Mùi Đất

 

 

Trời bắt đầu vào mùa Thu, ngoài đường lá đổi màu; dọc theo những con đường trong khu phố nhỏ, cây cối mang màu lá mới. Những cây lá: đỏ, vàng, xanh nổi rõ hơn trên nền trời xám màu chì; và lá cũng bắt đầu rụng nhiều.

Trong khu vườn sau nhà bà Năm chỉ còn mấy cây thông tháp bút là còn được màu xanh, căn nhà đâu lưng với khu vườn sau nhà bà có cây phong cành lá um tùm, nhánh de ngang qua hàng rào phủ xuống một góc vườn bà Năm. Những cành cây vào hè máy đứa cháu bà Năm có bóng mát vui chơi chạy nhảy, nhưng kẹt một nỗi vào Thu bà Năm hơi mệt vì phải gom lá hàng tuần. Căn nhà sau lưng là của vợ chồng người Mỹ hồi hưu, quanh năm im lìm dóng kín, thảng hoặc những ngày lễ lớn, Xuân Thu nhị kỳ như lễ Giáng sinh, lễ Phục Sinh mới thấy có ánh lửa reo vui hoặc tiếng ồn ào của đám con cháu về thăm. Bà Năm về ở khu nhà nầy hơn mấy năm rồi, nhưng chưa lần nào bà thấy mặt cặp vợ chồng người hàng xóm. Điều đó cũng dễ hiểu, vì căn nhà đâu lưng lại với nhau, hai mặt nhà quay ra hai con đường chia nhau một block đường.

Bà Năm đúng lặng nhìn khu vườn, được ông Năm chia ra thành nhiều ô nhỏ hình chữ nhựt, đóng bệ bằng cây, mua đất trộn phân đổ lên để cho bà trồng vài ba luống rau. Bà Năm chịu khó theo con ra chợ mua về nào ngò om, rau giấp cá, rau quế, rau thơm, húng cây, húng lủi, bạc hà, tía tô, hành lá… Bà Năm ngày ngày ra săm soi bắt sâu, xới gốc, tưới nước vô phân… Không bao lâu từ ngày bà về nhà nầy mảnh vườn nhỏ có sinh khí. Bà thường nói với sắp nhỏ cháu bà.

-Tao ở đây như cây chùm gởi, sống nay thác mai, già rồi hổng có lo gì, chỉ tội nghiệp cho tụi bay thôi hà. Tao còn sống thì tụi bay còn chuyện để mà nghe, nữa khi tao theo ông bà … chà, lúc đó chăc tụi bay thành Mỹ ráo trọi.

Lũ nhóc vây quanh bà đòi kể chuyện. Bà nhai trầu bỏm bẻm, một chưn co lên … bà hắng giọng:

-Ừa, để tao kể cho tuị bây nghe. Lại chuyện năm non, bảy núi; chuyện ông bà..

Bà Năm kể chuyện, câu chuyện bà kể cho đám cháu bà nghe, nhưng mắt bà nhìn vào một khoảng không gian nào đó.

Khi vui thì muốn sống dai, Khi buồn thì muốn thác mai cho rồi. Cuộc đời nó sao lắm nổi truân chuyên, buồn vui khó nói. Mới được đó, rồi mất đó; vừa mới cười xong thì bổng chốc nước mắt nó lưng tròng. Cuộc đời vốn nó là vô thường mà. Ai ai không muốn vui nhiều buồn ít, có phải vậy không? -Bà năm tự hỏi trống không. Vì đời không thường còn mãi mãi nên khi vui thì mình muốn sống dai, sống hoài để hưởng, nhưng lúc buồn thì muốn chết quách đi cho rồi. Vật đổi sao dời, ruộng lúa biến thành nương dâu mấy hồi! Làm sao đem cái chuyện “được thua còn mất” để mà định giá trị con người? Người Việt lúc nào cũng một lòng nhớ tưởng quê-hương, dù cho quê hương có rách nát tơi bời, dù cho đất mẹ có ba chìm bảy nổi, chín linh đinh. Chắc chắn một ngày nào đó sẽ “hết cơn bỉ cực, đến hồi thới lai”

Bà Năm kể không đầu không đuôi, bà nghĩ đôi lúc cũng buồn cho cái vận nước của mình. Càng nghĩ càng cố gắng làm sao để giữ cho cái nền, cái nếp của ông bà không bị mất trong đời sống ôi sao mà nó xô bồ hổn độn ở cái xứ tiền nhiều mà tình nghĩa hổng có bao nhiêu. Thằng con trai bà thường nói tếu với bầu bạn rằng “Tình là chín(h) nhưng tiền là mười còn vàng nó tới 24 lận, mà kim cương thì vô giá.” Bà Năm nghĩ thằng con bà nói ra như vậy có vẻ như bi quan, chán đời nhưng nó là chuyện có thật.

Bà Năm cà kê cho lũ nhỏ đang đợi ba má đã ngủ gục dưới sàn nhà. Bà Năm ấm ớ nói như trong cơn mê… Gia đình bà Tư kia được sang đây bằng giấy bảo lảnh của con, những ngày đầu vui vẻ sao nó qua mau quá. Đời sống mới nó hoàn toàn hổng có giống bên nhà tí nào ráo trọi. Chuyện ăn chuyện ở nó khác huơ, khác hoắc. Nó ba mớ làm sao, người quê mùa thì chỉ còn có nước cười đau khóc hận, ai có qua cầu mới hay, ai có hiểu thì cảm thông cho cảnh bà Tư lắm. Mấy người hổng đồng ý kiến thì chê bai; họ nói ai biểu già rồi qua làm gì, sao hổng dzìa bển cho rồi. Nào là đứng núi nầy trông núi nọ. Họ còn biểu là được voi đòi tiên…. Thôi hơi sức đâu mà cãi. Ông bà mình dạy chín người mười ý mà. Thiệt đúng lắm. Nhưng họ có “Ởû trong chăn đâu mà biết chăn có rận”. Bà Tư buồn lắm, ông Tư thì còn có chút thú vui cà-phê, cà-pháo, lâu lâu cũng phì phèo đôi điếu thuốc lá “Mâm-bô-rô” len lén vì sợ con nó ngầy ngà, con dâu nó ra vào nhìn ngó. Trời lạnh như vầy nếu có thèm chắc phải lủi vào nhà xe để phì phèo. Thôi thì bỏ tiệt đi cho nó xong. Riết rồi hút thuốc lá như một cái tội. Còn bà Tư đâu biết làm gì cho qua ngày dài đăng đẳng? Đi đâu cũng phải nhờ con cái nó chở đi. Nó vui thì được, hôm nào nó lỡ thua cá độ “phút-bôn”, trong mình khó ở thì coi như bữa đó “huề tiền” là may lắm đó. Mà bà Tư bả đâu có muốn gì cho lắm. Chỉ muốn đi chùa, đi lể ngày chủ nhật, nấu nướng cái gì đó để cúng ông bà ngày giỗ, ngày quải vậy mà con cái nó cứ chê. Nó chê mê tín dị đoan, mùi nhang khói hôi nhà, vàng vách… Con cái nó đâu có biết người mình thờ cúng tổ tiên là việc “uống nước nhớ nguồn” Sách Trung Dung có nói “Tấu cách vô ngôn thị mỵ hữu tranh” (Tận tâm cúng vái mà không nói là không có tranh luận) nhưng nó có bằng lòng đâu mà cúng với vái. Cái gì cũng mang tới Chùa hết thảy. Mà cúng Chùa thì lại hổng có tiền. Đàng nào cũng kẹt. Ôi làm cái thân chùm gửi sao mà nó thấm thía làm vậy?

Bà Năm nhổ nước cốt trầu, bà nhìn đám cháu nằm lăn trên mặt thảm mượt như tơ, bà lẫm bẩm: “Đâu phải ai cũng bị như cảnh của bà Tư!? Có lẽ bà Tư là trường hợp đặc biệt đó thôi! Thôi thì ráng cầu nguyện.” Bà Tư cũng là người có đọc sách thánh hiền đó chớ; Bả biểu rằng tại mình vô phước vô phần, chớ thiệt ra thì kinh Lể đà dạy rồi: “Duy thánh nhân vi năng hưởng Đế. Hiếu tử vi năng hưởng Thân. Hưởng dã, hưởng dã. Hướng chi nhi nhiên hậu năng hưởng yên” Việc cúng bái, việc thờ lạy tổ tiên là việc từ Vua chí Dân đều phải làm hết. Chỉ có bậc Thánh nhân mới biết tế lễ cho xứng đáng, chỉ có những đứa con hiếu thảo mới tế cho song thân. Chỉ có sự thành tâm mới có sự hiệu quả của việc cúng tế. Nước mình là nước thuộc phạm vi văn hóa Phương Đông mà. Có kiêng thì có lành. Cổ nhân có dạy: “Hữu thành tắc hữu kỳ thần,vô thành tắc vô kỳ thần.” Có tin kính thành tâm thì có thần có thánh, ngược lại hổng tin là hổng có Thần linh gì ráo. Đời sống là sự tiếp nối của một chuỗi dài từ vô thỉ đến nay,và sẽ chảy mãi đến vô cùng. Mỗi con người thoạt sinh ra phải nhờ cha mẹ chăm sóc nuôi ăn, dạy bảo. Lúc còn đỏ hỏn, mọi việc đã có mẹ có cha, có tía có má. Do đó nếu có sự dưỡng nuôi, và nếu có “âm đức” thì mọi việc trơn tru; bằng ngược lại… Bà Tư cũng có cái lý của bả, có lẻ bà Tư không dung hợp được cái mới chớ gì?

Nhưng bên mấy người trẻ họ đâu có hiểu. “Thiên hạ chi lễ dã chí phản thủy dã. Chí phản thủy dã dĩ hậu kỳ bổn dã” (Kinh Lể Chương XXIb). Thiệt ra cái lễ nghĩa đi đến cùng cực là trở về với cái cội cái nguồn. Trở lại với cội nguồn đó chính là làm cho cái gốc của mình không bị mất,và mình không vong bản. Bà Năm chỉ là người hủ lậu, khi nghe chuyện chỉ biết thở dài, chớ làm gì hơn được. Bà Tư suy đi nghĩ lại, một ngày kia bả quyết định để dành tiền mua sẳn giấy máy bay về Việt Nam. Bả chuẩn bị một cuộc vượt biên ngược về nhà. Bà Tư đi thiệt, đám con khi biết chuyện hông hiểu họ nghĩ thế nào. Nhưng chỉ tội nghiệp ông chồng già ngày đêm lủi thủi ra vô, nhớ thương bà vợ.

Mấy đứa cháu ngáy pho pho. Bà Năm đứng lên bước vô nhà bếp bật đèn. Mâm cơm bà đã dọn sẵn mấy đứa cháu không chịu ăn. Hai vợ chồng đứa con chưa về. Bà Năm bước lại bàn thờ ông Năm thắp một cây nhang. Bà thở dài.

Mặt trời chưa ra khỏi đám mây. Trời vào Thu nên mặt trời dậy trễ. Bà Năm đã bước ra sau vườn. Bà chăm chút từng cọng rau, bà vuốt tay trên ấy lá bạc hà óng mượt đầy bụi phấn. Bà thở dài:

– Nhà không có cây rau sao ngó nó giống nhà hoang.

Mấy đứa con bà, nhứt là thằng Ba, người con bảo lãnh cho bà sang Mỹ, cứ cằn nhằn:

– Sao má không nghỉ cho khoẻ, mấy cây rau của má trồng không lại tiền nước má tưới cho nó. Má muốn ăn thì con ra ngoài chợ thiếu giống gì ngoài đó. Trồng vừa mệt mà không thấy có lợi gì hết ráo má ơi.

Bà Năm chỉ cười, những đứa con bà đâu có biết. Phải, mà làm sao nó biết được niềm vui của bà khi đứng nhìn những bông cà chua vàng rực rõ như ánh mặt trời khi cây mới đâm bông, nó cũng không thể nào hiểu được bà vui sướng như thế nào khi nhìn thấy cây rau quế nhảy mầm non nhú ra lộc mới, con bà lại càng không thể hiểu được cái mùi của đất. Bà Năm không thể nào diễn tả cho con cháu bà hiểu đươc cái vị hăng hăng nồng ấm của đất mới, mùi cỏ, mùi cây, những thứ mùi bà hít hoài không thấy chán.

Màu đất ở đây đen đen trộn phân ngái ngái, nhưng bà đã thêm đất mới thêm lá cây phong nên dịu bớt; nơi đó cây cuốc nhỏ của bà xới lên có những con trùn đen láng ngo ngoe làm bà nhớ. Bà Năm không biết, không hiểu tại sao nếu mỗi ngày bà không dẵm chưn trên đất là bà phát bịnh.

Bà Năm đi đi lại lại quanh vườn, sau trận mưa đầu mùa đất có mùi nồng nồng xông vô lỗ mũi, mấy cây rau quế rau thơm bà phải lấy bao ny long trùm kín, đang lùng bùng những hơi ấm bên trong. Bà Năm cười một mình. Bà lẩm bẩm:

– Ngộ thiệt, cây mà phải bận áo che.

Mấy đưa con đã dậy ồn ào. Một ngày cuối tuần như mọi ngày đã qua. Bà Năm bươc vô nhà, mùi của đất đi theo Bà Năm vô tận giường ngủ. Và sáng hôm sau mấy đứa con gõ cửa phòng mới hay bà đã ra đi.

 

 

Lê Việt Điểu

Leave a Reply