò lần vô mui. Nó ngồi trong mui nói vọng ra:

– Anh Sáu à, chiều nay anh ăn khô nướng hay khô ngào đường?

– Đ.M mầy làm cái gì cho lẹ lẹ là được rồi. Sáng mai mình kiếm cá tươi ăn.

– Ừa tuỳ anh đó hà.

Sáu Bảnh im lặng bơi xuồng, mắt nó nhìn ngang ngó ngửa, châu mày, chắc lưỡi:

– Đ.M thiệt tình mà. Cái đầu sao mà lóng rày để ở đâu a. Mới tuần trước bây giờ quên tiệt luôn. Út giữa à, mầy làm gì mà im ru trong đó hả út?

Thằng nhỏ Út giữa trả lời:

– Tui bật hoài mà sao cái bật lửa nó hổng cháy anh Sáu ơi.

Sáu Bảnh quen miệng chửi thề:

– Đ.M thì ra đây mà lấy cái của tao đây nè. Đồ ba cái máy dầu lửa lâu cháy thấy bà. Mầy chun ra đây mà lấy nè. À, mầy đưa luôn cái chai đế cho tao. Đ.M làm một ly cho nó ấm bụng.

Út giữa bò ra ngoài mũi. Tên thằng nhỏ là Út giữa. Chuyện cái tên của nó có lịch sử là như vầy: Má nó mén đẻ, bà con trong xóm nói hể ba nó đụng tới cái chỏng tre là má nó có bầu. Nhà nó trước ở chợ Tân An, giặc giả nên dời về quê, nhà nghèo nhưng có 11 anh em. Khi má nó đẻ đến thằng anh thứ 8 của nó, má nó hoảng quá mới đặt tên anh Tám nó là Út, nhưng theo ba nó kể là nhà nó được ông Lục nói là phải đủ chục có đầu, nên anh Tám nó là Út, rồi anh Chín là Út nầy, anh Mười Út nữa và nó là Út giữa và con em của nó là Út bìa. Tính ra đủ chục. Gia đình nó cũng có năm ba công ruông, nhưng ba nó làm thuê, má nó đi cầy mướn, đến mùa thì mót lúa thêm. Anh em nó một bầy như bầy heo. Đã nghèo lại ăn mạnh nên đứa nào đến cái tuổi biết đi là đi kiếm ăn để phụ với gia đình. Được cái trời thương nên anh em nó mạnh khù không đau bịnh gì. Út giữa10 tuổi mà mạnh bạo giỏi làm. Mình nó vát một bao gạo trên lưng đi qua cái cầu ván chất lên ghe bầu gọn bân như thanh niên, nên nó kiếm được bộn tiền cho má nó. Giác này sắp tết nên chưa ai có chuyện gì làm cho nên nó theo đàn anh Sáu Bảnh vô rừng bắt rắn và chim bìm bịp về bán cho Chợ Lớn làm thuốc.

Sáu Bảnh đưa cái bật lửa cho Út giữa dặn:

– Mầy nhen lửa xong, mầy bắt nồi cơm lên rồi mầy nướng đại mấy miếng khô ra đây ngồi với tao.

Út giữa bò trở vô mui. Sáu Bảnh ngồi một mình lầu bầu:

– Cái số nó khổ thì cho nó khổ luôn. Đ.M tối nay tao đốt lửa giữa gò tao nhậu sáng đêm. Mai về sớm. Chuyến nầy cầm bằng coi như lỗ vốn.

Có tiếng củi nổ lách tách trong mui, một ngọn khói mỏng manh bay ra. Có tiếng sột soạt trong đám bàng trước mũi, nghĩ là con rắn, Sáu Bảnh dòm chừng. Đang ngó lom lom tay hờm sẵn mái dầm. Bỗng, Sáu Bảnh giựt mình ngã ngửa chỏng gọng ra sau lọt xuống lòng xuồng, va cái đầu vô be. Một con vật vụt nháng lên có tiếng vỗ cánh phành phạch. Chiếc xuồng nhỏ chòng chành, thằng Út giữa hỏi giật giọng:

– Cái gì vậy anh Sáu.

Sáu Bảnh chửi thề:

– Đ.M con chim gì mà to như con chim đại bàng làm tao mém lọt xuống kinh rồi.

Thằng Út giữa cười hắng hắc:

– Con chim đại bàng? Sao anh hổng cho nó một mái dầm mình làm một bữa.

Sáu Bảnh cười theo:

– Bữa là mầy bữa đó. Nó bự gì mà bự tổ chảng, từ cha sinh mẹ đẻ tao chưa từng ngó thấy. Mà hông biết con chim gì.

Út giữa ngạc nhiên:

– Ủa, anh nói chim đại bàng mà.

Sáu Bảnh cười to:

– Đ.M đại bàng là tao nói chớ biết có phải hông. Mà nó bự thiệt đó mầy.

Mặt nước loang loáng ánh trăng. Trời chiều sắp tối hồi nào Sáu Bảnh không để ý hay biết, mới thấy nắng vàng chói chang đó mà bây giờ tối mịt tối mò. Nhìn ánh trăng bể ra dưới cái múc mạnh của mái dầm Sáu Bảnh mới để ý, nó lo lắng tìm một cái gò cao ngủ qua đêm nay. Nước bắt đầu lớn, con nước thứ hai trong một ngày. Nó bơi xuồng từ ngoài sông Vàm Cỏ Tây vô đây tính ra đã hai con nước. Nó chắc chắn bị lạc đường. Có mùi cơm thơm phức bay vô mũi, nó thấy đói bụng cồn cào. Từ hồi nãy đến giờ nó cũng quên mất thằng Út giữa chưa đem ra cho nó chai xị đế. Nó kêu lớn:

– Út à, mầy làm gì trong đó mà lâu quá vậy? Cơm chín rồi chắc.

Út nói vọng ra:

– Sắp ăn được rồi anh Sáu. Anh kiếm chỗ nào khuất khuất táp đại nó vô ăn tối cái đã rồi tính sau.

Sáu Bảnh vấn thêm một điếu thuốc sâu kèn. Hơi thuốc làm nó khoan khoái, nó thở khói bằng hai lỗ mũi như hai ống khói tàu.

– Tao thấy rồi, đàng kia có cái cồn đất. Tao tấp vô đó đốt lửa ngủ đỡ, mai về cho rồi.

Út giữa đổ một chút tro lên mấy cục than củi còn đỏ hồng để giữ hơi nóng trong chiếc mui ghe.

– Anh Sáu ơi, cột xuồng đại vô gốc nào đó đi mình ăn cái đã rồi tìm chỗ ngủ sau anh Sáu à.

Sáu Bảnh bơi xuồng vạch đám bàng chúc mũi vô gốc cây đổ nằm dọc mé rạch. Cột xuồng, dùng mái dầm thay cái phảng phát một đám bàng quanh chiếc xuồng.

– Xong rồi mầy. Tao bàn với mầy ăn cơm tối rồi thì tụi mình đốt chút lửa, hai thằng mình quấn nóp nằm dưạ đở trong mui đừng kiếm gò mệt lắm. Lỡ mà lạc tuốt vô trong rừng sâu thì có nước chết đói à mầy.

Hai miếng khô sặc nướng lửa than củi chín vàng tươm mỡ ra ngoài, nồi cơm gạo trắng thơm lừng, một chén nước mắm sống hai trái ớt sừng trâu xanh mướt. Sáu Bảnh chồm người qua be xuồng vục nước rữa mặt. Nước không mặn cũng không ngọt, nước hơi lợ lợ. Vuốt tóc cho ướt, kéo miếng khăn rằn cũ, nhàu nát te tua, Sáu Bảnh lau mặt:

– Ê mầy, hồi nãy mầy lấy nước đâu mầy vo gạo nấu cơm?

Thằng Út giữa cười:

– Tui nấu bằng nước trong khạp chớ ở đâu.

Sáu Bảnh không hỏi nữa, nó ngồi chồm hổm trong chiếc mui ghe nhỏ, tay cầm đủa, mặt ngó Út giữa, vừa cười vừa nói:

– Tao súc cái miệng tính uống miếng nước mới nhớ lại nước nầy nhiều phèn. Tao tưởng đâu mầy múc cái nước nầy mà vo gạo nấu cơm thì có nước cho chó ăn chớ ai ăn cho được.

Út giữa xới cơm ra chén, chan một chút nước mắm, và cơm vô miệng nhai nhồm nhoàm, nghe Sáu Bảnh nói nó liền trả lời:

– Chèn ơi. Bộ anh tưởng tui ngu lắm hay sao. Nhưng mà nói thiệt với anh chớ…nếu mà nấu cơm với nước con rạch nầy tui cũng ăn luôn.

Sáu Bảnh ngồi chồm hổm, cùi chỏ của tay cầm đủa chống vô đầu gối, bàn tay chống cằm, tay kia bưng chén cơm. Vừa nhai vừa nói:

– Ừa thì tao nói vậy đó mà. Thiệt ra thì mầy có nấu nước sình tao cũng ăn. Đ.M con cá ngoài sông kia sống được thì tao sống được. Nghe mấy đứa nó nói, cá lóc trong đồng nầy bự lắm.

Út giữa bỏ chén xuống sạp, thò tay xé khô:

– Anh Sáu à. Tui nghe mấy người đi Nam Vang về nói, con cá bông lau của mình nó đẻ bên NamVang hả anh Sáu.

Sáu Bảnh cười trừ:

– Mầy đừng có chơi ác. Mầy hỏi bí tao làm gì mậy!

Út giữa lắc đầu, miệng lúng búng miếng cơm:

– Tui mà hỏi khó anh làm gì. Tui hổng biết thiệt đó mà.

Sáu Bảnh vừa mở miệng định nói thì…”Xoạt” một tiếng lớn trong đám lát sau lái. Có tiếng kêu quang quác.

– Đ.M con chim ăn đêm. Bự thiệt hả mầy.

Út than van:

– Trời mau tối ghê anh há.

– Ừa, mà sao mình hổng thắp đèn lên mầy. Từ hồi nãy đến giờ tao cũng quên mất. Ủa mà đêm nay có trăng.

Thằng Út cười:

– Tui tưởng anh quen chỗ nầy, ai mà ngờ anh cũng mới toanh. Anh có nhắm chắc là mình đi đúng hông đó. Tui nhóng thấy chỗ nầy in tuồng như là hổng có ai ở anh há.

Sáu Bảnh nói cứng:

– Mới thì mới chớ. Có vô đây mình mới chắc ăn.

Thằng Út xì muốn phun nước miếng:

– Chắc cái gì mà chắc. Biết vậy tui hổng theo anh đâu. Hết chuyện làm, đi bắt rắn bắt rùa.

Sáu Bảnh chống chế:

– Tao nghe ngoài chợ Thủ nói là rắn bán được tiền lắm à mầy. Mình hổng có gan làm sao kiếm tiền.

Út lắc lắc cái đầu:

– Tui hổng ham. Lần này đi về là tui lạy anh luôn.

– Mầy đừng có giởn chơi. Mai mốt rồi mầy coi. Rắn ngâm rượu đó mầy.

– Tui chưa nghe lần nào.

– Mầy còn nhỏ mầy đâu có biết.

Hai người im lặng ăn cơm. Ánh trăng bên ngoài mờ mờ ảo ảo. Màu trăng không trắng không xanh, nó hơi mờ đục như nước gạo phủ lên cánh đồng lau sậy ngút ngàn. Sáu Bảnh nốc cạn ly rượu thở phì:

– Nói thiệt mầy nghe. Trong nầy còn đất hoang nhiều lắm, nữa mai mốt tao dọn một vài mẩu trong nầy rồi hồi đó mầy đừng tới xin tao làm nghen mậy.

Thằng Út bỏ đủa xuống vói tay lấy cái gáo dừa múc nước uống. Nó súc miệng nghe sào sạo rồi nuốt ực:

– Tui cũng cầu cho anh được như vậy. Í! Mà nói vậy ra là anh đi kiếm đất cất chòi hả, chớ rùa rắn gì trong nầy.

Sáu Bảnh trầm ngâm, cái mặt thấm rượu ửng đỏ:

– Nói thiệt mầy nghe, thì tao cũng có cái ý đó. Một công hai ba chuyện mà mầy.

– Ra là vậy. Anh gạt tui rồi.

Sáu Bảnh khua tay:

– Hổng phải vậy đâu nghen. Đ.M, tao nói thiệt mà.

– Ừ thì thiệt. Bây giờ anh tính lên gò hay ngủ đây?

Sáu Bảnh phân vân:

– Nửa tao muốn ngủ luôn dưới nầy, nửa tao muốn bơi vô trong kia chút xíu.

– Thôi thì tùy anh đó. Tui hổng biết đâu.

Đẩy chén đủa trong cái rỗ vô một góc, Sáu Bảnh quyết định:

– Thôi ngủ đây cho rồi. Mai sớm tính. Cái nóp của mầy đâu? Tao đầu nầy mầy đầu kia nghen, mình dựa vô đây mà ngủ nè.

Nước đang đứng, chiếc xuồng nhỏ không còn lắc lư. Sáu Bảnh lôi tấm nóp ra. Thằng Út lầu bầu:

– Đêm nay muỗi nó tha tui với anh xuống sình cho mà coi.

Sáu Bảnh cười:

– Cái sạp nầy coi vậy mà tốt lắm đó mầy. Nằm thẳng cẳng hổng sợ đau lưng. Mầy quấn nóp vô, lấy cái khăn trùm cái đầu lại thì muỗi đâu có chun vô lọt mà mầy sợ. Làm cứ như thể mầy là công tử Bạc Liêu hổng bằng. Thôi đi ngủ đi mầy.

Hai đứa kéo nóp ra, đẩy cái cà ràng vô trong góc tìm chỗ ngã lưng. Năm một lát, thằng Út rục rịch:

– Anh Sáu nè.

– Gì đó mầy?

– Anh có ra chợ Thủ nhiều lần chưa anh. Tui nghe nói ở ngoải vui lắm hả. Có quán hủ tíu, có tiệm cà phê, có đủ thứ hả anh?

Sáu Bảnh ngáp dài:

– A…à…ừa vui lắm. Ở ngoài người ta có câu hát. Người ta nói ở chỗ mình là vầy nè:

Trời xanh kinh đỏ đất xanh

Đĩa bu muỗi cắn cho anh nhớ nàng

Bao giờ cho lúa chín vàng

Cắt rồi anh trở về làng thăm em.

Thằng Út thắc mắc:

– Là làm sao vậy anh Sáu.

– Mầy nói làm sao là làm sao?

Thằng Út trở mình:

– Đất gì mà xanh? Đất chỗ mình đâu có xanh đâu cà?

– Thì tao đâu có biết. Bữa nào mầy đem hỏi mấy người lớn coi. Có nhiều chuyện mà tao cũng đâu có biết. Cũng như ở chợ Mỹ đó.

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

Anh về em học chữ nhu

Chín thu em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

Thằng Út đã ngáy khò khò, Sáu Bảnh quay ngang lấy tay lắc lắc, Út ú-ớ lăn qua bên kia ngáy tiếp. Sáu Bảnh ló đầu ra khỏi nóp ngó lên mui, chiếc mui xuồng lợp bằng lá dừa nước có nhiều khe hở để ánh trăng sáng lọt vô nhấp nháy, hai đầu mui trống toang hoác gió thổi lồng lộng tứ bề. Có tiếng ngáy đều đều của thằng Út, hòa cùng tiếng ếch nhái như một điệu nhạc đồng quê, Sáu Bảnh đi vô giấc ngủ lúc nào không hay.

2.

Buổi sáng trên đồng nắng lên chậm, cánh rừng tràm vẫn còn ướt đọng sương đêm, khói trên sông vẫn là đà chưa tan hẳn. Một vài cánh chim lẻ loi lượn trên vòm cây, nước bắt đầu lớn dần, chiếc tam bản 2 chèo dạt tít vô bên trong giữa đám lau sậy cao quá đầu người. Sáu Bảnh mở mắt khi con thuyền chòng chành đợt đầu tiên, vốn quen ngủ trên sông, Sáu Bảnh nghe muì nước đủ biết con nước đang lớn. Uể oải lăn người một vòng mới chống tay ngồi lên. Việc đầu tiên Sáu Bảnh thò tay vô tuí lôi gói thuốc rê vấn một điếu, tiếng bật quẹt lách cách làm Út giữa ngóc đầu lên hỏi:

– Sáng rồi anh Sáu?

– Ừa, ngồi dậy bắt nồi nước nấu nồi cháo ăn cái đã mầy.

– Anh đang làm gì đó hổng làm luôn đi, tui buồn ngủ thấy bà. Hồi tối tui đâu có ngủ được. Con gì nó ăn móng như cơm sôi rồi muỗi nó cắn đau thấu trời ngủ hổng được.

Sáu Bảnh cười ha hả nói:

– Mầy mà hông ngủ được hả. Chèn ơi, thiếu điều muốn làm đám hát cũng được. Ngủ gì mà mới đó đã ngáy khò khò bây giờ nói là ngủ hổng được. Tao chịu thua mầy luôn.

Út giữa cuời theo:

– Anh nói sao chớ, phia tui thức dậy thấy anh khò thì có.

Sáu Bảnh không trả lời, anh đang ngó ra ngoài sông, rồi day phắt lại dòm vô trong đồng. Mút tầm mắt có chòm cây xanh mờ mờ. Sáu Bảnh quên mất việc nấu cháo:

– Ê! Út nè, hôm qua mình vô đầy trời tối nên hổng thấy. Tao chắc mẫm với mầy là trong doi đàng kia có đám trâm bầu. Mà có đám trâm bầu thì bên kia là làng xóm.

Thằng Út lỏ mắt dòm có vẻ không tin. Sáu Bảnh dòm lại nó:

– Mầy hổng tin tao à? Lát nữa ăn cơm xong tao với mầy bơi vô trỏng coi. Tao nói cho mà biết để kinh nghiệm nghen. Hể có rừng rậm, có rừng có lùm có bụi là có rắn nghen mầy.

– Ưa, chuyện đó tui cũng biết.

Sáu Bảnh chưng hửng hứ nghe một cái cốc:

– Ưa, thì mầy biết nhưng có bao giờ thấy chưa? Thôi vô mà nấu cháo nấu cơm gì thì nấu đại đi, ăn ba hột rồi bơi vô trỏng coi.

Út giữa lăn qua lăn lại càu nhàu:

– Nói qua nói lại cũng tui không hà.

Sáu Bảnh nhăn hàm răng cười thấy thương:

– Thôi mà mầy. Thì bữa nay tao bơi xuồng cho mầy ngồi chơi. Tao đang nhắm hướng để mà mần cho sớm rồi còn về chớ.

Út không nói không rằng, tốc miếng nóp ngồi dậy bò ra sau lái. Sáu Bảnh nghe tiếng bật lửa rồi mùi gỗ cháy thơm lừng bay vô mui. Sáu Bảnh cẳng co cẳng duỗi tiếp tục hút thuốc. Độ chừng tàn nửa cây nhang, Sáu Bảnh nghe mùi khô nướng chun vô mũi, hít lấy hít để mấy hơi Sáu Bảnh bò ra sau lái:

– Mầy làm tao đói bụng rồi nghen mậy. Mấy con sặc rằn nầy mà ăn với cơm nguội mới hết xẩy đó mầy. Ê, mầy có bao giờ ăn được sặc rằn bự như vầy chưa Út? Sáu Bảnh vừa nói vừa xòe bàn tay làm dấu.

– Có chớ anh Sáu. Mùa tát đìa năm ngoái tui đi miệt U minh tát đìa…chèn ơi, nói hổng phải nói chớ…cơ man nào là cá anh. Tui ăn hổng hết tui mần khô đem về ăn mới hết hồi bữa trước đây chớ đâu. Ừ, mà ngộ ghê há anh. Cái giống sặc rằn nầy đó, lúc mới tát đìa lên đó anh, lựa con nào bự bự cỡ bàn tay xòe mà nướng…chà, chà….đúng là ăn hết xẩy đó anh ơi.

Sáu Bảnh nuốt nước miếng:

– Mầy đừng nói tao thèm. Tao còn nhớ ông già tía tao ổng kể cái hồi ổng còn thanh niên ổng nói sặc rằn tươi mà nướng lửa than đem ra chỉ xỉa hai đủa là hết một con. Mấy người dưới miệt dưới nói là ăn cá làm thuốc.

– Làm thuốc là làm sao anh Sáu?

Sáu Bảnh phát tay hỉnh mặt lên cái điệu song tàn:

– Chèn ơi, cái hồi đó thì muỗi nó hút máu người ta nó sống, rồi con cá ở dưới đìa, trong đồng nó ăn muỗi nó sống mà lớn cho nên người ta nói phải ăn cá cho nhiều vô để làm thuốc chống muỗi đó mầy. Hổng ăn nhiều vô thì lấy sức đâu mà mần ruộng, mần rẫy?

Út đưa vòng tay ra sau lưng đập cái chát dơ bàn tay lên dính đầy máu:

– Anh Sáu anh coi nè, muỗi gì mà muỗi tàn canh gió lạnh như vầy, thời nào lại hổng có muỗi anh?

Sáu Bảnh dơ tay lên vỗ má cái bốp:

– Đ.M con muỗi nầy tới số mà. Ừa, thời đó muỗi nhiều hơn bây giờ mầy ơi. Ngày đó là cái ngày ông nội ông cố tao mới vô vỡ đất làm nhà. Cái hồi đó thì ông mầy cũng mới vô …Mầy coi đó, cá nhóc đó mầy hông thấy sao, phải ăn cá mới có sức mầy ơi. Cá lóc đó mầy biết hông, lựa con nào cỡ bằng cái bắp tay thôi, rồi cũng nướng lên xỉa chừng vài đủa là bỏ xương. Ăn vậy mới là biết ăn cá nghen mầy.

Hai thằng ngồi giữa cánh đồng nước nổi linh láng, xa xa một vài chòm cây xanh mờ trên cánh đồng. màu xanh sậm, nói chuyện ăn cá ăn mắm nghe bắt thèm. Bây giờ nước trắng nổi bọt vàng từ sông cái tràn vô từng doi nhỏ. Mấy hàng dừa nước ven bờ giờ chỉ còn những tán lá phất phơ qua lại không còn thấy gốc.. Sáu Bảnh ném tàn điếu thuốc thứ ba trong buổi sáng, vói tay kéo rỗ đựng chén đủa lại gần:

– Ê ! Út nè, mầy đẩy cái cà ràng vô gần chỗ nầy chút xíu nè, lát nữa xông khói cho đở muỗi nha mầy. Nói tới cá tao đương không phát thèm à mầy ơi. Cái con cá lóc đó mầy biết sao không? Cá lóc nó không có bong bóng mầy à, khi nó chết nó đâu có thèm nổi lên như mấy con cá trắng có vảy. Nó cũng tỉ như anh hùng vậy mầy…anh hùng tử khí hùng bất tử à mầy. Nó vùi mình chôn chặt dưới sình hổng thèm trồi đầu lên mà thở nữa đó.

Út giữa ngạc nhiên trợn mắt:

– Anh nói cái gì mà nho chùm như vậy ai mà theo kịp chớ. Cái gì khí tử anh Sáu?

Sáu Bảnh vừa xới cơm ra chén vừa chan nước mắm, vừa nói:

– Cái đó kêu bằng anh hùng thà chết chớ hổng thèm đầu hàng. Cái chất anh hùng trong con người mình sẽ ở lại với thế gian…kêu bằng bất tử.

Út hỏi một câu trớt huớt:

– Bất tử là chết bất thình lình đó hả anh Sáu? Chết bất thình lình là chết bất tử đó mà.

Sáu Bảnh cười muốn phun cơm ra ngoài:

– Cái gì? Mầy nói cái gì bất thình lình.

Út gải đầu:

– Ừa, chớ sao tui nghe vậy mà?

– Ưøa thì có như vậy thiệt. Nhưng cái nầy tao nói là nói danh tiếng không chết kêu bằng bất tử. Nhớ nghen hông. Làm anh hùng rất khó à mầy. Anh hùng thì…a…ơ

Út giữa nhóng tai lên nghe. Đợi hoài không thấy, nó vọt miệng hỏi:

– Anh hùng thì sao anh Sáu … là hò là hát vọng cổ.

Sáu Bảnh mắc cười:

– Im mậy. Tao đang nhớ mà mầy hỏi đâm hơi hông à. Anh hùng là ngưòi giúp dân giúp nước, là cứu khổn phò nguy. Như trong tuồng cải lương có Quan Công là anh hùng. Mầy có thấy trong xóm có người thờ ông Quan Công hông? Ờ còn bên mình cũng có nhiều anh hùng …Tỉ như anh hùng Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực…anh hùng Nguyễn Duy Dương tức ông Thiên Hộ Dương ở đây nè. Tại đây nè. Vừa nói Sáu Bảnh vừa dang tay trở đầu đủa chỉ vô đám lát bàng ngút ngàn trong đồng đang lung lay trong nắng sớm.

Sáu Bảnh nói tiếp:

– Ông Thiên Hộ Dương là anh hùng của làng mình đó. Mấy ông kể lại rằng ổng sức mạnh hơn người, hai tay giở hai cục sắt, hai nách kẹp 2 cục và trên miệng ngậm một sợi dây treo một cục. Tổng cọng lại là ngàn cân đó, nên ổng có tên là Ngũ Linh. Cái hồi đó đất nầy không có làng xóm gì đâu mầy, từ bên Thủ Thừa chạy miết lên Hồng Ngự nhóc cỏ luôn. Thôi thì hết biết, ai mà dám vô đây. Rồi đầm, lung, đìa sình kể gì.

Thằng Út nhai cơm không để ý đến chuyện Sáu Bảnh kể nữa, mắt nó ngó mông ra ngoài giòng sông; gió thổi hây hây, nắng vàng hực hở. Nó mơ ước một ngày nó lớn lên nó có chiếc tam bản hai chèo, một vài mẫu ruộng, ít công vưòn cưới vợ mần ăn. Chuyện anh hùng với nó bây giờ như chuyện đời xưa. Cuộc đòi lam lũ thiếu trước hụt sau, tới mùa giáp hạt không còn lúa ăn thì chuyện gì cũng bỏ. Sáu Bảnh đang bảnh tỏn kể thao thao chuyện đời, ngó lại thấy mặt thằng Út ngẩn ngơ như mất hồn, không hăng hái nghe nó nói nữa. Sáu Bảnh cụt hứng ngồi im nhai cơm, tay đập muỗi.

– Anh Sáu nè.

Sáu Bảnh day lại:

– Gì mầy?

– Tỉ như tui vô đây phát vài công đất mần ruộng anh nhắm có được hông?

– Xì, tưởng chuyện gì khó. Mầy muốn hả? Cứ việc vát cái phảng vô đây che chòi rồi phát. Đất của chung mờ. Đất nầy vô chủ ai làm được nấy ăn chớ. Chim trời cá nước ai băùt được nấy ăn.

Út giữa nhìn trời:

– Tui nhắm cuộc đất nầy coi được à anh Sáu. Có rừng chặt được củi, có giồng cất nhà, có lá dừa lợp mái. Coi được quá anh Sáu ơi. Mà sao ngộ há, hổng ai vô đây mần gì hết trơn vậy anh Sáu há?

Sáu Bảnh không biết nghĩ sao trong đầu, anh làm thinh và lảng sang chuyện khác:

– Nè Út nè, tao nói cái nầy mầy nghe nghen. Chuyện chính bữa nay là vô đây bắt rắn, bắt sấu đem về chợ bán. Nhưng mà mình đi hổng coi ngày nên mắc phong long rồi. Coi như tao với mầy đi chơi cà nhỏng. Bây giờ đợi con nước xuôi tao với mầy đi ra. Bây giờ nước đang đứng, mầy coi có kiếm đuợc chút gì gở gạt thì làm, tao đi lần vô trong đám rừng kia coi có gì hông.

– Ừa anh sáu. Tui cũng muốn vô rừng coi cho biết.

Hai đứa lủi mũi xuồng vô rừng. Len lõi giữa rừng cây tràm, vẹt, đước; mặt trời có khi không lọt xuống khỏi những tàng cây đan kín trên đầu. Bỗng có tiếng đập cánh, một con chim lớn vỗ cánh bay vù lên, đậu trên chót vót trên ngọn cây. Sáu Bảnh ngước mắt dòm lên, nói:

– Í mẹ ơi. Coi cà Út giữa. Con chim lạ ghê. Bự tổ nái kìa. Chắc có ổ của nó đâu gần đây.

– Í, con đại bàng anh Sáu ơi.

Sáu Bảnh cười:

– Làm gì có chuyện đó mầy. Tao đồ là chim Sói còn sót lại hồi xưa. Miệt nầy cò, diệt thì nhiều chớ làm gì còn chim Sói.

Út giữa nhướng mắt ngạc nhiên:

– Chim Sói! Anh nói chim gì?

– Mầy hổng biết đó thôi. Trong những năm ông cố tao đến đây lập nghiệp, cánh đồng nầy hoang vu, là rừng trầm thủy mà mầy. Âm u không có ánh sáng mặt trời. Những năm đó ông Nội tao kể lại là.. Năm đó người ta hay hát như vầy: “U Minh Rạch Giá, thị quá sơn trường; dưới sông sấu lội trên rừng cọp um.” Không phải là cọp với sấu không đâu à. Nào là chim, cá và biết cơ man nào là kể mầy. Ngày Tây đô hộ thì rừng hoang còn nhiều hổng phải trống hoang trống hoát như bây giờ. Mười phần hổng còn được hai ba phần. Con chim tao nói là giống chim đặc biệt. Mầy có bao giờ nghe người lớn nói đến sân chim chưa?

Út giữa vừa cạy mũi xuồng tránh gốc cây vừa lắc đầu:

– Hổng biết anh Sáu.

– Ừa, để tao nói cho mà nghe. Hồi lập nghiệp, người mình vô đây lập sân chim.

– Sân chim là sân gì?

– Ừa, quên nói cho mầy rõ là sân chim là chỗ chim đậu, như sân nuôi gà nuôi vịt bây giờ đó. Mình bắt chim trời chớ hổng có nuôi. Nhưng hổng có dễ à, mần cái nghề sân chim hổng phải ai cũng mần được. Phải quen biết với ban hội tề làng xóm, đi lại với mấy ông Tham biện trên tỉnh. Chời ơi, tiền mà kể gì mầy. Nghề hổng vốn mà. Người ta dọn đất làm bẩy rập chim. Ở bên miệt U Minh Hạ, ở TrèmTrẹm, Chắc Băng có những nơi gò cao cây nhiều hàng năm chim về làm ổ nhóc ở đó.

Thằng Út vọt miệng:

– Rồi mình vô đó bắn, bẩy như bắt chàng nghịch, ốc cau, manh manh, dồng dộc, áo dà?

Sáu Bảnh xì một tiếng dài:

– Chuyện của mầy nói là chuyện con nít bắt chim. Chuyện đây là chuyện băùt chim nhổ lông để bán cho người buôn mà. Ưøa, bán cho mấy đầu nậu người Tàu đó. Cở dồng dộc, manh manh làm gì có đủ lông cho ông tây bà đầm may áo chớ. Chim là chim bự, bắt xuống vặt lông cánh bó cục đem bán cho người ta.

– Còn thịt con chim làm gì anh Sáu.

– Mầy hỏi ngu thấy mồ. Thịt đem nướng ăn chớ làm gì. À, mà làm gì ăn cho hết hàng ngàn hàng vạn con chim hà.

– Ăn hổng hết thì làm khô. Út vọt miệng nói.

– Ừa, tao đồ là vậy.

Hai đứa chống xuồng len lỏi qua rừng cây đi lần vô trong ngọn tìm đất giồng. Vùng đất thiệt hoang vu, không có vết chơn người thoang thoảng mùi thơm bông sen bông súng. Sáu Bảnh bỗng giựt mình nói nhỏ:

– Ê, tao nói cái nầy Út à.

Thằng Út ngưng dầm, vừa đưa tay đập muỗi vừa hỏi:

– Gì đó anh Sáu?

– Đ.M coi chừng gặp mấy ảnh thì thấy mẹ.

– Ảnh nào?

Sáu Bảnh ngó dáo dát, rồi ngập ngừng:

– Thôi, mầy đừng hỏi nữa. Tấp đại vô đâu đây đợi nước đi ra cho rồi. Có muốn mần ăn, mần ruộng mần rẩy chặt củi đốt than gì thì sau nầy mới tính. Bầy giờ tấp xuồng vô đi mậy. Vô sâu trong rừng tràm ong đánh cho bỏ mạng bây giờ.

Thằng Út cạy dầm tấp đại vô bờ dưới bóng một cây tràm. Nó hỏi:

– Anh muốn leo lên hay ngồi đây đợi?

– Đ.M muỗi quá trời là muỗi. Mầy đốt cái cà ràng un chút khói đi. Chừng lát nữa thì mình ra được rồi. Mầy ngồi canh xuồng tao lên coi thử nghen. Nhớ có gì hú cho tao biết.

Sáu Bảnh nhảy lên bờ, vạch bàng vẹt lát bước sấn tới. Út ngồi trên xuồng ngó mông ra cánh rừng ngập nước vàng hườm. Út ngồi bó gối buồn miệng ngáp dài hoài. Có tiếng động trong đám bàng trước mũi xuồng. Thằng Út ngó chăm chăm, đám bàng lay động rung rinh như có con gì đang vạch gốc đi qua.

“Con rắn” Út suýt nữa la lớn. Một con rắn dài như cái gậy tầm vông vun vút lướt qua đám sậy phóng mình qua bên kia bờ rạch. Thằng Út chưa chuẩn bị kịp cầm mái dầm thì nó đã mất biến trong đám cỏ bên kia chiếc xuồng. Nghe có tiếng đập cánh trên đầu, Út ngước lên, một con chim lông xám đang bay sà xuống đuổi theo hướng con rắn:

– Í, con bìm bịp.

Bỗng nghe tiếng chưn chạy trên đất sình bì bỏm từ đàng xa khuất sau rừng tràm. Sáu Bảnh ló mặt ra, hai tay chận trên ngực, thở dốc:

– Đ.M ong nó đánh tao. Nếu tao không lẹ mắt nhào xuống mương thì giác nầy mầy thấy tao phù mỏ rồi.

Út cười khằng khặc:

– Anh mới dặn tui coi chừng ong đánh, sao anh bị rồi. Lỡ rồi sao hổng cho nó tới luôn, gồng mình đem nó ra đây mình ăn?

– Ăn là mầy ăn đó. Tao muốn nẩu mình, rêm như bị đánh mầy đòi ăn ong. Mầy có giỏi thì vô trỏng. Tụi nó còn đang ở trỏng đó.

Sáu Bảnh trườn mình lên xuồng, vuốt mặt:

– Cũng còn may chán mầy ơi. Tao tìm ra chỗ sau nầy vô mần ăn được mầy à. Mầy biết chỗ nầy kêu bằng gì hông?

– Thì Đồng Tháp Mười chớ gì?

– Ưøa thì đúng rồi. Ít ra mầy cũng còn nhớ bài hà. Ủa, mà mầy còn đi học hông Út?

Út thở nghe cái phì như con rán hổ:

– Học cái bà nội tui á.

– Ủa, má mầy …

– Anh nghĩ coi nhà tui bao nhiêu miệng ăn, tui đi học rồi ai vô đây kiếm gạo?

Sáu Bảnh cười xòa:

– Thôi, cũng hổng mất đi đâu mà sợ. Hổng học trường học thì học trường đời. Mà trường này mau biết à mầy. Học trong trường học chỉ được cái biết làm toán, mua bán lúa không bị mất thôi chớ được cái mẹ gì đâu?

– Ừa, rồi sao? Anh nói cái gì Đồng Tháp Mười?

Sáu Bảnh vấn điếu thuốc, le lưỡi liếm rồi phun nước miếng phèo phèo:

– Đ.M thuốc sao đăùng quá mạng. Có nước rồi đó mầy, mầy bơi ngang con rạch nầy ra được rồi. Chừng một lát nữa mầy sẽ thuận con nước. Vừa đi tao vừa kể cho mầy nghe. Đây là Gò Tháp tức là Đồng Tháp Mười đó mầy. Chỗ nầy là căn cứ của ông Ngũ Linh Thiên Hộ Dương, tính từ lộ Mỹ Hòa đi vô thì có Tháp Mười, tháp Cổ Tự, đền thờ Đốc Bình Kiều, gò Minh Sư, miếu Bà Chúa Xứ. Tương truyền có từ thời Thiệu Trị (1841 – 1847) trước đó là ngôi tháp thờ của người Thổ. Qua khỏi chùa là đến khu căn cứ Đồng Tháp Mười của Thiên Hô Dương và Đốc Binh Kiều trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Phần mộ của Đốc Binh Kiều còn ở đây. Đi tiếp là đến miếu Bà Chúa Xứ, là gò Minh Sư, hàng năm, khách thập phương kéo về dự lễ vía Bà rất đông. Gò Tháp Mười cách đây khoảng 2000 năm là nơi sinh sống của các sắùc dân kêu bằng…kều bằng người thượng cổ. Ngoài ra còn có điền thờ ông Đốc Binh Vàng, ổng giữ chức tổng binh kiêm chức quân lương dưới triều Minh Mạng. Năm 1837, trên đường giải lương thực đến biên thùy Hà Tiên, được tin báo thành Kiên Giang thất thủ, ông đã ra lệnh tiêu hủy chiến thuyền, giải giáp binh sĩ và sau đó rút gươm tự vẫn. Sau khi chết, triều đình ban tặng ông chức thượng tướng quận công. Dân chúng nhớ ơn và thương tiếc ông, đã đặt tên con rạch ông chở lương thảo đi qua là rạch Đốc Vàng và lập đền thờ ông. (Chú thích thêm: Năm 1965, đền thờ được xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố đẹp và hài hòa với khung cảnh thiên nhiên. Hàng năm, vào các ngày 15, 16 tháng 2 âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức lễ kỷ niệm và cúng tế ông rất long trọng với hàng chục ngàn người đến lễ bái)

Út vừa bơi xuồng vừa nghe câu được câu mất nó không để

ý đến chuyện lịch sử Sáu Bảnh đang kể, đầu óc nó

còn đang nghĩ đến những ngày không có chuyện gì làm

và tía má nó đang chạy gạo từng bữa. Nó bỗng tắt ngang:

– Anh Sáu ơi, đất mình còn rộng quá hén. Sao tui hổng thấy ai vô đây mần ăn gì hết ráo vậy anh sáu.

– Ừa, cũng khó nói lắm mầy. Người ta nói đi buôn có bạn đi bán có phường. Muốn vô đây mần ruộng cũng phải có bạn cày bạn cấy, phải có lúa giống mới mần ăn được chớ mậy. Người ta có vô đây ăn ong hay đánh chim bắt rùa bắt rắn.

Thằng Út không hỏi nữa, nó im lặng nhìn quanh, ngước lên dòm đọt cây có những giọt nắng xuyên qua rừng tràm phủ xuống mặt nó. Đưa tay che nắng, Út giữa nói trống không:

– Tràm nhiều ghê anh Sáu hén. Chá! Chà! tui nhắm rồi đó anh Sáu, hổng vô đây mần ăn thì tui cũng phải trở lại đây một bận nữa mới được. Ở đây tràm thẳng ghê chớ hổng còng queo như mé ngoài. Anh nghĩ mình vô đây chặt đước về mần than mần cột nhà được hông anh Sáu.

Sáu Bảnh đang đập muỗi:

– Muỗi gì mà muỗi tản thần. Muỗi to còn hơn con trâu…Mầy nói cái gì Út a?

Út lơi tay dầm, vừa đầy xuồng luồn lách qua mấy gốc tràm nó vừa xuýt xoa:

– Tui nói là mình vô đây đốn củi, chặt cột nhà có lý hơn là đi bắt rùa bắt rắn như anh nói. Chuyến này tui mà rủ thêm mấy đứa nữa thì ăn chắc.

– Ờ, chuyện này tao có nghĩ tới…nhưng mà mầy biết sao hông. Cái nghề nầy có ăn thiệt…nhưng mà sao tao sợ sợ.

Thằng Út trợn mắt ngạc nhiên:

– Ủa! Chớ anh sợ cái gì anh Sáu?

Sáu Bảnh gải đầu:

– Ơ…nói ra thì cũng khó nói lắm mầy ơi. Chuyện nầy cũng do mấy người lớn nói đó mà…chớ tao có bao giờ đi mần đâu mà tao …ơ…biết đâu mậy.

Út giữa ngẩn ngơ như lạc trong ruộng mía không biết hướng nào ra:

– Ngộ thiệt. Anh nói anh sợ…mà anh hổng biết anh sợ cái gì. Anh cứ lấp ba lấp bấp thì tui cũng bù.

U`t giữa im lặng một lát, bỗng nó hỏi:

– Bộ trong nầy có ma sao anh Sáu?

Sáu Bảnh cười to:

– Mầy nói làm như tao còn con nít lắm vậy. Ma đâu mà ma; nhưng, còn ghê hơn ma nữa a mầy.

Út lắc đầu:

– Thôi, tui chịu thua.

Sáu Bảnh làm thinh, chỉ còn tiếng nước bì bỏm tiếng mái dầm khua. Lát sau, có lẽ anh ta ấm ức trong bụng không chịu được nên cất tiếng kêu Út:

– Út!

Út giữa day lại:

– Anh kêu tui?

– Ừa mầy. Nè, tao nói cho nghe nghen.

Sáu Bảnh vụt ngưng ngang. Út nhóng tai lên nghe thấy Sáu Bảnh nín thinh, nó day đầu ngó lại:

– Ủa, sao anh im re vậy anh Sáu.

– Tao thiệt tình là hổng biết nói sao cho mầy hiểu.

Út mắc cười, nó phan ngang bửa củi:

– Nói mẹ nó ra chớ hổng nói mà bắt người ta hiểu là hiểu cái cóc khô họ.

Saú Bảnh cũng mắc cười theo:

– Mầy biết sao hông? Thiệt ra thì tao chưa từng làm nghề ăn ong hoặc giả làm nghề đốt than. Tao nghe mấy ông già biểu là có 2 nghề mần ăn tổn thọ. Để thủng thỉng từ từ tao kể cho nghe. Mấy ổng nó “Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” là 2 nghề tổn hao âm đức lắm.

Út chận ngang:

– Anh nói như vậy làm sao tui biết. Anh nói thẳng thét ra 2 cái nghề đó là nghề gì?

– Ừa, thì mầy để từ từ. Phá sơn lâm là nghề chặt cây đốn củi mần than, còn đâm hà bá là mần nghề biển.

Thằng Út la lớn:

– Í mẹ ơi. Tui cũng có nghe. Nhưng mà…tại sao kỳ cục vậy há anh Sáu?

– Mầy hỏi mới là tức đó. Mèn ơi, thì ông bà nói như vậy mà. Tao đồ rằng trong rừng sâu núi thẳm âm u nơi chỗ của thần linh ở mà mình vô mần ăn rần rần nên động chớ sao. Còn biển thì…tao chịu thua.

– Hồi nãy nghe anh ú ớ nói lòng vòng tui lại nghĩ khác.

Sáu Bảnh đốt tiếp một điếu thuốc:

– Ủa, chớ mầy nghĩ làm sao nói tao nghe coi.

– Tui thì nghĩ là anh sợ ma; với lại hồi hôm qua anh nói cái gì mà gặp mấy ảnh có vẽ bí mật quá nên tui nghi là trong này có ma, có mấy “ổng.”

Sáu Bảnh xì một tiếng lớn:

– Nữa. Tới phiên mầy rồi đó hén. Cái gì mà mấy “ổng” mà “ổng” nào?

– Tui hả? Tui mà có gì đâu. Chờ bộ anh hổng nghe mấy “ông ba mươi” sao?

“Kiên Giang-Rạch Giá thị qua sơn trường

Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um.” Thì “Ổng” là ông Cọp đó.

Hai đứa không hẹn mà cùng một lúc cười lên ha hả. Tiếng cười của hai người vang lên giữa rừng tràm kéo dài theo tiếng u u rờn rợn:

– Thôi bơi mau mau một chút để còn kịp ra sông cái. Bữa nay phảøi về còn chuyện gì tính sau. Mình mà đi lâu như vầy dám ở nhà tưởng đâu “Ổng” cõng.

Im lặng trở lại khu rừng tràm ngập nước, bông tràm nở rộ mùi thơm nồng. Ngó mông hồi lâu buồn ngủ, Út ngáp dài:

– Anh Sáu ơi, tui buồn ngủ qua trời quá đất rồi nè. Ngồi hoài bơi miết trong cái rừng này biết bao giờ mới ra được sông cái hả anh Sáu.

– Mầy sao nóng nảy qua hà. Thì bơi hồi rồi ra chớ có gì đâu.

Út đề nghị:

– Anh ca cho tui nghe mấy câu vọng cổ cho đỡ buồn ngủ đi anh Sáu?

Sáu Bảnh cười:

– Mầy nói mới ngộ thiệt đó. Mầy đang buồn ngủ, tao mà ca lên thì mầy ngủ sớm. Thôi thì tao nói như vầy. Hồi mầy đi học đó, mấy có học được chuyện gì hay mầy nói lại tao nghe. Mầy nói thì mầy hết buồn ngủ liền hà. Cứ ngồi đó mà bơi hoài nó buồn lắm.

Có tiếng động cây, hai người ngước mắt nhìn lên, một con trăng gió đang phóng vun vút trên ngọn tràm như chim bay, vãy sáng ngời ngời dưới nắng.

Út la lớn:

– Í mẹ ơi. Anh ngó lên mà coi anh Sáu, chèn ơi nó bay như là chim anh Sáu à.

Sáu Bảnh ra dấu im, anh nói thì thào qua hơi gió:

– Tao thấy rồi. Đ.M bắt được con nầy thì hết ý nghen mầy. Ừa, ngó thấy nó tao bỗng nhớ lại hồi xưa.

– Hồi xưa là hồi nào?

Sáu Bảnh cự nự:

– Mầy sao hay hỏi vặn. Thì xưa là hồi đời tía tao, ông nội tao đó.

– Hồi đó làm sao?

Sáu Bảnh chắc lưỡi:

– Mầy biết con rắn Ri-Cá hông?

– Biết mà chi vậy, nó có ăn nhậu gì đến con trăng gió nầy hông?

– Ừa thì có. Tao nói con trăn lấy thịt mần món nhậu còn bộ da đem bán cho các chú Ba có chút tiền mua rượu.

Út cười:

– Ngon vậy sao?

Sáu Bảnh gật đầu:

– Ừa, nhưng đó là chuyện đời xưa mà. Chớ còn bây giờ hả; tao hổng biết có ai mua hông. Nghe đâu bên Sài gòn có chỗ mua để làm bóp đầm dây nịt thắt lưng.

– Anh nói bù trất. Còn chuyện con rắn Ri-cá.

Sáu Bảnh bẻ mình, tằng hắng:

– Tao nói mầy nghe chuyện nầy trước…mầy đem hai mái dầm ra đây, mầy chèo tao nghỉ tao kể chuyện đời mầy nghe. Lát nữa tao thay.

Út giữa cười ha hả làm như gặp chuyện vui:

– Nói lòng vòng một chút là anh lòi cái mặt gian ác của anh ra liền. Muốn ngồi chơi thì tui chèo cho chớ có gì đâu mà gài độ thằng em như vậy anh Sáu.

Sáu Bảnh cười theo:

– Nói bậy hông hà. Mầy đang buồn ngủ mầy ra đứng sau lái đây cho nó tỉnh ngủ. Lát nữa tao chèo mầy hò hát cho tao nghe. Như vậy là công bình chớ có ai ăn gian gì đâu.

Nói năng bậm trợn nhưng Út cũng bò ra sau lái thay cho Sáu Bảnh ngồi dựa mui xuồng:

– Bây giờ tao kể nghen. Cái con rắn Ri-cá mầy biết rồi, chèn ơi nó nhảy cao thì kể gì. Có một lần tao nghe nói là hổng ai nhảy qua được đầu nó. Có ông điền chủ nọ bắt được con rắn Ricá ổng thách ai mà nhảy qua nó mà hổng nó táp đáy quần thì ổng cho một giạ lúa. Mấy người tá điền nhận lời thách…Rồi mầy biết sao hông. Đâu có ai nhảy qua được…nó táp trúng hết.

Út giữa cười:

– Thiệt tình là mấy người lớn chơi dại.

– Sao mầy nói vậy?

Thằng Út cười to hơn:

– Nói ra sợ bị chửi chớ lỡ mà nó táp ngay bộ hạ thì có nước héo đời chớ sao.

Sáu Bảnh cũng cười:

– Mầy nói chuyện nghe mắc cười quá hà.

Nắng đã lên cao, bóng cây thu lại gần quanh gốc, cái nóng hực hở làm rịn mồi hồ chưn tóc nhưng không làm cho đám muỗi đói ngừng vo ve bu lại hút máu người. Út vừa bơi xuồng vừa đập muỗi:

– Hồi nãy anh nói rắn ri cá lột da bán có tiền mà?

– Chuyện đó là chuyện tưởng tượng thôi. Bây giờ mầy nghỉ đi, tao chèo cho. Tao vừa chèo vừa hò cho mầy nghe. Sướng quá mạng rồi còn gì nữa phải hông? Đợi tao kiếm cái bịch giấy làm điếu thuốc cái đã.

Út giữa vừa đẩy 2 mái dầm vừa nhìn trời mây lảng đảng trôi qua trên đọt cây tràm. Xa xa nó đã thấy màu xanh của chân trời ẩn hiện ngoài vàm sông cái. Có mấy giồng cao cây cỏ tràn lan, lát bàng ngập mé nước, con rạch nhỏ nước đỏ chạch nổi in màng màng như nước rĩ sét. Gió hiu hiu lòn qua rừng cây.

– Ê mầy, nếu lần sau mầy có vô đây mầy nhớ cái gò đó nghen. Có đám trâm bầu trên đó dễ nhớ lắm. Chỗ đó cất chòi được đa mầy.

Út nhấp nháy con mắt:

– Ừa, tui cũng nhắm chỗ đó đó. Anh hay thiệt hén, chun trong mui mà con mắt còn láo liên.

Sáu Bảnh đứng lên, chùi tay vô vạt áo:

– Thôi được rồi. Bầy giờ mầy có quyền làm thiu thiu một giấc đi nha. Tao hò cho mầy nghe chuyện Lục VânTiên.

Thằng Út nằm dựa be xuồng:

– Thôi đi cha nội, tui biết tỏng rồi…Vân Tiên cõng mẹ đi ra , đụng phải cột nhà cõng mẹ đi vô. Vân Tiên cõng mẹ đi vô, đụng phải cái chày vồ cõng mẹ đi ra….phải hông?

Sáu Bảnh bật cười ha hả sảng khoái:

– Mầy nói nghe như thiệt. Chớ mầy có biết câu hát…Vân Tiên ngồi núp bụi khoai môn, chờ cho trăng lặn….uhhh…

Út giữa ré lên:

– Tui biết rồi anh à. Anh tưởng tui chưa nghe hả. Thôi đi, dẹp bà nó cái chuyện lu bu đó đi.

Sáu Bảnh không nín cười được:

– Tao nhát ma mầy chơi một chút thôi. Đây nè, tao hò cho nghe nè. Thiệt đó, hổng có tầm ruồng bậy bạ đâu à.

Sáu Bảnh hắng giọng mấy lượt, cất cao giọng hò:

Trước …(ơ)…đèn xem truyện Tây Minh,

Gẫm cười hai chữ…(ơ)…nhân tình éo le.

Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,

Dữ răn việc trước…(chớ…ơ)… lành dè thân sau.

Trai …(ơ)…thời trung hiếu làm đầu,

Gái thời tiết hạnh là câu trao mình.

Có người ở quận Đông Thành,

Tu nhân tích đức, sớm sinh con hiền.

Đặt tên là Lục Vân Tiên,

Tuổi vừa hai tám, nghề chuyên học hành.

Theo thầy nấu sử xôi kinh,

Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao.

Văn đà khởi phụng đằng giao,

Võ thêm ba lược, sáu thao ai bì

Gió thổi nhè nhẹ loáng trên mặt sông, giọng hò của Sáu Bảnh theo gió ngân nga trong sương sớm, mặt trời đã vượt lên hơn ngọn cây, ánh nắng chan hòa khắp cánh đồng, thằng Úùt đang nằøm ngó trời ngó nước bỗng nó choàng dậy hét tướng lên:

– Anh Sáu coi cà-Tay thằng Út chỉ ra sông-In tuồng như có bè tống quái kia kìa anh Sáu.

Sáu Bảnh nhìn theo tay thằng Út, trên mặt sóng, trôi lẫn lộn giữa những giề lục bình, cây khô củi mục là một chiếc bè chuối có cắm cờ xanh đỏ. Sáu Bảnh ngừng tay chèo, anh ngó chăm chăm rồi nói:

– Ừa, bè tống quái của thầy pháp thả trôi.

Út ngồi thẳng người lên, giọng vui mừng:

– Anh Sáu, tấp vô mình vớt lên đem về ăn anh Sáu.

Sáu Bảnh ngập ngừng:

– Ê, hổng được đâu mầy. Bà vật chết tươi cho bây giờ.

Út phản đối:

– Người ta cúng rồi thì mình hưởng chớ.

– Mầy nói vậy đâu có được. Chắc nhà nào đó cúng tạ ơn bà Chúa Xứ, mình hổng nên ăn. Tao nghe nói là bà quở cho hộc máu.

Út khăng khăng:

– Anh nói sao chớ. Bà nào mà quở. Mình nghèo mà anh Sáu…hổng lẽ mình bỏ uổng.

Thôn xóm miền Nam có tục lệ cúng tạ, cúng tống quái…v.v. Mỗi khi xin ơn trên thần linh được độ, hoặc chấp lời khấn xin. Nhà nào làm ăn thất bại, gặp chuyện xui xẻo, đau yếu tật bịnh, muốn tiêu trừ giải hạn thường lên miếu Thành Hoàng, Thổ địa cúng, hoặc lên miếu lên đền trên nuí cầu xin ơn gia hộ của Thần linh, hoặc Bà Chúa Xứ Thượng Ngàn. Mỗi dịp cúng tạï như vậy thường là khấn nguyện cúng heo, gà, xôi chè, bánh trái tuỳ theo việc khấn xin của gia chủ. Sau khi mời thầy về chạy đàn cúng tạ xong, có khi phải thả ra sông nào là heo quay, gà vịt, hoặc phóng sinh chim cá. Trong những lễ tạ hoặc xả xui thường là cúng heo quay, và con heo đó phải cho lên bè chuối “tống quái.” Có người tin rằng vớt của cúng ăn vô sẽ bị bà quở, bà vật hộc máu chết tươi, nhưng cũng có người không tin. Gặp những ông thầy pháp bất nhơn thì kêu gia chủ cúng tạ nhiều phẩm vật, trong đó phải có con heo quay. Xong buổi cúng chạy đàn, thầy cắt thủ vĩ bỏ lên bè chuối “tống quái” còn phần thịt thầy chia cho đám đệ tử, hoặc mình thầy đem về ăn. Theo mấy người lớn tuổi kể lại thì đến nay tục lệ đó vẫn còn lưu truyền trong dân chúng ở các xóm làng miền Nam. Và mỗi địa phương mỗi khác. Đất miền Nam là đất mới, ngày đầu tiên đến đây xây dựng thường là các thành phần dân nghèo đàng ngoài, hoặc binh lính theo chúa Nguyễn vào Nam, hoặc những người bị đi đày. Đất miền Nam là đất nổi, đất lầy. Ngày mới vào Nam (Cách nay ba thế kỷ) chỉ có những giồng cao dọc mé sông, hoặc những vùng đất gần đường lộ mới có nhà cửa xóm làng. Lần hồi, dân tứ xứ kéo về, đất càng ngày càng thuộc, đời sống càng sung túc. Vốn là dân đen vì sinh kế tha phương lập nghiệp, ít chữ nghĩa và luôn luôn đối phó với thiên nhiên khắt nghiệt, người dân vùng đất mới thường phải tự giúp nhau để sống cho nên họ trọng nghĩa khinh tài, quý trọng tình nghĩa anh em, quan niệm cuộc đời nầy là do nghiệp, có số mạng từ tiền kiếp cho nên tin tưởng thần linh Trời Phật là chuyện nẩy sinh tự nhiên.

Chiếc bè chuối càng lúc càng gần, Út ngó lom lom rồi phát la lớn:

– Một con heo quay vàng hườm kìa anh Sáu. Coi bộ bự dữ thần à nghen.

Sáu Bảnh quay đi ngó lơ chỗ khác:

– Tao hổng dám đâu.

Út năn nỉ:

– Anh nói như vậy hổng lẽ bỏ trôi luôn? Rồi hổng ai được ăn? Tội chết. Tấp vô đi.

Sáu Bảnh tằng hắng:

– Có chớ. Tao nghe nói đứa nào chăn trâu ba đời thì vớt lên ăn hổng bị bà quở.

Út giữa hỏi tới:

– Chăn trâu ba đời là sao?

– A…thì nhà nào chăn trâu từ đời ông nội, ông cố đến đời con con đời cháu là ba đời chớ sao.

Út giữa reo lên:

– Được rồi, được rồi. Nhà tui chăn trâu ba đời nè. Anh tấp xuồng vô tui vớt về ăn.

Sáu Bảnh nhìn con heo quay nằm chần vần giữa bè, có nãi chuối kèm theo thèm thuồng nhưng ngần ngại:

– Mầy…xạo không à. Nhà mầy chăn trâu ba đời hồi nào? Trâu đâu mà trâu.

Giọng Út châm bẩm chắc nịch:

– Ừa, tui chăn trâu mướn của ông Bá bộ hổng được sao.

Sáu Bảnh bán tín bán nghi, nhưng tay bẻ mái dầm, miệng hỏi:

– Mầy chắc hông đó.

Út cười ranh mãnh:

– Chắc mà.

Sáu Bảnh không hỏi thêm lời nào nữa. Anh múc mạnh hai mái chèo, chiếc xuồng bẻ ngang lướt tới phăng phăng. Thằng Úùt ngồi trước mũi lấy tay vẹt rác, lục bình cho chiếc xuồng dễ dàng cắt nước băng ngang sông. Khi chiếc xuồng cập sát , Út cúi người chồm xuống kéo bè chuối cập be xuồng và nó bặm môi lấy sức kéo bè lên xuồng. Chiếc bè chuối trượt ngang nải chuối sứ chín vàng ửng lọt tuột xuống sông, thằng Út hít hà tiếc rẻ, nó ráng kéo mạnh chiếc bè chuối cho nằm gọn trên mũi xuống. Sáu Bảnh kêu lớn:

– Được hông đó mầy. Mầy làm gì mà ạch đụi quá sá vậy.

Út mất trớn té bật ngữa ra đàng sau, thở dốc:

– Anh nói tài thử lên đây mà coi nè. Nặng thấy bà. Con heo bự dữ à anh.

– Còn ngon lành gì hông?

Út nuốt nước miếng nghe cái ực. Nó liếm mép:

– Nguội ngắt rồi, nhưng còn ngon lành. Chặt ra mà kho thì hết xảy.

Sáu Bảnh vẫn còn áy náy:

– Mà nè. Mầy có chắc ăn hông đó. Bà mà vật thì mầy biết tay tao.

Út cười làm như trong lòng rất vui sướng. Nó nói:

– Ừa, tui chịu cho. Bà Chúa Xứ thương người nghèo lắm đâu có nỡ lòng nào bắt tội thằng nghèo chớ. Yên chí đi.

Sáu Bảnh im lặng thả xuồng treo theo con nước. Thằng Út loay hoay tìm đồ đậy con heo quay lại. Chiếc xuồng đã về đến gần những xóm nhà, đi len lỏi vô những con lạch nhỏ; những con lạch chằng chịt nếu không quen chẳng có thể nào tìm được lối ra. Dừa nước mọc um tùm thành rừng. Những cây dừa nước lá đâm tua tủa rậm rịt, cũng trên giòng sông nầy có một chỗ ở Gò Công dừa nước mọc um tùm thành rừng “đám lá tối trời,” nơi đó ngày xưa kia đã là căn cứ của các nghĩa quân kháng chiến chống Pháp ẩn núp phục kích đánh Tây.

Chiếc xuồng câu của Sáu Bảnh tiếp tục trôi xuôi theo con nước vô xóm, thằng Út đang ngồi đập tay xuống ván sạp kêu lớn:

– Vậy mà từ nãy giờ tui nghĩ hoài hổng ra. Ngu thiệt đó chớ. Anh tấp vô cho tui chặt tàu lá đậy con heo lại, hông thôi về tới nhà nắng nó thiêu.

– Ủa, vậy ra nãy giờ mày loay xoay trong đó tao tưởng mầy…Ưøa, thôi ra đây nhảy lên làm lẹ lẹ để còn về.

Thằng Út cầm cây mác nhảy phóc lên bờ kéo đại một tàu lá gần nhứt phơ ngang một mác chặt nửa tàu lá dừa nước quay lưng toan nhảy về xuồng, bỗng nó sáng mắt lội xuống nước:

Sáu Bảnh kêu:

– Ủa mầy còn tính lội đi đâu đó?

– Anh nầy sao lạ ghê ta ơi. Vô rừng dừa nước hổng bẻ dừa nước thì đi đâu. Hỏi lạ.

Út chặt một chùm trái dừa nước bự một ôm. Những trái dừa không có nước. Có lần thằng Út bí khi có người bà con của nó từ Sài Gòn về quê nghĩ hè vô tình hỏi nó “Anh Út, tai sao kêu bằng dừa nước mà trái dừa hổng có nước?” Mèn ơi thằng Út giựt mình cái bộp suýt chút nữa lọt tuốt xuống sông. Nó ngẫm nghĩ “Ưøa hén! Tại sao ông bà mình kêu bằng dừa nước mà trái dừa không có nước.” Những trái dừa mọc từng chùm to, bẻ ra từ trái nhỏ đập bể cạy cơm dừa trắng phau đám con nít ăn tươi nuốt trộng sau khi tắm sông. Thằng Út cứ suy nghĩ hoài tại sao không một ai tha thiết với những trái dừa hoang vô chủ này. Nghe nói cơm dừa nấu chè rưới thêm nước cốt dừa ăn vừa mát vừa bổ. Dọc theo những con lạch thiên nhiên nầy còn có những đám rừng bần lá xanh mơn mởn lòa xòa xuống tới mặt nước; thằng Út và đám bạn nhỏ của nó nô đùa trong những buổi trưa hè đi chăn trâu trên cánh đồng sau mùa gặt.

Út bẻ một trái dừa bự nhứt, ôm nhảy phóc lên xuồng kéo theo tấm lá dừa còn nhỏ nước tong tỏng xuống mặt ván.

– Anh Sáu nè, chiều nay về tui với anh chia hai con heo đem về kho thì hết xẩy hén anh Sáu.

Sáu Bảnh mần thinh sịt mũi, Út không nói gì nữa, nó săm soi con heo nằm chần vần giữa xuồng. Ngẩm nghĩ một lúc nó thò tay bẻ một miếng da heo bỏ vô miệng nhai rau ráu rồi lầm bầm “Mềm èo hà.” Ló đầu ra khỏi mui Út kêu Sáu Bảnh:

– Hết giòn rồi anh Sáu ơi.

Sáu Bảnh trợn mắt dòm rồi la:

– Í mèn ơi. Mầy ăn liền tại chỗ hả mầy? Chèn ơi, tao vẫn còn lo ngay ngáy đây nè.

– Anh sao mà nhát hít à. Của bà cho mà sao hổng ăn chớ.

Sáu Bảnh vẫn còn bị ám ảnh những lời đồn đải mà anh nghe hồi còn nhỏ, ông già bà cả nói heo cúng tạ ơn bà Chúa Xứ ai ăn sẽ bị hộc móc chết tươi anh đâm ra ngan ngán. Thằng Út còn nhỏ, rắn mắt đã quen, đã tùng tam tụ ngũ với đám bạn nghèo đi giựt giàn đám cúng cô hồn thì nó đâu có sợ. Anh nghĩ thằng nầy “điếc không sợ súng.” Anh không biết tại sao hồi còn nhỏ anh cũng rắn mắt đâu có thua đám nhóc bây giờ, nhưng càng lớn anh càng tin tưởng và lo sợ những chuyện người xưa kể lại trong các dịp hội hè đình đám cúng giỗ trong làng. Anh thở dài:

– Út à, mầy còn nhỏ nên mầy rắn mắt không sợ quỷ thần, còn tao …

Út làm thêm một miếng thịt nữa mới trả lời anh Sáu:

– Anh sao hay lo. Nghèo hổng có miếng đất cho chó ỉa thì còn sợ cái gì nữa chớ. Thằng bạn tui nó nói ở nhà nó hay cúng giỗ, nó ăn vụng hà rầm mà đâu có sao đâu à.

– Tao hết biết tụi bay. Có phải mầy nhắc đến thằng Tư “gàcồ” bạn của mầy?

Miệng Úùt lúng búng đầy thịt:

– Ừa nó đó. Mèn ơi, nhà nó giàu mà nó còn thèm huống gì tụi mình anh Sáu. Anh biết sao hông. Nó kể là mỗi khi có đám cúng trong nhà nó là nó được ba nó cho nó bưng đồ ăn dọn lên bàn thờ. Anh biết hén, nó bưng từ nhà bếp lên nhà trên là bay biến vài ba miếng thịt quay, miếng chả lụa liền cấp kỳ.

Sáu Bảnh mắc cười:

– Tụi bay là con nít ranh mà. Hổng biết sợ thánh thần trời phật. Có ngày bà vật cho mà ói máu mới biết sợ.

– Anh nói gì mà ghê quá trời. Thằng Tư gà cồ nó nói chú nó kể ngày chú nó ở Saì Gòn, con nít Sài Gòn còn “ba chê” hơn mà đâu có sao. Anh thấy hông, năm ngoái thằng em bà con với tui nó về nghĩ hè nó còn bày nhiều trò ghê hơn cà. Nó biểu là vui hơn ở trển.

Sáu Bảnh lắc đầu:

– Tao ngó bôï vó của mầy thì hiền khô hà, mà sao “ba trợn” quá sá quà sa vậy hổng biết.

Út giữa cười theo, miệng vẫn nhai rau ráu:

– Anh nói kỳ thấy bà. Tui cái gì mà “ba trợn,” mới hứng có con heo quay của người ta bỏ mà anh rủa xả tui quá mạng.

Sáu Bảnh ngừng tay chèo lau mồ hôi trên trán. Cái nắng gay gắt phản chiếu từ mặt sông làm anh thấm mệt. Anh kêu:

– Thôi đi mầy. Mầy bưng ra đây cho tao miếng nước coi. Rồi ra mà chèo nè, tao mệt ứ ừ rồi.

Út ậm ừ rồi bò ra khỏi mui ghe.

– Anh vô trỏng làm bậy một miếng đi. Nước ở trỏng luôn, để tui thay phiên anh cho. Nhưng mà nè, về nhà anh đừng nói với ông già tía tui nghen.

Sáu Bảnh bước vô trong khoang hỏi ra:

– Nói cái gì với ba mầy?

Út giữa ngập ngừng:

– Ơ…ơ…thì anh đừng nói tui ăn cắp con heo của bà Chúa Xứ.

Sáu Bảnh cười hô hố:

– Ủa thì ra mầy cũng biết sợ. Lòi đuôi chuột ra rồi. Tao tưởng đâu mầy hổng biết sợ ai chớ.

Út khai thiệt:

– Tía tui mà ổng biết thì tui có nước kiếm mo cau hổng kịp.

Sáu Bảnh bưng bình mũ (nhựa) rót nước ra chén:

– Ừa, tao hổng nói đâu. Rồi con heo thì làm sao đây?

Út nói nước đôi:

– Tui cũng hổng biết làm sao…anh là người lớn anh tính sao cho tiện thì tính đi.

– Tao đâu có biết làm sao bây giờ. Lỡ bưng nó lên xuồng rồi…mà mầy cũng đã xơi tái mấy miếng rồi thì đâu có trả lại cho Bà được.

Tiếng thằng Út yếu xìu:

– Hồi nãy tui làm bảnh tỏn xúi anh, ỉ có anh nên làm đại. Tui nghe thằng Tư cồ nói hoài mà chưa có dịp thử. Bây giờ về gần nhà rồi…tui đâu có biết làm sao.

Sáu Bảnh ngồi ngó con heo bị lủng mấy miếng do thằng út xẻo ăn, anh lắc đầu:

– Ừa thì cũng tại tao nữa. Thôi như vầy, về nhà tao sẽ cắt cái thủ vĩ đem ra bờ sông tạ lỗi Bà, chắc Bà cũng hổng chấp đâu. Còn khúc mình tao xả ra làm hai phần; mầy một phần tao một phần.

Út la oai oái:

– Í, hổng được đâu. Tui mà đem về nhà cho tía má tui ổng đánh tét đít à?

Sáu Bảnh mắc cười ngang:

– Sao hồi nãy mầy mạnh bạo như thiên lôi giáng hạ mà bây giờ như con gà nuốt giây thung.

Út giữa xuống giọng “xề”:

– Tui đã nói rồi mà anh còn kêu ngạo tui làm gì chớ.

Sáu Bảnh ngừng cười:

– Thôi được rồi để tao giúp mầy.

– Ừa anh Sáu.

(Xem tiếp phần 2)

Leave a Reply