home Tài Liệu Nhà Ngô – Một Sự Thật.

Nhà Ngô – Một Sự Thật.

Viết lại lịch sử chân thật về triều đại Gia Đình Trị họ Ngô tại Miền Nam VN.

Ai đưa Ông Diệm về nước nắm quyền tại Miền Nam VN sau nhiều năm lê gót nơi quê người.?
Ai ai cũng biết chính Quốc trưởng Bảo Đại .
B.Đ ký lệnh bổ nhiệm Ngô Đình Diệm đang lê gót nơi quê người về nước làm Thủ tướng , đồng thời ký lệnh bãi nhiệm Hoàng thân Bữu Lộc nhường chức Thủ tướng cho Ngô Đình Diệm.
Thật sự Bảo Đại muốn Bảy Viển hay Hoàng thân Bữu Lộc lập nội các mới.
Trong khi đó tại Pháp có quyển sách “ Back ground to Betrayal = The Tragedy of Viet Nam “ của tác giả Hilaire du Bierrier rất ca tụng Ngô Đình Diệm là người độc nhất có thể cứu Miền Nam khỏi sự tao loạn …cho nên hầu hết những kẻ Hoài Ngô đều dựa vào sách nầy mà làm bằng cớ lịch sử.
Thật sự tác giả “ Hilaire du Berrier “ chính là thư ký riêng của Ngô Đình Luyện lúc Ông Luyện làm Đại sứ VN tại London / United Kingdom.
Quyển này xuất bản vào năm 1965 ( sau 2 năm Ông Diệm bị giết chết 1963 , sau 6 lần âm mưu Ông Diệm trong thời gian 8 năm 8 ngày nắm quyền tối thượng tại Miền Nam VN ) ( bạn có thể vào xem book nầy = ebook Background to Betrayal = The Tragedy of Viet Nam …đúng lý tác giả Pháp nầy phải ghi là Nam Viet Nam = South Vietnam chớ không nên ghi Viet Nam , vì Nam Viet Nam là nơi cầm quyền tối thượng của gia đình Ngô Đình Diệm ).
Quyển nầy nói sơ qua về sự nhúng tay của Ngoại trưởng Hoaky Foster Dulles , nhưng tác giả để lộ sơ hở là Hồng Y Joseph Francis Spellman (1889 – 1967 – New York ) nhúng tay rất mạnh chuyện nầy.
Chính Hồng Y Josphep Francis Spellman từng rửa tội cho em TT Kennedy sau nầy.
Thời đó Hồng Y Spellman rất uy lực trong chính phủ Hoaky và tại Vatican Roman .
Không một ai biết rò tánh tình và học vấn cùa Ngô Đình Diệm bằng Quốc trưởng Bảo Đại hơn ai hết.
Bảo Đại biết Ngô Đình Diệm đã phản bội mình đến 2 lần .
Lần đầu tiên khi Bảo Đại cất chức 5 đại thần ( Nguyễn Hữu Bài , Tôn Thất Đàn , Phạm Liệu , Võ Liêm , Vương Tứ Đại )…mà Thượng thư đầu triều là Nguyễn Hữu Bài ( tay chân thân tín của Ngô Đình Khả cha ruột Ông Diệm và Nguyễn Hữu Bài là cha vợ của anh ruột mình là Ngô Đình Khôi )…
Dĩ nhiên khi cất chức Nguyễn Hữu Bài thì đám Công giáo thuần thành Quảng Bình tại Huế , trung thành với Ngô Đình Khả gây nhiều bất bình…cho nên Vua Bảo Đại xoa dịu sự chống đối của bộ tộc họ Ngô , nên Vua Bảo Đại bổ nhiệm một vị quan nhỏ tuần phủ tinh Phan Rang là Ngô Đình Diệm…trong thời gian trị vì tại tỉnh Phan Thiết, tuần phủ Diệm rất cung cúc phục vụ nhà Nguyễn + thực dân Pháp , Ngô Đình Diệm trong thời cai trị tỉnh Phan Thiết ( tỉnh sung túc nhất nhì miền Trung ) mà Ngô Đình Diệm chưa làm một thành tích gì tốt cho dân chúng tỉnh Phan Thiết., ngay cả một cây cầu đường cho dân Phan Thiết ( trong khi đó tại thành phố Phan Thiết có tháp nước địa danh do kỷ sư hoàng thân Lào – Souphanouvong dựng nên vào năm 1928 – Ông Diệm làm tuần phủ năm 1933 …( không hiểu lúc Ông Diệm ngó thấy tháp nước Phan Thiết do một người Lào xây dựng , ông có tự trào tự cao điều gì nơi ông hay không ?)
Khi Vua Bảo Đại muốn làm an lòng giới Công giáo Quảng Bình tại Huế , thì B.Đ bổ nhiệm tuần phủ trẻ Ngô Đình Diệm làm Thượng thư đại thần ( mặc dầu Bảo Đại biết Ngô Đình Diệm chỉ có văn bằng “ Diplome Complementaire = Tạm gọi là Sơ Học Yếu Lược – sách Hồi ký “ Khúc Tiêu Đồng “ của cụ Hà Ngại – cụ Hà Ngại là bạn học trường Hậu Bổ cùng lớp , cùng thi ra trường cùng ngày , cùng rớt 2 câu hỏi của cùng Giám khảo người Pháp…Cụ Hà Ngại nói lúc đó Thượng thư Nguyễn Hữu Bài ra một đặc lệnh miễn văn bằng Hán học vào năm Ông Diệm xin thi vào…
Trường Hậu Bổ Huế là do Pháp dựng nên , để tạo công chức cho triều đình Huế , phải thông thạo Hán văn vì tại Huế vẩn còn nhiều người chỉ biết viết Hán văn , văn bằng , hộ tịch , đơn từ đa số là chữ Hán., cho nên quan lại phải biết đọc và viết chữ Hán , chữ Quốc ngữ và Pháp ngữ.
Dịch từ chữ Hán sang chữ Pháp cho quan Pháp đọc , quan Pháp phê xong thì dịch lại bằng Hán ngữ cho dân biết…
Đặc lệnh nầy của quan Thượng thư đầu triều Nguyễn Hữu Bài ký cho năm Ngô Đình Diệm khi xin vào trường Hậu Bổ , năm sau thì trở lại như cũ là sinh viên muốn thi nhập trường Hậu Bổ Huế , thì phải có văn bằng Cử nhân Hán học + Quốc Ngữ + Pháp ngữ….cho nên cụ Hà Ngại ghi là : “ Ngô Đình Diệm không có học vị “…
Khi Vua Bảo Đại bổ nhiệm một tuần phủ tỉnh nhỏ lại kém học vấn là Ngô Đình Diệm lên làm Thượng thư đầu triều , quả thật Vua Bảo Đại quá nể trọng Ngô Đình Diệm rồi.
Nhưng Vua Bảo Đại lại tin dùng một ký giả có học vấn và kinh nghiệm trường đời là Phạm Quỳnh làm “ Ngự Tiền Văn Phòng Vua Bảo Đại “ , còn Ngô Đình Diệm làm thư ký phụ tá cho Phạm Quỳnh.
Ban ngày làm việc thì Ngô Đình Diệm cao vế hơn Phạm Quỳnh , nhưng sau khi tan triều , ban đêm thì Phạm Quỳnh được Vua tin trọng , bàn luận + quyết dịnh điều gì giữa Vua Bảo Đại và Phạm Quỳnh…thì Ông Diệm ghi chép lại…
Cho nên chưa đầy 3 tháng , chưa biết mọi ngỏ ngách Bộ Lại Huế , thì Ngô Đình Diệm tức khí , từ chức.
Chuyện từ chức nầy làm mất mặt Vua Bảo Đại hết sức , dân Huế cười rất nhiều về chuyện cậu Diệm làm mất mặt Vua…
Thế mà những kẻ Hoài Ngô nằng nặc cho rằng Ngô Đình Diệm yêu cầu Pháp phải nghe lời những điều mình đòi hỏi….Pháp không thuận….thì Ngô Đình Diệm từ chức .
Trước đó khi làm tuần phủ tỉnh nhỏ Bình Thuận….thì cậu tuần phủ Ngô Đình Diệm là một công chức ngoan hiền…ngay cả không đòi Pháp phải xây cầu đường hay hải cảng đánh cá cho tốt cho ngư phủ Phan Thiết gì cả….
Không hiểu Ngài tuần phủ Diệm khi nhìn Tháp Nước Phan Thiết do người Lào vẽ kiểu , xây dựng đẹp mà minh có phân vân trong nhiệm vụ làm tốt đẹp cho dân Phan Thiết hay không ?
Đó là lần phản bội kỳ 1 của Ngô Đình Diệm.
Lần thứ nhì là khi Nhật chiếm đóng Đông Dương , nắm quyền cai trị tại Việt Nam , thực dân Pháp phải co vòi…thì Ngô Đình Diệm gia nhập phong trào suy tôn Cường Để tại Nhật ( có lẽ do sự giới thiệu của Ngô Đình Huân , con trai Ngô Đình Khôi lúc đó là Bí Thư cho đại sứ Yokohama Nhật đầy uy quyền tại VN và tại Tokyo ).
Cường Để là dòng chánh của Thái tử Nguyễn Ánh , còn Bảo Đại dòng thứ Minh Mạng…
Cho nên Cường Để ngày đêm mong lấy lại ngai vàng họ Nguyễn Gia Long cho mình.
Cho nên nếu Cường Để về VN làm vua , thì Bảo Đại sẽ là vua bị truất ngôi. , rồi Ngô Đình Diệm sẽ là tay chân tín cẩn của Cường Để mà không có Phạm Quỳnh xía vào.
Cho nên Vua Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm truất phế là “ số Trời “ đã định tuyệt diệt dòng Vua Gia Long , đó là lỗi của Vua Bảo Đại đã biết tôi thần triều Nguyễn là kẻ phản phúc mình hơn ai hết mà vẩn giao trọng trách Thù tướng cho Ông Diệm , cất chức hoàng thân Bữu Lộc .

1.- Bạn biết gì về Tổng thống Tự phong Ngô Đình Diệm ( năm 1954-1963 ) ?

2.- Bạn biết gì về tiền bằng Vàng của Ngân Hàng Đông Dương tại Paris trả lại cho TT Ngô Đình Diệm , sau khi Pháp trao trả độc lập lại cho Quốc trưởng Bào Đại, rồi Thủ tướng Diệm tự phong lên làm Tổng thống VNCH I …TT Diệm thu giữ tiền vàng 3 quốc gia vào quỷ đen của đảng Cần Lao và Mật Vụ của Diệm Nhu ?
Trở lại bài cũ gởi lên Diển đàn YahooGroups vừa qua…
2.1.- Tiền hoàn trả của Ngân Hàng Đông Dương cho dân chúng Việt Miên Lào khi thực dân Pháp rút lui khỏi Việt Nam …
Tổng số tài sản của Miên và Lào trên hàng chục tỉ đô la theo thời giá ngày nay ( Lúc Pháp thực dân tại Đông Dương , thì Pháp kiểm soát mọi tiền tệ của 3 quốc gia nầy. Tiền Đông Dương được xài rộng rải tại Đông Dương ( ngay cả tại Hongkong + Vân Nam và Singapore ).
Nghĩa là Pháp giữ vàng tại Paris, và Ngân Hàng Đông Dương phát hành tiền Đông Dương ra cho dân 3 xứ ấy xài.
Người Việt đem tiền Đông Dương sang Lào hay Cao Miên đều dể dàng , hay nhận tiền Đông Dương của Miên xuất ra cũng dể dàng.
Nhưng tiền Đông Dương ấy chuẩn là vàng khối.
Cho ví dụ gạo Miền Nam bán cho Hongkong , Singapore thì Pháp thu vàng hay đô la Mễ của HongKong, Singapore , rồi cất vào ngân khố của Pháp.
Rồi Pháp in tiền giấy Đông Dương mà trả cho nông dân trồng ruộng lúa tại Miền Nam.
Ví dụ tương tự như vậy cho cà phê Ban Mê Thuột. Cao su Tây Nam Phần….
Ví dụ như vậy cho cá Biển Hồ của Miên…
Nghĩa là Pháp giữ vàng , trả tiền in ấn bằng giấy cho dân chúng 3 miền ( Việt – Miên – Lào ).
Dân chúng 3 Miền không được dùng vàng mà hoán đỗi kinh doanh , chỉ dùng 1 thứ tiền Đông Dương mà thôi.
Đem vàng khối vào ngân hàng tại 3 miền , thì được trả lại tiền giấy Đông Dương tương đương trị giá vàng mà Pháp kiểm soát.
Khi thực dân Pháp rút lui khỏi Đông Dương năm 1953 , thì ngân khố tài sản bằng Vàng của 3 quốc gia Việt-Miên –Lào được giao cho Tân Tổng thống Ngô Đình Diệm tại ngân khố ở Saigon.
Tân Tổng thống Ngô Đình Ziệm + Ngô Đình Nhu và Huỳnh Văn Lang âm thầm thủ tiêu tất cà số tiền ấy…cất vào quỷ Mật Vụ của Ngô Đình Nhu.
Họ- chính phủ Diệm cho in tiền Quốc gia Việt Nam thay thế tiền Đông Dương , tiền Đông Dương thì Pháp trao lại bằng vàng cho chính phủ Ngô Đình Diệm.
Có nghĩa là vàng khối của 3 quốc gia ( Việt- Miên- Lào ) thì Diệm Nhu cất giữ , phát lại tiền giấy cho người đến đỗi tiền Đông Dương .
Ngô Đình Nhu bổ nhiệm tay chân thân tín của mình là thầy tu bị trục xuất khỏi tu viện…là Huỳnh Văn Lang…
Cho Huỳnh Văn Lang làm tay tổ thứ nhì đảng Cần Lao , nắm giữ Viện Hối Đoái tại Saigon ( lo coi vụ lấy vàng của Pháp mà trả lại cho dân chúng 3 miền Việt – Miên –Lào . Số tiền Pháp lưu trữ thời Đông Dương thuộc Pháp lên đến vài trăm triệu đô thời ấy , ngày nay vài chục tỉ đô la USD là chuyện nhỏ )
Băng đản ăn cướp tiền vàng 3 quốc gia Việt-Miên-Lào là Ông Diệm + Nhu + Huỳnh Văn Lang âm thầm lấy tiền vàng , chuyển vào quỷ đen của đảng Cần Lao và Mật Vụ của Diệm Nhu ( nên nhớ viện trợ của Hoaky không trả tiền lương cho đám Mật Vụ và Đảng Cần Lao của Diệm Nhu , cho nên họ phải dùng số tiền vàng nầy mà nuôi mật vụ , nhân viên Đảng Cần Lao ).
Riêng Huỳnh Văn Lang tậu được 2 ngôi biết thự vô cùng đắt gía tại trung tâm thủ đô Paris ( ngó sang tháp Eiffel…có lần Thủ tướng Pháp thời ấy đến thăm tân gia của H.V.Lang phải trầm trồ ao ước . Nay tên già lưu manh Huỳnh Văn Lang nầy ở gần Westminster , ăn tiền già và housing của chính phủ California cấp cho. Tên nầy khi sang Mỹ …chưa bao giờ làm việc , đóng thuế 1 ngày nào cho Hoaky…Dân Ca Tô lưu manh là như vậy…không hiều tại sao tiền chục triệu đô la của tên nầy di vào ngân hàng nào vậy ta ? Chắc là vào ngân hàng Vatican là cái chắc )
Trong khi ấy Vua Miên Norodom Sihanouk và vua Lào giận , tố cáo chuyện ăn cướp vàng của họ tại Liên Hiệp Quốc thì bị Hoaky phủ quyết bác bỏ mất , vì Hoaky nhúng tay vào Việt Nam…cho nên tiền ấy mà đám Diệm Nhu Lang giữ cho đảng Cần Lao + Mật Vụ…thì Hoaky đở tốn thêm tiền chi phí cho đảng Cần Lao + Mật Vụ.
Tiền ấy, tài sản ấy của dân 3 xứ Việt Miên Lào thì chế độ Gia đình Trị : Diệm Nhu Cẩn Thục + Trần Lệ Xuân…không thể cất vào kho Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam tại Saigon được…
Vậy thì số tiền khổng lồ mà đám Diệm Nhu Huỳnh Văn Lang gởi vào đâu cho an toàn + bí mất nhất ?
Xin thưa : Đó là gời vào ngân hàng Toà Thánh Vatican ( có chi nhánh tại Saigon và những thủ đô có sứ thần Đạo Ca Tô Ma )
Khi chế độ Gia đình Trị bị Phật Trời + Ý Thiên Chúa + Lòng dân Miền Nam + lòng Quân đội VNCH I…để chấm dứt nguyên dòng họ Ngô Đình tại Việt Nam đời đời….thì
Kết quả ra sao :
1.- Uỷ Ban Thanh Tra tài sản Cậu Cẩn của Chánh phủ Quân đội VNCH…cho lùng sục tất cả nơi miền Trung…..thì Uỷ Ban thu được :
– Con Két trắng ở vườn sở thú nhỏ của Cậu Cẩn tại Phú Cam Huế, biết nói vài tiếng người như “ Mi ngu chi lạ “…” Chào cậu Cẩn chưa bây “…” Mụ Đẹ đâu bây ? “
– Ống nhổ bả trầu của Cậu Cẩn
– Đôi guốc của cậu Cẩn.
– Bộ quần áo bà ba trắng của Cậu Cẩn…
Tại sao Uỷ Ban Thanh Tra Tài Sản Ngô Đình Cẩn chì thu được những thứ nói trên ?
Lý do đơn giàn , vô cùng dể hiểu là :
– Vatican không nuôi chim . Vatican không biết tiếng Việt , nên không nuôi chim Két trắng của Cậu Cẩn. Vatican không hiểu : “ Mi ngu chi lạ “ của con két trắng nói ra.
– Vatican không ăn trầu. Vatican “ ăn trái cấm “ hay trái có chủ .
– Vatican không ăn vận áo bà ba trắng .
– Vatican không đi guốc , họ đi giày da tốt Made in Italy .
2.- Uỷ Ban Thanh Tra tài sản Đức Cha Ngô Đình Thục …chỉ có quyển Kinh Thánh cũ thời Ngài làm Zám Mục Vĩnh Long và bức thư sao bản gời cho Toàn quyền Pháp tại Hà Nội xin ân xá cho tội phạm Ngô Đình Diệm vì Diệm theo Nhật. Nhật là kẻ thù cùa Pháp.
3.- Tài sản của dân chúng Đông Dương Việt-Miên-Lào do Ngân Hàng Đông Dương của Pháp khi rời bỏ Đông Dương , trao trả lại cho chính phủ Diệm tại Saigon / Việt Nam để Việt Nam trả lại cho dân chúng Việt-Miên-Lào….thì không có gì cả.
Uỷ Ban Thanh Tra có hồ sơ tố cáo của chính phủ Miên , chính phủ Lào về số tiền gần chục tỉ đô la….thì Uỷ Ban không thấy ở Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam tại Saigon .
Tất cả đều zero to tướng.
Vậy số tiền chục tỉ ăn cướp ấy ở đâu cà ?
Uỷ Ban Thanh Tra Tài Sản Ngô Đình Diệm Nhu chạy vào nhà thờ Chánh Toà Saigon , quỳ gối hỏi cây Thập Giá , đóng đinh Chúa Jesus :
– Xin Thiên Chúa hiển linh , bắt ép Vatican mà trả lại số tiền ấy của dân nghèo Việt-Miên-Lào khi Pháp trao trả độc lập cho 3 quốc gia ấy….thì Uỷ Ban Thanh Tra Tài Sản Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu ….thì họ nghe văng vẳng lời nói phát xuất mơ hồ :
– Các con lên thiên đàng gặp Ta….Ta chỉ cho các Con biết tiền ấy ở đâu. Vì tụi giả hình Vatican nó đóng đinh Ta lần nữa thì nguy to. “

3.- Bạn biết gì chuyện phản quốc của gia đình TT Ngô Đình Diệm ?
– Đó là câu chuyện tàn ác của TT Diệm như sau :
Chính phủ Hoaky , trong chương trình USAID ( Unites States Agency for International Development )…Chương trình nầy chính phủ Hoaky , đại diện dân chúng Hoaky mà trợ giúp những nước đang phát triển , mục đích chống nghèo đói và thất học.
Cơ quan nầy viện trợ hàng năm cho miền Nam VN hàng chục nghìn tấn gạo , cùng đường , sửa , muối cho dân nghèo và nông dân nghèo nơi vùng hẽo lánh , ta gọi là vùng sâu vùng xa…
Số gạo hàng nghìn tấn nầy bị Bà Cả Lễ ( Ngô Đình Thi Hoàng …chị cả của anh em Ngô Đình Diệm , Bà lấy ông Nguyễn Huy Lễ …nên dân miền Trung gọi là Bà Cả Lễ . Bà nầy thu hết tất cả gạo hàng nghìn tấn mà cơ quan USAID viện trợ cho dân nghèo thường bị thiên tai bảo lụt…Bà và đồng bọn bán tất cả gạo nầy cho Hà Nội , qua ngã HongKong.
Những bao gạo của dân chúng Hoaky có ghi hàng chử : Gạo nầy dành cho dân chúng Việt Nam , cấm mua bán…Made in USA “.
Bà Cả Lễ đem về kho gạo , thay đỗi bao khác không nhản hiệu…bán cho Chệt qua ngã HongKong…thời gian sau thì cơ quan tình báo CIA biết chuyện. Thế là cơ quan USAID đòi chính phủ Ngô Đình Diệm phải truy tìm thủ phạm cho bằng được…mặc dầu chính phủ Hoaky biết chắc là có sự nhúng tay của TT Ngô Đình Diệm…vì số gạo nầy trao cho chính phủ Diệm và phải phân phát cho dân nghèo theo chương trình viện trợ thực phẩm nhu yếu…
Biết không thể nào dấu nhẹm với Hoaky với số gạo bán cho Hà Nội lên đến hàng chục nghìn tấn trong vòng 4-5 năm…
Nên chính phủ Diệm phải đem con dê ra tế thần.
Con dê đó đó là một nhân viên thu ngân , ký check mua bán gạo cho Chệt , rồi đặt tiền vào ngân hàng của Bà Cả Lễ tại Thụy Sỉ hay Pháp..
Đó là ông Ưng Bảo Toàn .
Thế là con dê bị tế thần Ưng Bảo Toàn bị chung thân khổ sai, phát vãng đi Côn Đão , vì bán gạo cho Cộng sản., toàn gia bị đi đày…tài sản bị tịch thu ..
Còn nhiều nhiều chuyện tán tận lương tâm mà gia đình Ngô Đình Diệm làm , bất chấp công luận tai Huế và Saigon.

4.- Bạn biết gì anh em Ngô Đình Diệm và đồng bọn sống trên pháp luật mà chính họ ban hành cho toàn dân Miền Nam VN ?
– Khi lên ngôi Vua..thì TT Diệm ban hành nhiều sắc luật liên quan đến súng đạn , vũ khí đạn dược.
Luật TT Diệm là cấm mọi dân chúng miền Nam trử súng đạn , hay chất nổ trong nhà. Nếu cành sát bắt được thì phải bị kết án nặng.
Trớ trêu thay…Ngô Đình Diệm , Ngô Đình Nhu và Huỳnh Văn Lang ( Đệ nhị đảng Cần Lao , sau Ngô Đình Nhu mà thôi ) là những kẻ thích đi săn thú hiếm quý tại cao nguyên Lâm Viên ( Đà Lạt , Ban Mê Thuột …)
Nhất là Ngô Đình Nhu và Huỳnh Văn Lang.
Chính 2 tên nầy bắn hàng chục con cọp và thú quý sắp tuyệt chủng tại Việt Nam.
Chúng ta nên đặt câu hỏi đơn giản :
– Thời gian ấy là thời gian mà Việt Cộng hoành hành dữ dội…Khi ra khỏi thủ đô Saigon độ 10 km , nơi nông thôn là có sự bất an rồi…
Diển hình là Trung tá Hoàng-Thụy- Năm ( Ông bị VC bắt giết vào ngày chúa nhật- năm 1961 , thường lệ ông đi nhà thờ xong…thì lái xe đi đến dinh cơ nghĩ ngơi tại Lái Thiêu – có nhiều dinh cơ nghỉ ngơi cùa VIP chính phủ Diệm , sát bờ sông Saigon…câu cá hay lái ca nô nhanh trên sông Saigon . Ông bị VC bắt đem di thủ tiêu, chính phủ Diệm truy tặng ông chức Đại Tá với “ Hy Sinh Cho Tổ Quốc “ , tặng Bảo Quốc Huân Chương cho Đại Tá chưa bao giờ ngửi mùi thuốc súng chiến trường…Hừ ! Hy Sinh Vì Tổ Quốc …Tổ Quốc Ghi Ơn … . Đích thân Ông Diệm đến nhà thờ viếng linh cửu của vị đại quan chưa từng ra mặt trận chiến đấu chống Cộng sản bao giờ . Chết vì ỷ y là gần Saigon , thì VC đâu dám rờ đến chân lông Đại tá Hoàng Thụy Năm thích ăn chơi nầy )
Như vậy chứng tỏ tại sao Cộng sản không đón hay bắt sống Ngô Đình Diệm , Ngô Đình Nhu hay Huỳnh Văn Lang trong những đêm dài ngũ tại Ban Mê Thuột chờ săn thú quý từ rừng sâu về .
Trong khi đó tại Dinh Tổng thống , Cộng sản có hàng chục điệp viên trong Dinh nầy báo cáo hàng ngày cho Hà Nội qua ngã giao liên bí mật và hữu hiệu của CS . Tại sao đám điệp viên nằm vùng trong Dinh không báo cáo Hà Nội để cho đội quân đến bắt sống anh em Diệm hay Huỳnh Văn Lang ?- Hỏi tức trả lời : Vì để đám Diệm Nhu cầm quyền thì Hà Nội có lợi rất nhiều…Ngô Đình Cẩn bán thuốc tây cho VC , Bà Cả Lễ bán gạo cho CS..Ngô Đình Nhu thu mua nha phiến đen , bán cho Trùm Bang Chủ Mã Tuyên ( trùm của trùm 6 đại bang người Hoa : bang Quảng Đông , Phúc Kiến , Thượng Hải , HongKong , Hải Nam , Singapore ) …rồi từ đó phân phối đi khắp Dông Nam Á…rồi trở lại Việt Nam làm cho lính Mỹ ghiền ma túy…suy yếu sự chiến đấu chống CS…mặc dù Ngô Đình Nhu cấm buôn bán ma túy…nhưng ma túy từ ngỏ Savanakhet Lào đến phi trường nhỏ Ban Mê Thuột rồi dân biểu Nguyển Bỉnh chở xuống Saigon…tiền bàn ma túy của Ngô Đình Nhu dủng để nuôi mật vụ , cán bộ đảng Cần Lao , điềm chỉ viên…hay mua chuộc quan chức tham nhũng tại Miền Nam VN và ngay cả dâng cho Tòa Thánh Vatican .

1.- Trở lại chuyện Thủ tướng Ngô Đình Diệm tự phong lên làm Tổng thống VNCH I…

Thủ tướng Ngô Đình Diệm tự động tổ chức toàn dân miền Nam Trưng Cầu Dân Ý , với chủ đề Truất Phế Quốc Trưởng Bảo Đại , Thủ tướng Diệm vướt quá quyền hạn Thủ tướng của mình.
Ông Diệm khi lang thang , cầu danh lợi tại ngoại quốc ( nghĩa là nhờ thế lực ngoại bang như giáo triều Vatican hay Mỹ hay Pháp- nghĩa là thế lực nào nâng đở Ông Diệm lên ngôi , thì ông Diệm đều hoan hỉ hết. Trong khi hầu hết những nhà cách mạng , yêu nước Việt Nam đều tự thân , tự lập , tự dựng thế lực tại quê mẹ. Như nhà ái quốc , cách mạng Nguyễn Thái Học điển hình. Còn Ông Diệm thì khác , Ông không đỗ mồ hôi và sự nguy hiểm cho mình. Ông đỗ mồ hôi và nước bọt tại ngoại quốc mà cầu danh lợi cho gia tộc và đạo giáo của mình. Nhiều người lầm vì thấy Ông Diêm ăn uống kham khổ , không tiêu hoang xài phí như Vua Bảo Đại…cho nên hầu hết ban đầu – Họ ( Quốc Gia + Hoaky + Pháp ) – đều ủng hộ Ngô Đình Diệm hoàn toàn , nhưng thời gian sau khi nắm toàn quyền sinh sát…thì – Họ ( Quốc Gia + Hoaky + Pháp ) – mới vở mộng và đứng lên ám sát hay đão chánh. Nếu không có thế lực của Hoa Ky ủng hộ nhóm đão chánh và đứng về phía dân chúng Miền Nam chán ghét chế độ Gia đình Trị , thì chế độ Gia đình Trị họ Ngô sẽ đời đời nắm quyền tại Nam VN. Hoaky giúp Ngô Đình Diệm ban đầu vì sự đạo đức giả của họ Ngô, sau cùng họ nhận thấy chế độ Gia đình Trị thật là tàn độc với dân chúng Miền Nam…nhiều lần cảnh cáo…Gia đình Trị họ Ngô vẩn tỉnh bơ , cứng đầu. Gia tộc họ Ngô nghỉ rằng minh được đạo Công Giáo ủng hộ, Thiên Chúa ở bên mình…cho nên tiếng súng nổ lên đầu tiên thì Ông Diệm vẩn còn tin tưởng Chúa ủng hộ tánh mạng của mình như nhiều lần trước. Kết cục toàn bộ tộc họ Ngô tình Quảng Bình đều bị tuyệt diệt tại Việt Nam như dòng họ Công giáo Nguyễn Hữu Bài vậy. )
Đúng luật pháp của nhiều nước Tự Do trên thế giới , sự tổ chức Trưng Cầu Dân Ý phải do lệnh của Quốc Hội ban hành, rồi Thủ tướng thi hành.
Đàng nầy Thủ tướng Diệm tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý rất mau lẹ , chưa đầy 2 tháng là xong xuôi.
Không có sự Giám sát của các cơ quan Liên Hiệp Quốc tham dự, ngay tại trong nước Miền Nam có hàng chục đảng phái ….Thủ tướng Diệm Nhu cũng không cho người đại diện của các đảng phái nói trên tham gia sự giám sát cuộc Trưng Cầu Dân Ý .
Nhiều nơi nhất là phố quận hay làng xả thuộc các Cha Sở cai quản thì phiếu bầu trên số người bỏ phiếu. Có người bỏ phiếu nhiều nơi .
Trong lúc Thủ tướng Diệm và Nhu lo tổ chức cuộc Trung Cầu Dân Ý , thì hệ thống tuyên truyền của Diệm Nhu cho phát thanh hàng ngày trên đài phát thanh Saigon như sau :
“ Nghe vẽ nghe ve , nghe vè Bảo Đại là quân ăn hại .
Liếm gót thực dân giết hại đồng bào “…
Chúng tôi đọc nhiều sách sử của nhiều nước trên thế giới , chưa có sự độc ác tính toán nào hơn Diệm Nhu cả.
Vừa phản chủ chưa xong ly nước trà …thì chửi chủ vô cùng ác độc.
Cho nên chưa đầy 8 năm 8 ngày ….thì toàn bộ tộc họ Ngô Đình bị Trời tru đất diệt…chết gần hết gia tộc Ngô Đình gốc Quảng Bình.
– Chúng tôi thấy nhiều cái chết…nhưng cái chết của anh em Diệm Nhu thì vô cùng rùng mình.
– Ngày xưa , thời Tam Quốc. Tên Thủ tướng tàn độc Đổng Trác , ác với Vua…sau đó bị tướng thân cân con nuôi là Lữ Bố phản và giết chết. Xác mập của Đổng Trác bị dân chúng khoét bụng mập , nhét vãi bấc vào làm đèn mở bụng cháy suốt 3 ngày chưa xong.
– Bên Ý …thời Đệ Nhị Thế Chiến…lảnh tụ độc tài , tàn ác là Mussolini cùng vợ bị dân chúng kéo xác lê ngoài đường…đầu văng một nơi , xác văng một nẽo.
– Tại miền Nam năm 1963…thì Tổng thống Tự Phong Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị tướng thân cận là Đại tá Nguyễn Văn Thiệu đão chánh thành công.
– Aanh em Diệm Nhu bị trói thúc ké 2 tay…mặt bị đá và bị đâm nhiều nhát , đầu bị súng Colt .45 bắn nhiều phát. Tại sao anh em Diệm Nhu tới số chết , chỉ cần 1 viên đạn vào thái dương là xong , hay dùng dao cứa ngang cần cổ là chết êm thấm ? Mà bị chết hành xác vô cùng ghê rợn ? Đó là nhiều oan hồn hiện diện , xúi đao phủ thủ ra tay tàn độc cho hậu thế soi gương.
– Hitler , tên tàn ác, chúa đảng Đức Quốc Xã thua trận Đệ Nhị Thế Chiến 2…chết tự vận sau khi uống thuốc ngũ…rồi thuộc hạ đốt xác thế thôi…Còn đàng nầy Diệm Nhu chết trong sự đạu đớn và thân xác bị tùng xẻ. Đó là sự quả báo tương ứng với lời thề với Quốc Trưởng Bảo Đại + hành vi ám sát gift nhiều người mà Diệm Nhu xem là cần tiêu diệt trong suốt 8 năm 8 ngày cấm quyền .

Hì Hì …Mr. Góp Gió nói về Tổng thống Tự Phong Ngô Đình Diệm chưa đũ 100 %.
Trong lịch sử Cận Đại ( trước Hiện Đại = Hiện nay )…lúc đó sau khi đậu 120 % số phiếu Trưng Cầu Dân Ý của Miền Nam VN….thì Thủ tướng Ngô Đình Diệm tự xưng là :”
Quốc Trưởng kiêm Thủ Tướng, rồi 3 ngày sau Tự Xưng là Tổng thống VNCH I.
TT Ngô Đình Diệm kiêm luôn Thủ Tướng , kiêm luôn Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng QL/ VNCH.
Có nghĩa là Ngô Đình Diệm nhận luôn 4 chức vụ sau lưng luôn.
Trong câu chuyện “ Tổ Chức Trưng Cầu Dân Ý “ mà mệnh đề chánh là : “ Có nên Truất Phế Quốc Trưởng Bảo Đại hay không nên truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại “…
Cuộc Trưng Cầu Dân Ý với kết quả 120 % số phiếu đếm được , thì số phiếu Thuận Truất Phế Quốc Trưởng Bảo Đại…chớ không nói là Truất Phế Bảo Đại để chọn Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống.
Trong cuộc Trưng Cầu Dân Ý ấy dân chỉ muốn Truất Phế Quốc Trưởng Bảo Đại mà thôi.
Ngô Đình Diệm học vấn rất….rất…rất …tầm thường nhất trong những người tầm thường.
Ông chỉ đậu văn bằng “ Diplome Complementaire “, thấp hơn văn bằng “ Brevet Elementaire “ ( Góp Gió nên ghé vào nhà sách Tự Lực BookStore ở Garden Grove / CA hay gởi check hay money order mua sách “ Tiêu Đồng “ của tác giả Hà Ngại ( Ông mất tại Huế không lâu sau 1976 , con Ông còn sống làm việc tại Tp HCM = Saigon ).
Trong trang 164 …nói nếu Ông Diệm không có phe đảng tại triều Vua Bảo Đại thì đừng hòng làm Tri Huyện Phan Rang . Phe đảng Ông Diệm rất mạnh nhất triều Vua Bảo Đại.
Chính Nguyễn Hữu Bài ( Thượng Thư Bộ Lại ) ký lệnh miễn văn bằng Hán Học đề cho Ông Diệm được vào trường Hậu Bổ Huế. Trong khi đó Ông Hà Ngại có bằng Cử nhân Hán + văn bằng Quốc Ngữ và đậu Brevet Elementaire…rồi thi đậu vào trường Hậu Bổ.
Ông Hà Ngại học giỏi hơn cậu ấm Ngô Đình Diệm cả chục lần hơn , nhưng khi ra trường thì được bổ nhiệm chức vụ rất tầm thường , còn cậu ấm Diệm chức vụ ngon lành , vì anh ruột là Ngô Đình Khôi làm Bố Chánh Phù Cát gì gì đó .
Quyển sách Tiêu Đồng của tác giả Hà Ngại viết ra không nhằm mục đích “ nói xấu “ ông Diệm gì cả…Ông nói sự thật trong quan trường Hậu Bổ mà thôi.
Nếu tại Saigon hay tại Hà Nội với văn bằng “ Diplome Complementaire “ chỉ Ngô Đình Diệm chì làm chức “ thư ký phù động mà thôi “ ( phù động nghĩa là làm ngày nào ăn lương ngày đó. Còn chánh ngạc thì ăn lương tháng , có nghĩ lễ và nghĩ hè vacation đàng hoàng ).
Còn tại Huế thì quyền lực của triều đình Huế vẩn còn ít nhiều uy lực.
Như vụ án Trần Cao Vân. Pháp bắt được , dĩ nhiên kết án Tử Hình rồi , nhưng triều đình Huế muốn nịnh Pháp và dằn mặt những nhà ái quốc VN…nên triều đình Huế ra án “ Yêu Trãm “ ( nghĩa là chém ngang lưng….nạn nhân la thãm thiết chừng 5 phút mới chết , ruột gan bung ra ướt đẩm sân tử hình…còn chặt đầu thì nạn nhân chết liền tại lúc đó )
Sau đây một bài viết rất trung thực và lịch sử nói về tư cách Ngô Đình Diệm ( theo sách vở rành rành mới được ):
“ Tiết trực Tâm Hư “ là câu tiên đoán dịnh mệnh vô cùng thãm khốc cho toàn thể bộ tộc Ngô Đình tỉnh Quảng Bình tại Huế .
Tiết trực = Máu phut thẳng lên cao
Tâm Hư = Trái Tim bị dâm thủng.
Cho nên TT Ngô Đình Diệm bị bắn vào tim , trái tim banh nổ ra …cần cổ máu phụt thẳng lên nóc xe.
Ông Diệm sự học vấn của Ông rất kém.
Trong quyển Hồi Ký của cụ Hà Ngại “ Khúc Tiêu Đồng “ in ấn tại Tp HCM vừa qua…Cụ Hà Ngại học cùng trường Hậu Bổ với Ông Diệm, thi ra trường cùng ngày, cùng Giám Khảo và rớt 2 câu hỏi của Giám Khảo như vậy.
Nhưng vì Ông Diệm có thế thần là Thượng Thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài ( nắm trọn quyền hành triều đình Huế và Công Sứ Pháp ) nên Ông Diệm được bổ nhiệm làm quan lớn lập tức , còn cụ Hà Ngại thì phài chờ khá lâu , và được bổ nhiệm nơi quận lỵ nhỏ.
Cụ Hà Ngại nói trong quyển sách Hồi Ký “ Khúc Tiêu Đồng “ là Ông Diệm không có học vị ( chỉ có bằng Sơ Học Yếu Lược ) lại cũng không có văn bằng Hán học chi cả…( Nên xem lại quyển Hồi Ký của cụ Hà Ngại thì rỏ )
Cho nên Ông Diệm khi phản chúa cầu vinh…thì Ông trở thành một nhà lảnh đạo đầy lương mẹo…
Người ta lầm chết với gương mặt nhân từ , chớ ít ai lầm với những gương mặt hung dử hay đầy vết thẹo trên mặt.
Bởi vậy đau thương cho dân Miền Nam khi lầm với gương mặt đầy vẽ nhân từ của Ông Diệm.
Hiện nay sách ra gần chục nghìn cuốn ca tụng Ông Diệm sau khi toàn bộ tộc Ngô Đình tỉnh Quảng Bình bị tận diệt tại VN…thì hàng chục nghìn quyển ấy đếu ca ngợi ông Diệm còn hơn thánh sống .
Họ không bao giờ nhắc đến câu của nhóm Ông Diệm ca vang sau khi TổngTuyển Cử Truất Phế Quốc trưởng Bảo Đại , rời tự động lên ghế là Tổng thống VNCH I .
Người ít học mà bày đặt “ chơi chữ “ như nhà Nho Cử Nhân Tiến Sỉ vậy…
Tiết Trực Tâm Hư đâu có câu khốn nạn như sau :
” Nghe vẽ nghe ve , nghe vè Bảo Đại
Là quân ăn hại , theo gót thực dân giết hại đồng bào “
Ăn cháo đá bát , khi bà Hoàng Hậu Nam Phương từ trần tại tỉnh lỵ nhỏ Pháp…Bà Nam Phương di chúc được chôn xác tại Gò Công Nam Việt Nam . Cho nên người ta mới khâu liệm Bà trong 2 lớp áo quan , lớp trong bọc kẽm hàn kín , lớp ngoài bằng gổ…
Vì nếu không bọc kẽm thì thân xác sẽ mụt rữa ra , nên người ta bọc kẽm kín, hy vọng về Việt Nam thì khui ra ( vã lại chuyên chở quan tài bằng phi cơ 4 chong chóng ( thời đó chưa có phi cơ 4 máy phản lực như bây giờ. Phi cơ từ Pháp là Air France bay sang New Dehli Ấn Độ nghĩ 1 đêm rồi bay về Tân Sơn Nhứt Saigon. Thời nay bay từ Los Angeles đến Hongkong , đỗi chuyến phi cơ bay về Tp HCM rất nhanh hơn xưa. Luật lệ chở quan tài trên phi cơ là phải bọc kẽm trong quan tài…Cho nên người nhà của Bà Nam Phương bọc kẽm quan tài…không dè Bà gặp phường ăn cháo đá bát…không cho thi hài Bà chôn tại miền đất quê ngoại của Bà.
Đúng luật Quả báo Luân Hồi…thì thi thể anh em Ông Diệm phải gởi về Vatican cho nằm chùng với mấy vị Thánh Vatican dưới hầm mộ thánh đường Saint Peter Vatican Roma….bằng không nên chôn anh em Ông Diệm ở đão Hoàng Sa để linh hồn anh em ông Diệm canh giữ biền Đông dùm đất nước …

****

Bạn muốn hiểu nhanh về sự quả báo của dòng họ Ngô thì xin bạn click vào trang website như sau : http://thuvienhoasen.org/a16515/14-ba-nhu-va-luan-hoi-qua-bao-khhb….thì rỏ chi tiết hơn .

*
“http://.tripod.com/NgoDinhCan.html “

 

CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM

MỘT VIÊN NGỌC QUÝ TRONG KHO TÀNG TƯ TƯỞNG,
MỘT ĐÓNG GÓP LỚN VỀ SOI SÁNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN

GS Tôn Thất Thiện

I
Từ lúc tôi bắt đầu suy tư về tình trạng Việt Nam, vào những năm cuối giai đoạn Trung Học, 1942-1944, rồi qua những năm học hỏi, sưu tầm, giảng dạy ở Đai Học, từ năm 1947 cho đến nay, 2009, đã 85 tuổi, hưu trí được liệt vào hạng bố lão, tôi không ngớt suy tư, sưu tầm, nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề canh tân, cải tiến Việt Nam để đưa dân tộc ra khỏi tình trạng chậm tiến, khổ cực được dàn ra hàng ngày trước mặt mọi người.

Danh từ “canh tân” rất thông dụng trong thời Nho Học còn thịnh, nay được thay thế bằng những danh từ mới như: “phát triển”, “hiện đại hóa”….Sự thay đổi danh từ không làm thay đổi vấn đề căn bản của rất nhiều nước Á, Phi, Nam Mỹ Châu, trong đó có Việt Nam, là những nước ở tình trạng chậm tiến.

“Chậm tiến” là dẫm chân, thua xa về đời sống yên ổn, sung túc so với dân các nước Tây Phương, và so với tình trạng khoa học kỹ thuật của nhân loại trong giai đoạn hiện đại. Cho nên “canh tân” cũng có nghĩa là “Tây phương hóa” và “hiện đại hóa”.

Tôi đã được học hỏi ở những Đại Học có tiếng là đứng hàng đầu thế giới về các môn Chính Trị, Kinh Tế, Xã Hội Học, tôi đã đọc rất nhiều sách, báo, về vấn đề phát triển, tôi đã dành rất nhiều thì giờ quan sát, suy tư về vấn đề, và cũng đạt được một số nhận xét có thể coi là chính xác, nhưng tôi không mãn nguyện, trí tôi vẫn không yên, vì tôi chưa thấy thật rõ ràng và toàn bộ giải pháp dẫn đến sự phát triển mà tôi mong muốn. Điều này cũng có nghĩa là tôi chưa tìm ra được một cách tiếp cận hiệu nghiệm để thấy con đường đó. Mãi đến năm 2004 tôi mới được cái may mắn này.

Năm 2004 là năm tôi được nghe nói đến, rồi được đọc, tác phẩm Chính Đề Việt Nam.

Trong trường hợp nào tôi đã được cái may mắn đó, tôi đã kể lại trong Đặc San về Lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đình Diêm năm 2004. Trong bài này tôi sẽ nhắm vào những điểm sau đây:
1.- Nói lên phản ứng của tôi sau khi đọc hết tác phẩm này, trong tư thế là một học giả đã để nhiều thì giờ, nhiều công và tâm trí vào việc tìm hiểu vấn đề.
2.- Bàn về một số khía cạnh nhưng không phân tách, nhận xét về toàn bộ của tác phẩm, môt điều vượt khung cảnh của bài, thay vào đó, phần Phụ Bản đăng nguyên văn chương đầu “Bối cảnh của vấn đề” và chương cuối “Kết luận: Trụ mà không trụ” để giúp các độc giả không có đủ thì giờ, hoặc không quen với lối hành văn lập luận trừu tượng, hoặc không có được tác phẩm trong tay, để đọc toàn bộ tác phẩm, ít nhứt có một ý niệm khá rõ ràng về những khía cạnh của vấn đề được các tác giả bàn đến, và tóm tắt, họ chủ trương gì ?

II
Đọc xong Chính Đề Việt Nam, tôi thấy ngay tầm quan trọng của tác phẩm và tôi đã đề xướng tái bản nó. Nhưng, lúc đó, vấn đề gặp một số trở ngại về danh tánh của tác giả. Trong phần “Phụ Giải về tái bản Chính Đề Việt Nam” trong Đặc San năm 2007, tôi có nói rằng ai là tác giả của tác phẩm cũng không quan trọng. Điều quan trọng là phổ biến rộng rãi một công trình đóng góp rất lớn của những người lãnh đạo Cộng Hòa Việt Nam Đệ I vào sự soi sáng vấn đề phát triển Việt Nam, để những ai cứu xét vấn đề có thêm dữ kiện để suy ngẫm. May thay, nay những trở ngại đó không còn nữa và tác phẩm đã được tái bản (dưới hình thức một tài liệu học tập nội bộ của những người thuộc Đệ Nhất Cộng Hòa, đúng như tác dụng nguyên thủy của nó).

Ở đây, tôi xin mở một dấu ngoặc để đính chính một điểm: trong “Phụ Giải” tôi đã nói lầm rằng Ông Lê Văn Đồng đã là Bộ Trưởng Bộ Canh Nông năm 1957 thật ra, Ông là Đổng Lý Văn Phòng Bộ Lao Động, mà Bộ Trưởng là Ông Huỳnh Hữu Nghĩa. Hai ông này đều thuộc nhóm thân hữu của ông Ngô Đình Nhu. Nhân tiện cũng để ghi nhận rằng theo “Lời Trần Tình” trong tái bản, tài liệu xuất bản năm 1964 ở Việt Nam được tái bản tại Hoa Kỳ năm 1988 “do một nhóm thân hữu đã cùng sát cánh bên nhau trong nhiều năm, trong ấy phải kể các ông Cao Xuân Vỹ, Lê Văn Đồng, Phan Xứng, Đỗ La Lam, và một số thân hữu khác”, và “dù gặp muôn vàn khó khăn, nhóm chủ trương quyết định ấn hành tài liệu này nhằm khởi động sức phấn đấu của dân tộc trong giai đoạn cấp bách hiện nay”. Và để nói rõ và lớn lên một điều rất đúng đã được dân chúng Miền Nam truyền miệng rộng rãi vào khoảng năm 2007: (trong khi “Xã Hội Chủ Nghĩa” đã chết nhưng chưa chôn) thì “Việt Nam Cộng Hòa đã chôn nhưng chưa chết”….

Đúng vậy.

Với sự phổ biến rộng rãi của tác phẩm Chính Đề Việt Nam, những tư tưởng, suy luận trong đó, và nhứt là phương pháp tiếp cận đưa đến những giải pháp rất hay được trình bày trong đó, uy tín của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa và sự đóng góp của những nhà lãnh đạo của chế độ sẽ được công nhận. Đối với các nhà lãnh đạo chính trị và những nhà nghiên cứu về vấn đề chậm tiến của các quốc gia thuộc vế khối gọi là “Đệ Tam Thế Giới”, tác phẩm này sẽ được coi như là một tác phẩm hết sức độc đáo, một đóng góp lớn, một viên ngọc quý trong kho tàng tư tưởng của nhân loại. Ở đây tưởng nên nhắc đến những người đóng góp lớn nhứt vào công trình này.

“Lời Trần Tình” trong tái bản của tác phẩm tiết lộ:
“Tập tài liệu bạn có trong tay là kết tụ những nghiên cứu và phân tích dựa trên kinh nghiệm lịch sử của Cố Vấn Ngô Đình Nhu cùng một số Phụ Tá thân cận nhằm giúp những Cán Bộ Quốc Gia nắm vững con đường phát triển dân tộc…”Một phần những đề tài này đã được thảo luận trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa,…nhất là công cuộc xây dựng tầng lớp lãnh đạo có đủ khả năng gánh vác trọng trách trong giai đọan mới cần nhiều thời gian chuẩn bị, nên lược đồ xây dựng cho tương lai dân tộc bị gián đoạn từ đó…một số chiến hữu trung kiên đã cho in tập tài liệu này, nhưng tình hình chính trị bất ổn, và chính quyền quân sự lúc đó đang bị nhiều áp lực từ nhiều phía, vì vậy tập tài liệu quí hiếm này bị coi là di sản của “chế độ cũ” nên “bị chôn vùi và quên lãng.”

Nhưng tác phẩm Chính Đề Việt Nam đã không bị quên lãng. Nó xuất hiện lại, và sự xuất hiện ấy là một nhắc nhở rằng Chế Độ Việt Nam Cộng Hòa, qua thời gian, tuy đã bị chôn vùi, nhưng vẫn chưa chết. Ngày nay nó lại tỏ ra vẫn còn sống mạnh và được hãnh diện thấy những cống hiến lớn của nó cho xứ sở được càng ngày càng nhiều người ghi nhận và thẳng thắn công nhận. Trong đó, sự đóng góp về cách tiếp cận và đề xướng một giải pháp thích nghi và hữu hiệu vào vấn đề phát triển các quốc gia chậm tiến là một biểu chứng cụ thể.

III
Sau khi đọc xong Chính Đề Việt Nam, phản ứng đầu tiên của tôi là: “Trời! Sao mình không được biết đến tài liệu này sớm hơn! Tất cả những gì mình tìm kiếm đều có trong đó. Mình đã mất gần 50 năm (1960-2007) tìm kiếm những gì mà đã có người Việt Nam đã viết lên rồi”. Và chắc chắn đây cũng là trường hợp của rất nhiều người Việt Nam khác. Nói chung, Việt Nam đã mất đi 50 năm quý báu. Một phần không nhỏ vì những cuộc xáo trộn năm 1963 và những năm tiếp theo. Những tư tưởng chứa đựng trong Chính Đề Việt Nam chưa được phổ biến và áp dụng thì chế độ Cộng Hòa Đệ I bị lật đổ, với những hậu quả rất tai hại cho sự phát triển của Dân Tộc Việt Nam.

Trong tư cách là một học giả chuyên nghiên cứu về vấn đề phát triển các quốc gia châm tiến, tôi không ngần ngại quả quyết rằng Chính Đề Việt Nam là tài liệu xuất sắc nhứt mà tôi đã được đọc trong suốt thời gian gần 70 năm qua. Không những nó sẽ giúp cho những người liên hệ với vấn đề phát triển các quốc gia chậm tiến thấy rõ tại sao các chương trình kế hoạch viện trợ các quốc gia này đã thất bại, mà còn cung cấp cho họ một lối tiếp cận có nhiều triển vọng thành công hơn. Riêng về Việt Nam, nó là tài liệu đầu tiên mà tôi được biết đến chỉ rõ con đường dẫn Việt Nam ra khỏi tình trạng bi đát của hơn 100 năm qua. Tác phẩm đã đặt đúng vấn đề và đã soi chiếu ánh sáng vào những yếu tố then chốt và riêng biệt của các quốc gia chậm tiến, và phân tách tường tận những yếu tố đó. Phần khác, tác phẩm cũng khảo xét tình trạng các quốc gia lớn đã thực nghiệm những chương trình phát triển, như Nga, Nhật, Trung Hoa, Ấn Độ, hoặc những quốc gia tương tự Việt Nam, và đưa ra những nhận xét rất hữu ích cho người Việt. Riêng về Nga, Trung Hoa, và Việt Nam những kết luận của Tùng Phong đưa ra lúc soạn tài liệu này, vào khoảng những năm 1957-1960, ngày nay, 2009, có thể nói là tiên tri.

Những điều trên đây, từ điểm quan sát 2009 nhìn lui, tôi thấy rõ, vì đó là những điều tôi đã được nghe, đọc, thấy, suy ngẫm, từ những năm 1949-1952, lúc tôi học ở Trường L.S.E. (London School of Economics). Trường này được coi là lớn hạng nhất của Liên Hiệp Anh (Commonwealth). Tuy mang tên ngắn gọn là L.S.E., nhưng tên đúng của nó là “London School of Economics and Political Science”. Thực ra, nó được coi là một trường chuyên về Xã Hội Học. Dù sao Kinh Tế/Economics cũng là môn chính trong chương trình giảng dạy của nó. Do đó nó chú tâm về môn “Economic Development” (Phát triển Kinh Tế) là một điều tự nhiên. Sự chú tâm này phản ảnh những lo âu của các giới chính trị kinh tế Tây phương trong những năm đầu sau Chiến Tranh Thế Giới II, phải đương đầu với vấn đề tái thiết và lập lại ổn định, và với những đòi hỏi cải thiện gấp rút đời sống của các quốc gia Á, Phi, Nam Mỹ. Thêm vào đó lại khởi phát một cuộc tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Nga Sô trong một chiến tranh lạnh bao trùm thế giới.

Hậu quả của những chuyển biến trên đây là thế giới cần một sự phát triển kinh tế quy mô và nhanh chóng. Lúc đó, chỉ Hoa Kỳ có khả năng trợ giúp các quốc gia khác đồng minh đương nhiên vì đồng chế độ, hoặc thuộc khối “không liên kết” cần lôi kéo về phía mình vì Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất không bi tàn phá, kinh tế phát triển vượt bực để phục vụ nhu cầu không những của mình, mà của toàn thể khối Đồng Minh. Phần khác, Hoa Kỳ cũng cần duy trì sản xuất kinh tế để tránh những xáo trộn do một cuộc giảm sút kinh tế lớn gây ra.

Vì những lý do nêu trên, các Đại Học, các học giả trứ danh về kinh tế học, các chuyên gia kinh tế, các giới kinh tế-tài chánh, các giới truyền thông, chính trị gia, nhất là ở Hoa Kỳ, đổ xô vào việc nghiên cứu, bàn luận, đề xuất lý thuyết về phát triển. Các Chính Phủ Hoa Kỳ đưa ra những chương trình ngoại viện lớn, các kế hoạch này được Quốc Hội thông qua dễ dàng và được dân chúng ủng hộ rộng rãi.

Có hai loại ngoại viện:
1.- Viện trợ các quốc gia đồng minh cũ, thuộc Tây Âu.
2.- Các quốc gia chậm tiến, hoặc thuộc ảnh hưởng Hoa Kỳ, hoặc “không liên kết”. Loại đầu là Chương Trình Marshall, loại thứ hai là “Point IV” Điểm thứ tư, được gọi như vậy vì đó là điểm thứ tư trong môt bài diễn văn lớn của Tổng Thống Truman năm 1947 tuyên bố quyết tâm Hoa Kỳ trợ giúp các quốc gia chậm tiến.

Chương trình Marshall không quan hệ gì đến các nước chậm tiến vì nó nhằm trợ giúp các quốc gia Tây Âu tái thiết, không thuộc về lãnh vực phát triển, nên không bàn đến ở đây. Chương trình “Point IV” Điểm thứ 4, trái lại, không những nói lên quyết tâm Hoa Kỳ trợ giúp các quốc gia chậm tiến phát triển, cung cấp phương tiện dồi dào, mà vạch ra cả một lý thuyết, và các phương thức thực hành cuộc phát triển này.

Những điều chứa đựng trong “Point IV” Điểm IV của Tổng Thống Truman này là thâu tóm quan điểm của những tư tưởng gia Hoa Kỳ về vấn đề phát triển. Theo quan niệm này, lý do chính của sự chậm tiến của các quốc gia chậm tiến là họ thiếu vốn và “know how” (kỹ thuật). Nếu các quốc gia này được cung cấp dồi dào cho không, hay cho vay nhẹ lãi vốn, và kỹ thuật qua các chương trình cung cấp chuyên viên, huấn luyện người bản xứ tại chỗ hay trong các Trường Đại Học Hoa Kỳ thì trong một thời gian ngắn, họ sẽ phát triển, trở nên giàu có, không bị cộng sản quyến dỗ nữa. Qua thực nghiệm sau mấy chục năm áp dụng, nó tỏ ra không hiệu nghiệm, không đạt được mục đích. Vì sai lầm.

Trước hết là về thực chất của vấn đề. Như Tùng Phong nhấn mạnh và nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, muốn giải quyết một vấn đề, phải thấu triệt vấn đề đó. Vấn đề Việt Nam là một vấn đề liên quan đến cộng đồng và lãnh đạo Việt Nam: “…các biến cố xảy ra ở Việt Nam từ hơn hai mươi năm nay [1940-1960] là một ví dụ cụ thể minh xác tính cách thiết yếu của sự hiểu biết vấn đề cộng đồng cần phải giải quyết đối với đa số lãnh đạo….”

“Đối tượng của quyển sách nầy là tìm xem vấn đề cần phải giải quyết của cộng-đồng Quốc-Gia Việt Nam trong thời kỳ nầy là vấn đề gì “ (Chính Đề Việt Nam, trang 42). Và tác giả đã giải thích tường tận, chi tiết, vấn đề sống còn của Việt Nam, trong hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam, là phát triển để thoát khỏi tình trạng thua kém về khoa học kỹ thuật bằng một cuộc Tây phương hóa, “không e dè, không rụt rè, không ngần ngại” (Chính Đề Việt Nam, trang 76). Cuộc Tây phương hóa đó là “một cuộc Tây phương hóa tự ý muốn, do đó, có đường hướng và có mục đích”. Nó cũng phải là một cuộc Tây phương hóa toàn diện… nghĩa là trên lĩnh vực quân sự, chính trị, xã hội, và theo đó kinh tế và văn hóa” (Chính Đề Việt Nam, trang144)

Về mục đích của công cuộc Tây phương hóa, Tùng Phong viết:
“Chúng ta sẽ chủ động cuộc Tây phương hóa nầy và sẽ đưa nó đến một mức độ đủ cao để xã hội chúng ta tìm được những tiêu chuẩn giá trị mới khả dĩ tạo cho nó một trạng thái điều hòa mới”. (Chính Đề Việt Nam, trang 137) Câu ngắn ngủi này chứa đựng những ý niệm căn bản rất độc đáo của tác phẩm. Các ý niệm này sẽ được bàn đến trong phần dưới đây: “Tây phương hóa, “chủ động”, “mức độ cao”, “tiêu chuẩn giá trị mới”, “trạng thái điều hòa”…Cần nhấn mạnh rằng tác phẩm đề cập đến nhiều ý niệm độc đáo khác, nhưng không thể bàn trong bài này vì quá nhiều.

Vấn đề cần được đặt trong bối cảnh riêng biệt của nó. Việt Nam có ba bối cảnh:
1.- Tình hình chính trị thế giới.
2.- Các nước trong thế giới đang ứng phó với một thử thách tương tự.
3.- Các Quốc Gia thuộc về một khối văn hóa với Việt Nam: Các nước láng giềng ở Đông Á và Đông Nam Á (Chính Đề Việt Nam, trang 43).

Cuối cùng là phương thức nghiên cứu. Về điểm này, tính chất vô tư và khoa học của công trình nghiên cứu cần được bảo đảm, nên tác giả Tùng Phong đã cương quyết chọn vị trí lịch sử, vì “thực tế lịch sử không có thể phủ nhận được. Và trên nền tảng vững chắc đó mới có thể lấy óc khoa học mà suy luận không sợ phạm vào những lỗi lầm căn bản”. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng không bao giờ tác giả đứng vào các vị trí triết lý, tôn giáo, và lý thuyết vì “đó là những lĩnh vực mà sự đối chọi giữa hai chủ trương trái ngược có thể kéo dài vô cùng tận”. Bất cứ trong lãnh vực nào (chính trị, văn hóa và kinh tế) “sự nhận xét phân tách và suy luận của tác giả đều căn cứ trên những sự kiện lịch sử và để một bên các lý thuyết…để tránh tất cả những sự biện luận không thiết thực và do đó không thích hợp với mục đích của quyển sách” (Chính Đề Việt Nam, trang 45-46).

IV
Cách tiếp cận nêu trên cần thiết để bảo đảm sự lựa chọn những giải pháp thích nghi cho việc thực hiện những mục đích mong muốn. Những mục đích này minh định do vị trí của Việt Nam trong thế giới ngày nay, vừa trong lãnh vực địa dư, vừa trong lãnh vực tiến hóa chung của nhân loại. Cùng với những điều kiện nội bộ riêng cho Việt Nam, các điểm này chi phối mọi đường lối chính trị của chúng ta “ít lắm là vài thế kỷ” (Chính Đề Việt Nam, trang 68).

Những mục đích tùy thuộc vị trí quốc tế hiện tại của Việt Nam do các điểm sau đây minh định:
1.- Việt Nam là một nước nhỏ kém mở mang.
2.- Theo truyền thống văn hóa, Việt Nam thuộc vào xã hội Đông Á.
3.- Việt Nam thuộc vào khối các nước Á Châu vừa thoát khỏi ách thực dân Đế quốc.
4.- Việt Nam phải cần Tây phương hóa như tất cả các nước không thuộc khối Tây phương để:
a.- Tồn tại, bảo vệ độc lập.
b.- Phát triển đời sống kinh tế hầu xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. (Chính Đề Việt Nam, trang 68)

Trong nhãn quan của Tùng Phong, trong hai mục đích này, “Độc lập không phải là mục đích chính”. Phải độc lập vì độc lập là “điều kiện tiên quyết và thiết yếu khẩn thiết để thực hiện cho được cuộc Tây phương hóa…Có độc lập, chúng ta mới chủ động được vận mạng của chúng ta và lãnh đạo được cuộc Tây phương hóa mà sự thành hay bại quyết định tương lai của chúng ta trong mấy thế kỷ sắp tới đây” (Chính Đề Việt Nam, trang. 158).

Vấn đề chính của Dân Tộc Việt Nam là vấn đề phát triển, và cuộc phát triển đó thực hiện qua một cuộc Tây phương hóa. Sự thành bại của cuộc Tây phương hóa này quyết định tương lai của Việt Nam, không những gần, mà trong mấy thế kỷ sắp đến. Cho nên vấn đề được bàn đến trong Chính Đề Việt Nam là vấn đề phát triển Tây phương hóa. Vấn đề độc lâp được bàn đến, và rất chi tiết, như là một vấn đề dính liền với nguy cơ tái lệ thuộc Trung Hoa nếu Việt Nam chọn con đường cộng sản trong công cuộc phát triển.

Theo Tùng Phong “công cuộc phát triển Dân Tộc bằng cách Tây phương hóa là một công cuộc liên hệ đến sự sống còn của Dân Tộc…một sự kiện lịch sử dĩ nhiên, không thể tránh được, và ngoài công cuộc phát triển ấy ra, Dân Tộc chúng ta không còn một lối thoát thứ hai” (Chính Đề Việt Nam, trang 134-35).

Kháí niệm “Tây phương hóa” là khái niệm then chốt của tác phẩm này nên chúng ta cần minh định nghĩa của danh từ và nội dung của khái niệm để tránh ngộ nhận. Danh từ “Tây phương hóa”, “Westernization” (theo Anh văn), hay “Occidentalisation” (theo Pháp văn) là một danh từ thông dụng trong giới học giả và báo chí Tây phương trong những năm trước 1950. Nhưng các giới chính trị, trí thức Á Đông, đặc biệt là Ấn Độ và Trung Hoa, chống việc sử dụng danh từ này vì họ cho rằng nếu Á Đông thua kém Tây phương về kỹ thuật khoa học họ lại hơn Tây phương về phương diện triết lý, tinh thần, và nếu họ muốn kỹ nghệ hóa họ không muốn mang luôn văn hóa Tây phương. Do đó, một danh từ khác, trung lập hơn, được dùng. Đó là “hiện đại hóa”. Cho nên, trong bài này, “Tây phương hóa” nên hiểu là “hiện đại hóa”. Thật ra, danh từ này rất sát nghĩa khái niệm “Tây phương hóa” của Tùng Phong.

“Tây phương hóa”, theo Tùng Phong, là thế nào ?

“Tây phương hóa là việc thâu nhận các kỹ thuật, lối suy luận và nhiều tập quán của Âu-Mỹ, không làm cho chúng ta mất được bản chất của Dân Tộc…Bản Chất Dân Tộc chúng ta sẽ bộc lộ ra trong các sáng tạo của chúng ta, và phương pháp sáng tạo của chúng ta, khi nào chúng ta đã chủ động được các phương tiện và phương pháp sáng tạo Tây phương. Và đây là mục đích chính của công cuộc Tây phương hóa mà chúng ta đang theo đuổi…chúng ta cần phải dốc hết nỗ lực vào công cuộc ấy, không e dè, không rụt rè, không ngần ngại” (Chính Đề Việt Nam, trang76).

Hai điểm then chốt trong ý niệm trên là ta phải chủ động công cuộc Tây phương hóa, và phải đi đến mức sáng tạo. Cuộc Tây phương hóa này phải là một cuộc Tây phương hóa tự ý, không ép buộc, vì “nếu chúng ta không tự ý Tây phương hóa, thì trước hết ta sẽ mất chủ quyền định đoạt vận mạng của Dân Tộc chúng ta. Sau đó cuộc Tây phương hóa vẫn sẽ thực hiện đối với chúng ta, nhưng không phải chúng ta lãnh đạo và hướng dẫn. Một cuộc Tây phương hóa không được hướng dẫn sẽ mang đến sự tan rã của xã hội chúng ta…Như vậy, giữa hai thái độ tự ý Tây phương hóa và bắt buộc Tây phương hóa thế nào cũng phải lựa chọn thái độ tự ý Tây phương hóa” (Chính Đề Việt Nam, trang 166).

Điểm thứ hai, đi đến mức sáng tạo, một mức cao, cũng là một đặc điểm của cuộc Tây phương hóa mà Tùng Phong chủ trương. Theo ông, “công cuộc Tây phương hóa chỉ hữu hiệu khi nào thực hiện đúng đến mức độ cao” (Chính Đề Việt Nam, trang 153).

Thế nào là “mức độ cao ?” Ông ta giải thích:
“Tây phương hóa đến mức độ cao có nghĩa là Tây phương hóa đến khi nào chúng ta chế ngự được khả năng sáng tạo khoa học của Tây phương. Cho đến khi nào chưa ra khỏi giai đoạn hấp thụ khoa học và kỹ thuật Tây phương, thì chúng ta vẫn chưa thoát lên đến mức độ cao. Chỉ khi nào chúng ta sử dụng được, chẳng những là khoa học và kỹ thuật Tây phương, mà lại còn cả phương tiện sáng tạo khoa học và kỹ thuật, thì chúng ta mới đạt đến mức độ đủ cao trong công cuôc Tây phương hóa…Chỉ khi nào các chuyên viên của chúng ta, sau khi hấp thụ được các kỹ thuật và khoa học của ngành mình, lại ý thức rõ rệt rằng chỉ vừa bước đi qua một giai đoạn sơ khởi, và còn cần nỗ lực để đạt đến chỗ chế ngự được khả năng sáng tạo trong ngành của mình, thì lúc bấy giờ cuộc Tây phương hóa của chúng ta mới đi đúng đường và có hy vọng thành công” (Chính Đề Việt Nam, trang 172)

“Chế ngự khả năng sáng tạo” là một ý niệm trừu tượng, tế nhị, có thể gây hiểu lầm rằng “Tây phương hóa” đồng nghĩa với làm mất “bản sắc Dân Tộc”. Chúng ta sẽ bàn về vấn đề này ở đoạn sau. Ở đây cần nhấn mạnh rằng Tùng Phong rất ý thức điều này, nên ông ta đã đưa ra những giải thích rất chi tiết và rõ ràng. Ông viết:
“Một cuộc Tây phương hóa, đến mức độ cao, chỉ thực hiện được khi nào sự hấp thụ kỹ thuật Tây phương được thành tựu đến mức độ người hấp thụ chế ngự kỹ thuật đó, để đến phiên mình sáng tạo. Và muốn chế ngự được kỹ thuật đó, trước tiên phải thấu triệt được những nguyên lý của khả năng sáng tạo và luyện được cách sử dụng khả năng đó” (Chính Đề Việt Nam, trang. 463-464).

Có một quan niệm thông thường cho rằng Tây phương mạnh nhờ khoa học của họ, và nếu chúng ta học được khoa học của họ thì chúng ta cũng mạnh như họ. Nhưng, thật ra, nếu chúng ta học được khoa học của Tây phương thì chúng ta cũng chưa mạnh bằng Tây phương. Bởi vì: “khoa học cũng như tất cả các sáng tạo của Tây phương là những hiện tượng nhìn thấy được của kỹ thuật Tây phương, chớ chưa phải là kỹ thuật của Tây phương. Các sáng tạo kỹ thuật là sóng, nhưng chính kỹ thuật mới là gió.

“Kỹ thuật Tây phương đẻ ra khoa học, chớ không phải khoa học đẻ ra kỹ thuật. Như vậy thì sự thâu thập khoa học chưa đủ để giúp cho người thâu thập chế ngự được kỹ thuật Tây phương”. (Chính Đề Việt Nam, trang 463-464)

Vậy nguyên do của khả năng sáng tạo của kỹ thuật Tây phương là cái gì ?

Tùng Phong cho rằng câu hỏi này “vô cùng quan trọng cho công cuộc Tây phương hóa”. Có trả lời được, chúng ta mới thỏa mãn được một điều kiện của công cuộc Tây phương hóa đến mức đô đủ cao. Điều kiện thứ hai là thực hiện được những điểm mà câu hỏi sẽ nêu lên: (Chính Đề Việt Nam, trang 463-464)

Và giải đáp mà Tùng Phong đưa ra là một giải đáp có thể nói là độc đáo, mới, mà riêng tôi, xin thú thực là chưa hề được nghe nói đến: Kỹ thuật Tây phương hùng mạnh nhờ hai đức tính, xin nhấn mạnh đức tính, vô cùng quý báu:

1.- Chính xác về lý trí.
2.- Ngăn nắp và minh bạch trong tổ chức.

Tùng Phong nhấn mạnh rằng hai đức tính này là hai đức tính của văn minh cổ Hy Lạp và La Mã. Nó là nguồn sinh lực của kỹ thuật Tây phương. Nó có trước mọi phát minh khoa học và đã phát sinh ra khoa học. Và nó phải có nếu ta muốn đạt đến mức độ sáng tạo như Tây phương. Một sự thu thập khoa học Tây phương dù có mười phần kết quả cũng vẫn chưa giúp cho ta chế ngự được kỹ thuật Tây phương.
“Một công cuộc Tây phương hóa chỉ chú trọng vào sự thu thập khoa học Tây phương sẽ mãi mãi là một cuộc Tây phương hóa không đúng mức, và cộng đồng nào chỉ nhắm vào mục đích thu thập khoa học Tây phương thì, mãi mãi, sẽ lệ thuộc vào các sáng tạo kỹ thuật của Tây phương, và không khi nào lên đến mức độ sáng tạo như Tây phương”. (Chính Đề Việt Nam, trang 468).

Vấn đề đã trở nên rất rõ: Nếu chúng ta muốn chế ngự được kỹ thuật Tây phương chúng ta phải rèn luyện để có được hai đức tính:
1.- Chính xác về lý trí.
2.- Ngăn nắp và minh bạch trong tổ chức.

Muốn rèn luyện hai đức tính trên đây, “chúng ta phải chỉnh đốn đời sống hằng ngày cho ngăn nắp và minh bạch, và ngôn ngữ của chúng ta cũng phải được chỉnh đốn cho ngăn nắp và minh bạch…đời sống hằng ngày của chúng ta, và ngôn ngữ hằng ngày của chúng ta sẽ trở thành những dụng cụ sắc bén để giúp cho chúng ta rèn luyện chính xác về lý trí và ngăn nắp và minh bạch trong tổ chức. Và ngôn ngữ đã chỉnh đốn lại trở thành một khí cụ suy luận để chúng ta soi thấu vũ trụ vật chất và vũ trụ tinh thần” (Chính Đề Việt Nam, trang 468).
Về vấn đề Tây phương hóa có làm mất bản sắc Dân Tộc, “mất quốc hồn quốc túy” hay không, Tùng Phong nói:

“Các Dân Tộc Tây phương đều sử dụng một kỹ thuật và tôn sùng một khoa học như nhau. Tất cả đều có một lối suy luận lấy sự chính xác của lý trí làm nền tảng. Và tất cả đều sống trong một khuôn khổ minh chiết như nhau sự sinh sống và ăn mặc đều như nhau thế mà họ vẫn khác nhau trong sáng tác. Như vậy là bản chất Dân Tộc họ vẫn giữ…Biết như thế rồi chúng ta mới thấy tánh cách vô ích của sự nơm nớp lo sợ mất quốc hồn và quốc túy…” (Chính Đề Việt Nam, trang 76)

Phần khác, “… nếu thực sự một cuộc Tây phương hóa tự ý và có lãnh đạo không làm tan rã xã hội lại có thể làm mất bản chất Dân Tộc, thì chúng ta có thể quả quyết rằng một cuộc Tây phương hóa bắt buôc và không hướng dẫn, [không làm] tan rã xã hội, chắc chắn sẽ làm mất mười lần hơn bản chất Dân Tộc của chúng ta.” (Chính Đề Việt Nam, trang 166)

V
Trong những trang trên đây, ta thấy tác giả đề cập rất nhiều đến những danh từ như: “xã hội”, “nỗ lực”, “rèn luyện”, “chế ngự”, “chỉnh đốn”, “đức tính”, “lý trí”, “suy luận”…Đây là những danh từ mang ý niệm trừu tượng thuộc về lãnh vực văn hóa. Điều này nói lên sự khác biệt căn bản của lối tiếp cận vấn đề của Tùng Phong với lối tiếp cận kinh tế, thống kê, chính trị của những học giả, chuyên gia chủ trương Point IV-Điểm 4 về vấn đề phát triển. Lối tiếp cận của Tùng Phong là một lối tiếp cận chú tâm vào các khía cạnh xã hội và tâm lý, nghĩa là văn hóa. Đây là một lối tiếp cận đòi hỏi môt sự thấu triệt hoàn cảnh và tâm lý của dân tộc muốn phát triển, một điều rất khó khăn và đòi hỏi nơi người nghiên cứu, cũng như nơi người thực hành, những kiến thức rất sâu rộng, và một khả năng dùng linh tính mà tâm lý học gọi là “introspection”, một khả năng mà người ngoại quốc không có, mà ít người bản xứ dùng đến trong việc nghiên cứu vì cho rằng nó “không khoa học”. Nhưng, nếu phối hợp với kỹ thuật ở mức độ cao, như đã trình bày ở trên, nó là lối tiếp cận hữu hiệu nhất, và đưa đến sự phát giác những giải pháp độc đáo và thích nghi nhứt, như ta sẽ thấy dưới đây.

Mục tiêu của Tây Phương hóa là phát triển, và như đã nói ở trên, phát triển để có điều kiện bảo đảm sự tồn tại và độc lập, và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Công cuộc chính của phát triển là xây dựng lại xã hội Việt Nam sau 80 năm thống trị của người Pháp.

Cuộc thống trị đó đã để lại một di sản mà ngay nay dân Việt đang còn phải mang những hậu quả rất tai hại: Ba gánh nặng nhứt là:
1.- Một công cuộc hóa Tây phương bắt buộc.
2.- Một xã hội tan rã.
3.- Một sự gián đoạn trong vấn đề lãnh đạo.

Công cuộc Tây phương hóa bắt buộc làm cho chúng ta mất tin tưởng vào các giá trị tiêu chuẩn cũ, và miễn cưỡng thâu thâp nền văn minh mới. Vận mạng của chúng ta không phải do chúng nắm. Vì vậy, cuộc Tây phương hóa mà chúng ta phải chịu đựng từ môt thế kỷ nay là một cuộc Tây phương hóa bắt buộc, không mục đích, không được hướng dẫn”. Dân chúng bị lôi cuốn vào một phong trào Tây phương hóa, “mà không hiểu Tây phương hóa để làm gì, Tây phương hóa đến mức nào là đủ, và Tây phương hóa sao là đúng”. (Chính Đề Việt Nam, trang 268).

Tình trạng trên đây đã dẫn dắt đến sự tan rã của xã hội của chúng ta. Các giá trị tiêu chuẩn cũ đã mất hết hiệu lực, mà các tiêu chuẩn mới thì không có. Do đó, tín hiệu tập hợp các phần tử đã mất.

“Đó là một điều vô cùng bất hạnh” vì chính là lúc này, lúc ta cần nhiều nỗ lực liên tục của toàn dân và nhiều hy sinh lớn lao của mọi người, “sự có một tín hiệu tập hợp vô cùng cần thiết để toàn dân trông vào và tin tưởng, mới có đủ nghị lực mà cung cấp cố gắng trong một hoàn cảnh khổ hạnh”. (Chính Đề Việt Nam, trang 268)

Về vấn đề lãnh đạo, chúng ta đã lâm vào một sự gián đoạn lãnh đạo “đến một trình độ trầm trọng nhứt”. Sự chuyển quyền không thực hiện được giữa lớp người trước và lớp người sau. Các bí mật [bí quyết] Quốc gia và bí mật [bí quyết] lãnh đạo đều mất. Thuật lãnh đạo không truyển lại được. Người lãnh đạo không có đủ, di sản dĩ vãng không bảo tồn được, văn khố thất lạc và bị cướp bóc. (Chính Đề Việt Nam, trang 268) Đặc biệt là sự thiếu hụt lãnh đạo này có môt ảnh hưởng tai hại: Sự điều hòa giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo để bảo đảm một trạng thái thăng bằng cần thiết cho sự ổn định và tiến lên của xã hội không còn nữa.

Tái lập sự thăng bằng này là nhiệm vụ chính trong công cuộc phát triển, và nó được Tùng Phong cứu xét rất tường tận. Những tư tưởng rất mới mẻ, độc đáo và sáng suốt về vấn đề này là những đóng góp lớn vào sự soi sáng vấn đề phát triển của các nước chậm tiến.

Theo nhận xét, rất đúng, của Tùng Phong, xã hội gồm hai khối: Thiểu số lãnh đạo, và đa số chịu lãnh đạo. Xã hội nào cũng có mâu thuẫn nội bộ, giữa những nhu cầu cá nhân và những nhu cầu của cộng đồng, giữa những nhu cầu ngằn hạn và những nhu cầu dài hạn của cộng đồng, giữa những mức độ đóng góp hy sinh mà lãnh đạo thấy cần và đa số chịu lãnh đạo chịu chấp nhận…Những mâu thuẫn này phải được điều hòa thì xã hội mới ổn định và tiến được. Tùng Phong đã phân tách vấn đề một cách chi tiết như sau:

“Một cộng đồng trong toàn bộ gồm nhiều phần tử cá nhân hợp thành, chia làm hai khối, thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo. Thiểu số lãnh đạo có trách nhiệm với vận mạng của cộng đồng.

Cộng đồng có tồn tại mới bảo đảm được phát triển của cá nhân. Cộng đồng tồn tại nhờ cố gắng và hy sinh của cá nhân, tình nguyện hay cưỡng bách, đóng góp. Nhưng lý do của cuộc sống là sự thoả mãn ước vọng của cá nhân.

Nói một cách khác lý do của cuộc sống là lý do cá nhân. Mà điều kiện của cuộc sống là điều kiện cộng đồng. Vì thế cho nên, ngay trong bản chất đã có sự mâu thuẫn giữa quyền lợi của cộng đồng và quyền lợi của cá nhân trong cộng đồng. Một mâu thuẫn như thế thuộc vào loại mâu thuẫn lúc nào cũng có ở trong nội tâm của mọi phối hợp sáng tạo giữa hai lực lượng tương phản.

Cứu cánh của sự lãnh đạo là thực hiện một trạng thái điều hòa tuyệt đối giữa hai hình thức của một sự thăng bằng đồng tiến, nghĩa là hai lực lượng tương phản sẽ dựa nhau và kích thích nhau để tiến, thì toàn thể cộng đồng sẽ tiến triển. Nếu sự điều hòa được thực hiện dưới hình thức một sự thăng bằng tỉnh chỉ, nghĩa là hai lực lượng tương phản sẽ đóng khung và kềm giữ nhau, toàn thể cộng đồng sẽ mất đà tiến và trở thành trụ đóng. Nếu sự điều hòa không được thực hiện, cộng đồng sẽ tan vỡ”. (Chính Đề Việt Nam, trang 18)

Những mâu thuẫn giữa hai quyền lợi cá nhân và cộng đồng có khi nặng, khi nhẹ. Trong những thời kỳ bình thường, cộng đồng không đứng trước một thử thách khó khăn, và không đòi hỏi sự đóng góp nhiều của cá nhân. Nhưng cũng có những thời kỳ mà cộng đồng phải đương đầu với một cuộc thử thách nghiêm trọng, và sự sống còn của cộng đồng đòi hỏi nhưng sự đóng góp to tát. Ngoài sự bảo vệ trật tự xã hội còn phải quy tụ những phương tiện vật chất và nhân sự vượt quá thông thường để đưa cộng đồng lướt qua các trở lực.

Sự mâu thuẫn khi nào cũng có. Nhưng trong trường hợp trầm trọng, trạng thái điều hòa rất khó thực hiện, sự tan vỡ của cộng đồng có thể đến bất cứ lúc nào, và trong thực tế, nó trở thành một vấn đề cho lãnh đạo vì “sự mâu thuẫn giữa hai quyền lợi cộng đồng và cá nhân sẽ biến hình thành sự mâu thuẫn giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo, vì đa số lãnh đạo, nhân danh cộng đồng đòi hỏi sự đóng góp của đa số chịu lãnh đạo” (Chính Đề Việt Nam, trang19)

Sự mâu thuẫn càng ác liệt nếu đại đa số không có ý thức cộng đồng và không hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng. Trường hợp này dễ xảy ra trong các cộng đồng nghèo nàn về vật chất và ấu trĩ trong tổ chức. Đa số chịu lãnh đạo không được cộng đồng bảo đảm cho những cần thiết tối thiểu và sơ đẳng nên không có lý do tâm lý để biết đến cộng đồng, và mãi bận tâm giải quyết các vấn đề của đời sống hàng ngày, không có thì giờ để hiểu biết vấn đề của cộng đồng.

Ở đây ta thấy rõ tầm quan trọng của lãnh đạo và sự tham gia tự ý của đại đa số. Trong thời kỳ bình thường có thể cưỡng bách đại đa số tôn trọng luật lệ của cộng đồng. Nhưng trong thời kỳ thử thách, uy tín vững chắc của một lãnh tụ, hay sự cưỡng bách bằng võ lực không thay thế được sự đóng góp có ý thức vào nhu cầu của cộng đồng. Điều kiện thiết yếu để thực hiện sự tự giác đóng góp như vậy là “đa số chịu lãnh đạo phải ý thức cộng đồng và hiểu biết vấn đề cần giải quyết cần phải giải quyết của cộng đồng”. Và có như vậy thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo mới “điều hòa và tạo cho cộng đồng sinh lực cần thiết để vượt qua các thử thách quyết liệt đang đợi chờ”. (Chính Đề Việt Nam, trang 20)

Cần nhấn mạnh ở đây rằng sự đa số chịu lãnh đạo cũng phải ý thức vấn đề của công đồng rất quan trọng vì như vậy nó mở rộng địa bàn xoay xở của thiểu số lãnh đạo cho họ tránh được nhiều lỗi lầm chiến thuật do sự tranh đấu gay go gây ra. Nhờ đó mà sự phối hợp giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo sẽ không sứt mẻ, và của các quyết định chiến thuật không mất hữu hiệu.

Qua những điều vừa trình bày ở trên, ta thấy Tùng Phong coi vấn đề lãnh đạo là chính yếu, và, thực ra, Chính Đề Việt Nam là một tài liệu được soạn đặc biệt như là một tài liệu học tập để huấn luyện cán bộ cao cấp của chế độ về nghệ thuật trở thành những người “lãnh đạo xứng danh”. Tuy nhiên, như ta đã thấy, tài liệu này có một tầm quan trọng vượt xa không những chế độ Cộng Hòa I, mà ngay cả Việt Nam: Nó có giá trị một tài liệu học tập quý báu cho cán bộ các nước chậm tiến muốn hiện đại hóa.

Những nhận xét trên đây cho thấy rằng, đối với người lãnh đạo “xứng danh”, các vấn đề tổ chức và giáo dục quần chúng cũng rất hệ trong. Nó cũng được Tùng Phong soi sáng, nhưng ta không thể bàn đến trong khung khổ của bài này.

Vấn đề then chốt kế tiếp cần được soi sáng, sau khi đã được thấy rõ vấn đề chính của Việt Nam, lối tiếp cận hữu hiệu, và một giải pháp thích nghi để giải quyết vấn đề, là vấn đề lựa chọn dụng cụ để thực hiện giải pháp đó: Vấn đề “khung cảnh chính trị”.

VI
Vấn đề “khung cảnh chính trị” là vấn đề tìm cho Việt Nam “một chính thể thích nghi cho Dân Tộc”. Chính thể đó “không phải định đoạt do một sự lựa chọn căn cứ trên những lý thuyết chính trị hay là những nguyên nhân triết lý, mà sẽ được quy định một cách rõ rệt bởi hoàn cảnh địa dư và lịch sử của chúng ta, cùng với trình độ phát triển của Dân Tộc…” Đặt vấn đề như vây là xét vấn đề phát triển từ góc độ địa lý chính trị và văn hóa, một lối tiếp cận vấn đề phát triển mới và độc đáo.

Một điều độc đáo và mới nữa là trong sự tìm một con đường thích nghi cho sự phát triển Việt Nam, Tùng Phong chú tâm vào nguy cơ Việt Nam bị xâm lăng, và đặc biệt nguy cơ bị lệ thuộc Trung Hoa. Trong sự cứu xét kỹ vấn đề này ông đã đưa ra những cảnh báo có tính cách tiên tri, vì tuy đưa ra cách đây 50 năm, ngày nay nó đang xảy ra ngay dưới mắt chúng ta.

Tùng Phong đặt sự phân tách vấn đề trên hai dữ kiện:
1.- Hoàn cảnh địa dư lịch sử của Việt Nam.
2.- Tình trạng nội bộ của Việt Nam.

Ngay trong trang mở đầu của tác phẩm, ông đã đặt vấn đề như sau:

“Việt Nam là một nước nhỏ về dân số, về lãnh thổ, về kinh tế kém phát triển, về phần đóng góp vào văn minh nhân loại. Cho nên lúc nào cũng bị các nước lớn chi phối, lúc nào cũng sống dưới sự đe dọa liên tục của ngoại xâm, và “và lúc này hơn lúc nào hết, nạn ngoại xâm vẫn đe dọa Dân Tộc Việt Nam”. (Chính Đề Việt Nam, trang 13) Ở một đoạn dưới Tùng Phong cảnh báo: “bao giờ yếu tố đó chưa thay đổi thì họa xâm lăng vẫn còn”.(Chính Đề Việt Nam, trang 236).

Nói đến “địa dư” là nói đến sự kiện Việt Nam nằm sát biên giới Trung Hoa. Nói đến “tình trạng nội bộ của chúng ta” là nói đến tình trạng Bắc Việt đã chọn con đường cộng sản, nghĩa là chế độ độc tài đảng trị như Trung Hoa.

Phương pháp độc tài đảng trị là một phương pháp hấp dẫn đối với nhiều người lãnh đạo khi có một chương trình vĩ đại cần được thực hiện trong một thời gian ngắn vì nó dưạ trên căn bản chặt hết các dây liên hệ của từng cá nhân bất cứ dưới hình thức gia đình, xã hội, tôn giáo và văn hóa, và thay vào đó bằng những liên hệ duy nhứt với một đảng chính trị duy nhứt nắm chính quyền. Nó biến mỗi cá nhân thành ra một bộ phận rất dễ sai khiến, dễ uốn nắn của bộ máy khổng lồ nhiều khả năng nhưng cũng dễ sử dụng trong tay người lãnh đạo. (Chính Đề Việt Nam, trang 302-04)

Nhưng, về phần miền Nam thì Tùng Phong quả quyết: Nếu bây giờ chúng ta chưa có ý thức rõ rệt chính thể ấy phải thế nào, thì ngay bây giờ chúng ta có thể quan niệm được rằng “chính thể đó không thể là một chính thể chuyên chế hay độc tài được. Đó là một thái độ rất rõ rệt” (Chính Đề Việt Nam, trang 244-245).

Lý do của thái độ dứt khoát trên đây là một chế độ độc tài đảng trị không thể đưa đến một trạng thái điều hòa mới trong đó tiêu chuẩn mới sống chung với tiêu chuẩn cũ, “vì [nó] phủ nhận quyền tư hữu, bài trừ tôn giáo, vân vân, đã nhân danh quyền lợi của cộng đồng mà bóp chết cá nhân, do đó tiêu diệt trạng thái thăng bằng động tiến căn bản trong một cộng đồng, giữa quyền lợi cá nhân và quyền lợi cộng đồng. Trạng thái thăng bằng biến mất, vì hai lực lượng tương phản không còn để tạo ra một cuộc phối hợp sáng tạo. Sinh lực sáng tạo không có thì sự tiến hóa trong tương lai của cộng đồng không bảo đảm” (Chính Đề Việt Nam, trang 305).

Không có một quốc gia Tây phương nào thực hiện phát triển bằng độc tài đảng trị. Ngay cả Nga Sô cũng phải từ bỏ chế độ đó và trở về với những giá trị tiêu chuẩn có tính cách di sản của nhân loại. Bài học của Nga Sô chứng minh rằng phương pháp độc tài đảng trị cộng sản không thế nào bảo đảm được sự thành công của một công cuộc phát triển Dân Tộc toàn diện. Nó đòi hỏi phải thay thế các giá trị tiêu chuẩn, và đả phá tận nền tảng Mác-Lê. Lãnh đạo Nga Sô không muốn vậy, nhưng “thực tế lịch sử đã dồn họ vào cái thế không làm sao không thay đổi được”. Điều nhận xét nay được đưa ra năm 1960, 40 năm trước khi khối cộng sản tan rã, và Liên Bang Nga Sô và đảng cộng sản liên sô bị giải thể…

Trong bối cảnh trên đây, câu hỏi được đặt ra là: Sau khi độc lập đã khai phục, Dân Tộc chuyển qua giai đoạn phát triển, đường lối cộng sản còn thích hợp hay không ? Giải đáp cho câu hỏi này liên quan đến sự bang giao giữa Trung Hoa và Việt Nam.

Về phía Trung Hoa, Tùng Phong nhận xét:
“Trong quá khứ, ngay những lúc ta chiến thắng Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng khôn ngoan hòa thuận với Trung Quốc và tự đặt mình vào chế độ thuộc quốc. Nhưng điều mà Trung Quốc muốn không phải là Việt Nam chỉ thần phục và triều cống Trung Hoa, suốt thời gian gần một ngàn năm lịch sử, lúc nào cũng muốn lấy lại mảnh đất mà Trung Hoa coi như tạm mất” (Chính Đề Việt Nam, trang 235)

Tùng Phong nhắc lại rằng trong 900 năm (939-1840) Trung Hoa đã bảy lần toan chiếm Việt Nam.

“Một hành động liên tục như vậy nhứt định có nghĩa là tất cả các triều đại Trung Hoa đều theo đuổi một chính sách, đặt nền thống trị trên lãnh thổ Việt Nam. Chính sách này do một điều kiện địa dư và kinh tế định: Lưu vực sông Hồng Hà là đường thoát ra biển thiên nhiên của các Tỉnh Tây Nam của Trung Hoa. Đã như vậy, ngay từ bây giờ [1960], ý định của Trung Hoa vẫn là muốn thôn tính, nếu không phải hết nước Việt Nam, thì ít ra cũng Bắc phần…” (Chính Đề Việt Nam, trang 235)

Thế còn dữ kiện Trung Cộng ủng hộ viện trợ cho Việt Nam, và đặc biệt đã giúp Việt Nam thắng trong trận Điện Biên Phủ ? Tùng Phong giải thích: Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt vì trong hoàn cảnh phát triển nghiêm khắc của họ, họ phải nỗ lực vận động một mặt trận đồng minh thế giới làm hậu thuẫn cho chương trình phát triển của họ. Vả lại ta phải tự hỏi: Họ đã giúp khí giới kỹ thuật và phương tiện cho Việt Nam chiến thắng vì họ thân Việt Nam hay vì họ bài Mỹ, và khi viện trợ như vậy họ coi Việt Nam là một đồng chí cộng sản hay là một phần đất cũ xưa kia, và nay sắp gần được gồm thâu vào lãnh thổ của họ ?(Chính Đề Việt Nam, trang 235)

Với cuộc phát triển đang thực hiện “nước Tàu của Mao Trạch Đông còn cần dùng con đường ra biển “hơn cả các triều đại trước đây của Trung Hoa”. Viện trợ cho Bắc Việt, trên quan điểm đó, là để dành quyền sử dụng con đường ra biển “khi thời cơ đến” (Chính Đề Việt Nam, trang 29). Cho nên “Đối với Dân Tộc Việt Nam, Trung Hoa của Mao trạch Đông, cũng như của các triều đại Nguyên, Tống, Minh, Thanh là một đe dọa truyền kiếp” (Chính Đề Việt Nam, trang 286).

Những nhận xét trên đây được đưa ra vào khoảng năm 1960. Ngày nay, 50 năm sau, trong bối cảnh Trung Hoa cưỡng chiếm các Đảo Trường Sa, Hoàng Sa, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hải phận Vịnh Bắc Việt, v.v…,nó nói lên sự sáng suốt của những người lãnh đạo Cộng Hòa Đệ I, và sự thất thiệt lớn lao cho xứ sở do sự mất những người lãnh đạo này do những biến cố năm 1963 gây nên.

VII
Những điều vừa trình bày trên đây cho phép trả lời một cách dứt khoát câu hỏi: Ngày nay, đường lối cộng sản còn thích hợp không ? Giải đáp là: Không. Không nhưng đúng cho thời gian 1960, mà hiện nay 2009, lại còn đúng hơn nữa. Nhưng điều quan trọng là ta phải hiểu cho thật rõ: Tại sao, như Tùng Phong giải thích dưới đây.

Chủ trương cộng sản chẳng những không giải quyết được vấn đề của Quốc Gia Việt Nam trong thời kỳ này [1960] của cộng đồng, mà lại “sẽ đưa Dân Tộc vào một con đường đen tối cho nhiều thế hệ tương lai” (Chính Đề Việt Nam, trang 27) và “sự gắn liền vận mạng của chúng ta vào vận mạng Trung Cộng là một hành động di hại cho Dân Tộc” (Chính Đề Việt Nam, trang 290).

Tùng Phong nhận xét: Mối liên hệ giữa cộng sản Việt Nam với Trung Quốc làm “tái hiện dũng mãnh”, sau một trăm năm vắng mặt, “ký ức thời kỳ thống trị tàn khốc của Tàu đối với chúng ta”, và cảnh báo:
“Các nhà lãnh đạo miền Bắc, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà còn đe dọa sự tồn tại của Dân Tộc…”

“Sở dĩ ngày nay [1960], sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt Nam bị Bắc Việt thôn tính, thì sự thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian” (Chính Đề Việt Nam, trang 301).

Ngày nay, năm 2009, những cảnh báo trên đây không còn là cảnh báo nữa, mà đã thành hiện thực: Sự thôn tính Nam Việt bởi Bắc Việt đã mở đường cho Trung Quốc thôn tính toàn Việt Nam.

Tùng Phong viết: “các nhà lãnh đạo phía Bắc vẫn chưa nhận thức được nguy cơ đang đe dọa Dân Tộc và những ngày đen tối của chúng ta vẫn còn tiếp tục” vì “những người lãnh đạo này đang còn say mê thuyết cộng sản và đương nhiên đưa nó lên hàng một chân lý” trong khi Nga Sô và Trung Cộng chỉ coi nó là một phương tiện. Đưa một phương tiện của ngưòi lên làm chân lý của mình là mặc nhiên hạ mình xuống thấp hơn một bực đối với các lãnh tụ cộng sản quốc tế, “và tự biến mình thành một thứ nô lệ trí thức cho người sai khiến”. Vì vậy cho nên, trong nhiều hành động chính trị của các nhà lãnh đạo phía Bắc “lý thuyết được để lên trên quyền lợi Dân Tộc” (Chính Đề Việt Nam, trang 290).

Vì sự lệ thuộc về lý thuyết, các lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã hy sinh quyền lợi Dân Tộc Việt Nam cho quyến lợi của Dân Tộc Trung Hoa. Nếu đặt quyền lợi của Dân Tộc trên hết, “thì không có lý do gì để binh vực sự gắn liền vận mạng công cuộc phát triển của chúng ta với vận mạng công cuộc phát triển của Trung Cộng” (Chính Đề Việt Nam, trang 338).

Tùng Phong nói: “sự gắn liền vận mạng của chúng ta vào vận mạng Trung Cộng là một hành động di hại cho Dân Tộc”. (Chính Đề Việt Nam, trang 290) Sự áp dụng các phương pháp huy động nhân lực Trung Cộng vào trường hợp Việt Nam, mặc dầu hoàn cảnh phát triển của chúng ta không hề đòi hỏi những phương tiện như vậy, là “làm sống lại tâm lý thuộc quốc gần như đã chết trong thế kỷ, của những người tự ty mặc cảm trước “Trung Hoa vĩ đại”, lúc nào cũng xem Việt Nam là “một Trung Hoa con con” (Chính Đề Việt Nam, trang 342). Nếu Trung Hoa diễn tuồng trên sân khấu 100 m2, Việt Nam cũng phải diễn cùng một tấn tuồng trên 1 m2 . “Ngày nay, vì nước Tàu thi hành phương pháp độc tài đảng trị kinh khủng một cách rộng lớn, thì Bắc Việt cũng phải thi hành phương pháp độc tài đảng trị kinh khủng một cách nho nhỏ” (Chính Đề Việt Nam, trang 342)

Sự quy phục thuyết cộng sản “sẽ đương nhiên biến sự đe dọa thống trị của nước Tàu đối với Việt Nam thành thực tế…”, các nhà lãnh đạo cộng sản áp dụng phương pháp độc tài đảng trị ở Việt Nam “sẽ đương nhiên tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Cộng xâm chiếm Việt Nam” vì phương pháp đó “sẽ suy nhược hóa sức đề kháng của Dân Tộc đối với kẻ xâm lăng” (Chính Đề Việt Nam, trang 373).

“Trong tình thế chính trị chúng ta được mục kích, sự quy phục thuyết cộng sản của các nhà lãnh đạo Bắc Việt tự nó là một sự thần phục Trung Cộng, như các triều đại xưa của chúng ta thần phục Trung Hoa…” (Chính Đề Việt Nam, trang 374).

“Sự quy phục lý thuyết cộng sản sẽ đương nhiên gắn liền vận mạng công cuộc phát triển Dân Tộc chúng ta vào vận mạng công cuộc phát triển của Trung Hoa…Như vậy có nghĩa là “chúng ta tự ý bỏ công cuộc phát triển của chúng ta” (Chính Đề Việt Nam, trang 374)

Sự lệ thuộc trên đây là một lệ thuộc nặng nề của Việt Nam đối với văn hóa Tàu.

Từ ngày lập quốc, cách đây hơn một ngàn năm, sự chi phối của Trung Hoa đối với Việt Nam nặng nề đến đỗi tâm lý thuộc quốc bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống của Dân Tộc.

Tâm lý này xuất phát từ hai sự kiện: Tự ty mặc cảm đối với “Trung Hoa vĩ đại”, và sự lệ thuộc của ta đối với văn hóa Tàu. Những lời ca tụng “Trung Hoa vĩ đại” của miền Bắc, những điệu âm thanh Trung Cộng của đài phát thanh Hà Nội, những điệu vũ nữ hòa bình, và những y phục theo Tàu đều là “những biểu lộ thiết thực của một sự lệ thuộc văn hóa càng ngày càng sâu đậm của miền Bắc đối với Trung Cộng” bởi vì “các nhà lãnh đạo miền Bắc đã chấp nhận một sự lệ thuộc tư tưởng” (Chính Đề Việt Nam, trang 375).

Mà cũng vì lệ thuộc chủ nghĩa cộng sản mà cuộc chiến đấu dành độc lập của chúng ta tiêu hao bao sinh lực Dân Tộc, mà xảy ra tình trạng chia đôi đất nước, mà chiến tranh tàn phá cái vốn nhân lực và tài nguyên của chúng từ hai mươi năm nay. (Chính Đề Việt Nam, trang 376). Từ mười năm nay [1954] Bắc Việt chưa thực hiện được những mục tiêu đáng kể, trong khi các thực hiện của Nam Việt đều bị du kích quân Bắc Việt phá hoại. Bao nhiêu sinh lực của Dân Tộc đã bị phí phạm.

Tùng Phong nhận xét rằng:
“Chưa có một triệu chứng nào chứng tỏ rằng các nhà lãnh đạo miền Bắc hiện nay đã nhận thức những điều kiện trên. Thư lại chính trị miền Bắc vẫn còn đang ca tụng như những chân lý những giá trị tiêu chuẩn và giai đoạn mà Nga Sô đã bỏ” (Chính Đề Việt Nam, trang 287). Và cũng vì các lý do trên đây, Tùng Phong nói, “chúng ta có thể quả quyết rằng các nhà lãnh đạo phía Bắc chưa nhận thức nguy cơ đang đe dọa Dân Tộc, và những ngày đen tối của chúng ta vẫn còn tiếp tục” (Chính Đề Việt Nam, trang 217).

Những nhận xét và cảnh báo trên đây là những nhận xét và cảnh báo thốt ra năm 1960. Những gì xảy ra từ 1975 chứng tỏ rằng tình hình càng ngày càng trầm trọng hơn thêm, và lại còn đen tối hơn là Tùng Phong đã dự đoán. Ngày nay 2009, Trung Hoa không những đe dọa sự tồn tại của Việt Nam, mà đang thực sự thôn tính Việt Nam. Nhân danh xã hội chủ nghĩa và cách mạng thế giới cộng sản Truntg Hoa đã cỡi lưng cộng sản Việt Nam bành trướng ách thống trị của Trung Hoa qua vĩ tuyến 17, bao luôn Cao Nguyên Nam Phần, xuống tận Cà Mau.

Năm 1960, Tùng Phong còn hy vọng rằng “sự tồn tại miền Nam là một bảo đảm cho Dân Tộc thoát khỏi ách thống trị Trung Cộng, vừa là bảo đảm cho cơ hội phát triển của chúng ta, và vừa là một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Bắc Việt khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho Dân Tộc…sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của Dân Tộc”. (Chính Đề Việt Nam, trang 301-302).

Không may cho Dân Tộc Việt Nam, hy vọng lớn trên đây đã không thành. Cuộc đảo chánh tháng 11, năm 1963, và những sự xáo trộn nó gây ra, tạo ra một tình trạng miền Nam vô chính phủ, vô lãnh đạo, sinh lực sút giảm, đồng thời những xáo trộn do những lực lượng phản chiến Hoa Kỳ áp lực chính phủ Mỹ phải bỏ rơi Việt Nam, tạo ra một tình trạng hỗn loạn, suy sụp, tạo điều kiện cho cộng sản chiến thắng và thôn tính miền Nam. Đặc biệt là lúc đó, họ càng tin là họ đã đúng đường. Nhưng, ngày nay, sau những gì đã xảy ra từ lúc cộng sản xâm chiếm miến Nam, càng ngày càng rõ rằng những gì Tùng Phong nói lên trên đây trong Chính Đề Việt Nam là đúng: Sự mất còn của miền Nam là một bảo đảm cho Dân Tộc thoát khỏi ách thống trị Trung Cộng, vừa là lối thoát cho các nhà lãnh đạo Bắc Việt khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho Dân Tộc…

Điều vừa nêu lên giúp làm sáng tỏ một vấn đề đã làm dư luận bàn tán nhiều năm 1963, và trong thờì gian qua, vẫn còn được nhiều người đề cập đến. Năm 1963 có những tin đồn rằng ông Ngô Đình Nhu (Tùng Phong) liên lạc với cộng sản. Điều này nay đã được những người thân cận xác nhận. Nhưng điều quan trọng nhất (để làm gì) thì ngoài ông Nhu ra, không ai biết ông Nhu và những người bên kia bàn gì với nhau. Nay ông Nhu đã mất, điều này vẩn chưa được soi sáng vì không có, và không còn nhân chứng, trừ anh Cao Xuân Vỹ, mà chính anh Cao Xuân Vỹ cũng không được biết.

Nay, chỉ còn tôi là người nhân chứng duy nhứt. Nhưng tôi chỉ làm nhân chứng những điều sau đây do chính ông Nhu đã tiết lộ trong một cuộc họp báo với ký giả ngoại quốc vào cuối tháng 9 năm 1963. Tôi là thông dịch viên trong buổi họp báo đó, (xin xem hình kèm) và tôi đã nghe và thông dịch hai điều sau đây:

1.- Ông đã tiếp Trần Độ ngay “trong phòng này”, văn phòng của ông, nơi mà ông đang tiếp các ký giả.
2.- Trần Độ có hỏi ông: “Nếu chúng tôi buông súng thì Việt Nam sẽ thế nào ?”

Như vậy nghĩa là:
1.- Ông Nhu đã có tiếp xúc với phía cộng sản.
2.- Ông Nhu đã có đề cập đến vấn đề phía cộng sản ngưng chiến.

Với những lý luận gì ? Nay Chính Đề Việt Nam -ta nên nhớ rằng tác phẩm này được hoàn tất vào năm 1962 cho phép ta nghĩ rằng Ông Nhu đã nói với phía bên kia như sau:

1.- Chuyên chế độc tài đảng trị không thể chấp nhận được, và khư khư ôm lấy thuyết cộng sản, như các nhà lãnh đạo miền Bắc đang làm, là sai, vì nó không thich nghi với hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam và không giải quyết được vấn đề phát triển hiện đại hóa của Dân Tôc Việt Nam được.
2.- Áp dụng thuyết cộng sản là thần phục Trung Hoa, tái lập sự lệ thuôc của Dân Tộc Việt Nam đối với Trung Hoa như dưới các triều xưa, và tạo điều kiện cho Trung Hoa xâm chiếm Việt Nam.
3.- Sự tồn tại của miền Nam là một lối thoát cho lãnh đạo miền Bắc khỏi mang tiếng là đã hy sinh quyền lợi của Dân Tôc Việt Nam, và phục vụ quyền lợi Trung Hoa.

Như ta đã thấy ở đoạn trên, Ông Nhu than phiền rằng các nhà lãnh đạo miền Bắc đã mù quáng không chịu bỏ thuyết cộng sản, vẫn cho đó là chân lý, nhất quyết

“trụ” với giải pháp độc tài đảng trị, và quy phục Trung Cộng.

Đó là năm 1962. Bây giờ, năm 2009, tình trạng lại trầm trọng và khẩn trương hơn. Và không biết bao giờ lại mới có cơ hội, và một sự lãnh đạo sáng suốt để bảo đảm công cuộc phát triển để giải quyết vấn đề đặt ra cho Dân Tộc Việt Nam từ một ngàn năm: “cởi bỏ cho Dân Tộc tâm lý thuộc quốc đối với Trung Hoa”, như Lý ThườngKiệt và Nguyễn Huệ đã làm. (Chính Đề Việt Nam, trang 342)
Dù sao, ngày nay, với Chính Đề Việt Nam, lối tiếp cận và giải pháp đã có, ngoài hai điều kiện vừa nêu trên, chỉ cần một điều kiện căn bản hơn cả, mà Tùng Phong đưa ra trong phần kết thúc tác phẩm. Đó là:
“Trong tình hình chính trị thế gới hiện nay, và trong trình độ tiến hóa của nhân loại hiện nay, các vấn đề Dân Tộc Việt Nam, trong thời kỳ này, chỉ có thể tìm ra được một giải đáp nếu chúng ta trụ vào vị trí Dân Tộc”. (Chính Đề Việt Nam, trang 503)

Và Tùng Phong kết luận vói một lời nhắc và hai lời kêu gọi.

Lời nhắc đề cập đến một thực tế mà ta không thể phủ nhận được. Đó là dưới áp lực của nhân khẩu, Trung Hoa phải bành trướng. Sự bành trướng này đã mở màn.

“Nếu chúng ta không thức tỉnh thì một trong những nạn nhân đầu tiên của sự bành trướng nói trên sẽ là chúng ta. Chỉ tưởng tượng đến viễn ảnh đó cũng đủ làm cho chúng ta khủng khiếp”.

Và hai lời kêu gọi, một lời hướng về miền Nam, và một lời hướng về miền Bắc:
1.- “công cuộc chống sự xâm lăng của miền Bắc không lúc nào khẩn thiết cho cộng đồng Dân Tộc Việt Nam bằng trong lúc này hết.
2.- Chúng ta mong mỏi các nhà lãnh đạo miền Bắc kịp thời nhận định đã đến lúc, vì sự tiến hóa của Dân Tộc, không nên tiếp tục sự trụ đóng vào phương tiện cộng sản nữa”. (Chính Đề Việt Nam, trang 505-506)

Ngày nay, miền Nam không còn nữa, mà Tùng Phong cũng không còn nữa, nhưng lời nhắc và những lời kêu gọi trên lại còn thích hợp hơn lúc nào hết.

Viết cho Đặc San
Vào dịp Lễ Tưởng Niệm Tống Thống Ngô Đình Diệm
Tháng 11, năm 2009
Tôn Thất Thiện

(Độc giả nào muốn có để đọc toàn bộ tác phẩm,
Xin liên lạc với Anh Đỗ Như Điện
405 Ranger Road, Fallbrook, CA 92028-8482
E-Mail: donhudien@yahoo.com . (Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó)
DT: 858-337.7049
FYI

Trước hiện tình đất nước với nhiều chỉ dấu đang bị lâm nguy bởi nạn ngoại xâm;
Trân trọng chuyển tới quý vị một tài liệu hiếm quý để tham khảo và tuỳ nghi …
Cuốn sách này đã được xuất bản vào thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhưng chỉ lưu hành giới hạn trong tầng lớp cán bộ lãnh đạo.
Dưới đây là cuốn “CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM” được nhà xuất bản HÙNG VƯƠNG tái bản lần đầu tiên tại hải ngoại.

Qua bút hiệu TÙNG PHONG, (<= ) ông Ngô Đình Nhu đã có nhận định CHÍNH XÁC và đã cảnh báo về các diễn biến của Trung quốc và Việt Nam trong tác phẩm mang tựa đề CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM xuất bản từ nửa thế kỷ (50 năm) trước đây …

Trích dẫn:
….
Sở dĩ, tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.

Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô.

Vì vậy cho nên, sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách trống trị một lần nữa. (tr.212)

Mời bấm vô từng Phần, Mục liên hệ (có gạch dưới để đọc tiếp)

NguyễnKimĐễ
PDX_May-19-2014

CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM

1- CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM :
Mời bấm:=> Một viên ngọc quý trong kho tàng tư tưởng, một đóng góp lớn về soi sáng vấn đề phát triển (Gs Tôn Thất Thiện)

2- CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM : Những Bài học Thực Tiễn Vượt Thời Gian nhằm Định Hướng Hành Trình cho DânTộc qua Phân Tích và Suy Luận từ Thực Tế Lịch Sử của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu (Phạm Bình Thuận, Ph.D) => (Mở Attached File)

3- Sách CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM
Lời Trần Tình

Lời Nhà Xuất Bản

Bối Cảnh Của Vấn Đề

PHẦN I:
Nhận Định Về Thế Giới

PHẦN II:

Vị Trí Của Việt Nam Trong Khung Cảnh Thế Giới Vừa Trình Bày

Một Ví Dụ Lịch Sử

Chỉnh Đốn Nội Bộ
PHẦN III:

Điều Kiện Nội Bộ

Cơ Sở Hạ Tầng Vô Tổ Chức

Vai Trò Của Mìền Nam

Đường Lối Phát Triển
PHẦN IV:

Một Lập Trường Thích Hợp Với Các Nhận Xét Trên

Tư Tưởng, Phương Pháp, Hình Thức

Nghiệp Đoàn Việt Nam

Việt ngữ và Hoa ngữ
KẾT LUẬN:
Trụ Mà Không TrụU

Leave a Reply