home Tin Cộng Đồng, Văn Học SINH HOẠT VĂN HÓA TẠI HỘI QUÁN LẠC HỒNG

SINH HOẠT VĂN HÓA TẠI HỘI QUÁN LẠC HỒNG

 

Hôm tiệc sinh nhật 78 tuôi của nhạc sĩ Lam Phương tại nhà hàng Seafood Palace, vợ chồng chúng tôi tình cờ ngồi cùng bàn với quý anh chị Kim Châu Võ Tá Hân và anh chị Michelle Thanh Mai Nguyễn Xuân Quang. Hai chị Kim Châu và Thanh Mai được tổ đãi vì trúng số quà của nhạc sĩ Lam Phương biếu tặng. Tình cờ tôi biết 4 anh chị này đã biết nhau trước rồi, các anh chị chụp hình chung. BS. Nguyễn Xuân Quang chụp hình lịch lãm với nụ cười mím chi cọp. Em trai San Diego Lưu Anh Anh Tuấn hỏi tôi “cười mím chi cọp là gì ?”. Khiến tôi phải viết bài giải thích khi so sánh nụ cười của toubib Quang tựa như nụ cười hoàng gia cổ kính Prince Charles của Cung điện British Buckingham hay nụ cười kín đáo huyền bí của kiều nữ Mona Lisa trong tranh của danh họa Leonardo Da Vinci trong Museé du Louvre.

 

Chị Michelle Thanh Mai thích văn nghệ ca hát, chị ca nhạc thinh phòng cổ điển đến hát nhạc quê hương folksongs, Ả đào, Quan họ,… Anh Quang yêu mến văn chưong, anh viết văn biên khảo, tạp bút, tiểu luận, qua bút pháp nghiêm túc, cung cấp chi tiết hữu dụng cho kiến thức tổnng quát cho độc giả, khi viết phiếm luận thì văn phong dí dỏm, ý nhị và hóm hỉnh. Rât vui gặp 4 anh chị Kim Châu Võ Tá Hân và Michelle Thanh Mai Nguyễn Xuân Quang trong party Lam Phưong.

 

Xin gởi bài viết và thiệp mời đến quý netters, xin quý vị ghé mắt vào show văn học nghệ thuật tại Hội Quán Lạc Hồng, chiều Chủ Nhật, 19 Tháng Tư, 2015.

THÔNG BÁO

Gần đây trên một vài diễn đàn trên mạng như Diễn Đàn Chính Nghĩa có một tác giả Nguyển Xuân Quang khác khiến một số thân hữu và độc giả có thắc mắc,  liên lạc với tôi. Xin thưa đây có thể là một trường hợp trùng tên. Xin các thân hữu và độc giả lưu ý để phân biệt tránh làm lẫn và ngộ nhận.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang

THƯ MỜI THAM DỰ SINH HOẠT VĂN HÓA TẠI HỘI QUÁN LẠC HỒNG
Xin mời quý vị đến tham dự một chương trình sinh hoạt văn hóa do chúng tôi thực hiện tại Hội Quán Lạc Hồng vào lúc 2 giờ trưa chủ nhật ngày 19 tháng 4, 2015.

Như trong thiệp mời đính kèm, phần đầu của chương trình là bài thuyết trình văn hóa của nhà văn bác sĩ Nguyễn Xuân Quang với đề tài Trống Đồng Đông Sơn, Bộ Sử Đồng của Đại Tộc Việt. Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang đã dầy công nghiên cứu trên hơn 30 năm và đã giải đọc được Trống Đồng Đông Sơn. Bác sĩ sẽ chia xẻ những khám phá của ông với chúng ta trong buổi thuyết trình này.

Sau phần thảo luận giữa diễn giả và quan khách sẽ là một chương trình ca vũ nhạc dân tộc do Luật sư Nguyễn Thanh Mai Michelle thực hiện, chủ đề Hồn Quê với sự góp mặt của ban tam ca Tiếng Tơ Vàng, ban văn nghệ Lạc Hồng, ban nhạc cổ truyền Lạc Hồng cũng như ban nhạc tài tử cải lương Lạc Hồng.

Sau đó là phần tiếp tân, ẩm thực và phần văn nghệ hát cho nhau nghe với sự tham gia của các thành viên ban văn nghệ Lạc Hồng và thân hữu.

Địa chỉ Hội Quán Lạc Hồng là 7219 Westminster Blvd.,Westminster, CA 92683.

Hội Quán nằm ngay trên đường Westminster khoảng giữa đường Olive và Golden West. Chương trình sẽ bắt đầu đúng 2 giờ trưa, vào cửa miễn phí. Vì chỗ ngồi có giới hạn nên xin mời quý vị đến sớm để có chỗ ngồi tốt.

Rất mong được gặp quý vị trong buổi sinh hoạt văn hóa này.

Trân trọng kính mời.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang và

Luật sư Dược sĩ Nguyễn Thanh Mai Michelle.

Điện thoại liên lạc : 714 897 4405.

Xin để lại lời nhắn nếu chúng tôi không có mặt.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang và Luật sư Nguyễn Thanh Mai Michelle.

2015-04-10 10:58 GMT-07:00 <mmnrphesq@aol.com>:

Xin gửi quý anh chị bài viết của ký giả Nguyên Huy giới thiệu về chương trình sinh họat văn hóa nghệ thuật tại Hội Quán Lạc Hồng vào ngày Chủ Nhật 19 tháng Tư, 2015 lúc 2 giờ trưa. Trong bài này có một vài điều cần bổ khuyết như bài dân ca quan họ “Người ơi người ở đừng về” do anh Trương Minh Cường và hai chị Ngọc Quỳnh và Lam Dung trình diễn, cũng như tên chị Thúy Nga của ban Tam Ca Tiếng Tơ Vàng xin đính chính cho đúng. Báo Người Việt có rất nhiều độc giả nên chương trình sẽ được phổ biến rộng rãi và được cộng đồng hưởng ứng tham dự. Vì số chỗ ngồi có giới hạn nên xin mời quý anh chị đến sớm và cũng xin mời quý anh chị nán lại tham dự phần tiếp tân ẫm thực và chương trình văn nghệ hát cho nhau nghe sau đó.
Thân quý.
Đòan văn nghệ Lạc Hồng
Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
Luật sư Nguyễn Thanh Mai Michelle

 

 Thuyết trình về trống đồng và văn nghệ dân tộc

Thursday, April 09, 2015 6:40:22 PM

Nguyên Huy/Người Việt

t

WESTMINSTER, California (NV)Một buổi sinh hoạt văn hóa Việt Nam sẽ được tổ chức tại hội quán Lạc Hồng, 7219 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683, vào chiều Chủ Nhật, 19 Tháng Tư.

 

Buổi sinh hoạt sẽ có hai phần, một là phần thuyết trình của Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang với chủ đề là “Trống Ðồng Ðông Sơn và Bộ Sử Ðồng của Ðại Học Việt” và phần thứ hai là một chương trình văn nghệ dân tộc với Luật Sư Michelle Mai Nguyễn, phu nhân Bác Sĩ Quang, cùng Giáo Sư Nguyễn Châu và ban văn nghệ Lạc Hồng tổ chức với chủ đề là “Ca Vũ Nhạc Dân Tộc Hồn Quê.”

(Hình minh họa: Wikepedia.org)

Theo ban tổ chức cho biết, đây là một sinh hoạt văn hóa, văn học thường xuyên của Bác Sĩ Quang và phu nhân phối hợp cùng Giáo Sư Châu và ban văn nghệ Lạc Hồng. Mục đích của những buổi sinh hoạt này, theo Luật Sư Michelle Mai Nguyễn là “gìn giữ và phát triển nền văn hóa dân tộc Việt Nam, đặc biệt là cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại.”

Về thuyết trình viên, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang là một nhà nghiên cứu về nền văn hóa Việt Nam qua trống đồng từ 30 năm nay. Những điều ông đã tìm hiểu được, ông đã viết thành sách và nhiều bài viết được phổ biến trên báo chí và trên mạng. Cuốn sách “Giải Ðọc Trống Ðồng Nòng Nọc Ðông Nam Á” của ông là một công trình sưu tầm và nghiên cứu sâu xa về trống đồng Việt Nam và ở nhiều nơi khác như Nam Trung Quốc (Vân Nam), Malaysia, Indonesia, Lào. Sách gồm bốn tập, đã ra được hai tập. Ông cũng là người từng tới nhiều viện bảo tàng như Hà Nội, Vân Nam và Pháp để tận mắt tra cứu về trống đồng.

 

Ông cho biết: “Sách và các bài viết của tôi có khác với những sách đã viết về trống đồng Việt Nam, vì tôi có đọc và hiểu được thứ chữ khắc trên trống đồng là chữ dạng nòng nọc, nên hiểu được nhiều ý nghĩa được khắc trên mặt trống. Ðiều thứ hai là tôi có nhiều lý chứng để nói rằng trống đồng được tìm thấy nhiều nơi ở Ðông Nam Á được phát xuất từ Việt Nam. Người Trung Hoa nói rằng trống đồng là của họ được tìm thấy ở các nơi thuộc miền Nam Trung Quốc, có từ trên ba bốn trăm năm trước Công Nguyên. Nhưng người Trung Hoa cũng quên rằng vào thời ấy các miền đất ở Nam Trung Quốc lúc bấy giờ là của người Bách Việt không phải của người Hán ở phía Bắc.”

Vấn đề này còn đang được các nhà khảo cổ học tranh luận. Nhóm học giả phương Tây, đặc biệt là Heger, cho rằng trống đồng Ðông Sơn là loại cổ nhất khi ông sắp xếp phân loại các trống đồng được tìm thấy ở nhiều nước Ðông Nam Á.

 

Sở dĩ các nhà khảo cổ học phương Tây từ thế kỷ 19 đều rất chú tâm nghiên cứu về trống đồng là vì trên mặt trống có nhiều dấu tích khắc ghi có thể cho chúng ta những hiểu biết về con người thời cổ ở miền này, một miền đất nằm trên con đường tiến hóa và phát triển của loài người nếu theo thuyết con người phát sinh từ Ðông Châu Phi đã di dân tới Châu Á rồi tỏa đến các châu lục khác. Trên mặt trống đồng Ðông Sơn nhiều hình được khắc cho chúng ta tìm hiểu về thủy tổ người Việt, văn hóa, tín ngưỡng và các sinh hoạt khác.

 

Sau phần thuyết trình là phần văn nghệ.

Luật Sư Michelle Mai Nguyễn cho biết: “Ðây là một chương trình văn nghệ dân tộc dưới chủ đề ‘Hồn Quê.’ Những chương trình như thế này thường được đi kèm với những buổi thuyết trình của Bác Sĩ Quang. Chương trình gồm có các tiết mục chính do nhóm Tam Ca Thanh Mai, Ngọc Tuyết, Thiên Nga phụ trách, Hát Sẩm do Hoài Hạnh và Anh Quân trình diễn, hò Huế do ca sĩ Quỳnh Hoa phụ trách, nhạc sĩ Võ Tá Hân trình tấu Tây Ban Cầm. Nhiều ca khúc về Huế được các ca sĩ trình bày và Ðăng Ðàn Cung sẽ do ban văn nghệ dân tộc Lạc Hồng hòa tấu. Chương trình cũng cón có phần cổ nhạc do một tài tử cải lương của Lạc Hồng trình diễn, bài Dạ Cổ Hoài Lang. Chương trình sẽ kết thúc bằng vũ Trống Cơm do ban tam ca Lạc Hồng Thanh Mai, Ngọc Quỳnh và Lâm Dung diễn tả.

 

Ðặc biệt là sau chương trình văn nghệ sẽ có buổi tiếp tân và ẩm thực cùng lúc có chương trình “Hát Cho Nhau Nghe,” một chương trình văn nghệ tự do để khách tham dự cùng hòa đồng niềm vui văn nghệ với nhau.

Chương trình có thể kéo dài cho đến tối. “Xin quý vị tham dự đến sớm vì số chỗ có hạn và chương trình sẽ được khai mạc đúng giờ. Vào cửa tự do,” theo lời nhắn gửi của Luật Sư Michelle Mai Nguyễn.
————————————————————————————————

*:Intro chapeau by Viet Hai Los Angeles:

Nền Văn Minh Trống Đồng Việt Nam

Nền văn minh của một quốc gia có thể xem như sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiến bộ tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội loài người. Các yếu tố của văn minh có thể hiểu khái quát là di sản tích lũy tri thức, tinh thần và vật chất của con người kể từ khi loài người hình thành cho đến thời điểm mà chúng ta xem xét đến. Ý tưởng đối nghịch với nền văn minh là sự hoang dã, sơ khai hay lạc hậu. Xét trên yếu tố lịch sử thế giới có những nền văn minh Âi Cập, La Mã, Hy Lạp, Khmer, Chămpa, Ấn Độ,… Việt Nam nền van minh cổ không ? Có chứ, hỏi bằng thừa. Quý ông Lê Văn Siêu, Trần Văn Đạt (đàn anh của người viết bài tại sân trường Petrus Ký), toubib Nguyễn Xuân Quang (cố vấn khoa niệu khoa cho người viết bài, mỗi sáng sáng ông Kahlil Gibran đánh thức mà không pee được bèn phone xin vấn kế ông anh mím chi cọp ngay trước khi quá trễ). Vâng, xứ Việt “năm-bờ Oanh” của phe ta có nền văn minh “Trống đồng” khá lẫm liệt, đặc biệt là trống đồng Đông Sơn đã kéo dài tồn tại trong gần một thiên niên kỷ mà về kiểu dáng có những biến đổi nhất định. Trong những năm qua giới khảo cổ và sử học quốc tế cũng như gốc Việt đã tìm hiểu và sưu khảo nghiên cứu thời kỳ dựng nước của các vua Hùng, các nhà khảo cổ học đã tiến hành công cuộc nghiên cứu về những diễn biến của trống đồng Đông Sơn. Vì vậy cho nên Trống đồng Đông Sơn là báu vật tiêu biểu của văn minh Việt Nam ngay từ thời kỳ dựng nước.

Lịch sử lập quốc của Việt Nam từ bao năm biến đổi, trống đồng Đông Sơn tiêu biểu cho nền Văn hóa Đông Sơn và nền văn minh Sông Hồng của người Việt cổ thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của nền văn hoá dân tộc Việt Nam. Hình ảnh trống đồng không chỉ là báu vật đặc trưng của văn hoá gốc Việt Nam mà còn là điểm hội tụ hồn thiêng sông núi được hình thành từ thời Hùng Vương dựng nước và được tích tụ tinh hoa dân tộc trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải qua từ thời đại các Vua Hùng đến thời đại của lịch sử lập quốc. Những chiếc trống đồng Đông Sơn được tìm ra trên khắp lãnh thổ của nước Việt Nam đã chứng minh hiển nhiên điều đó. Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, chiếc trống đồng đã là văn vật tượng trưng cho tinh hoa văn hoá cũng như ý chí quật cường của dân tộc Việt.

 

Ngay từ thuở ban sơ trống đồng là một loại nhạc cụ gõ bằng đồng hiện diện tại vùng Đông Nam Á và miền Nam nước Tàu HD-981, tức giai đoạn kỷ nguyên đồ đồng. Trống đồng không chỉ có chức năng nhạc cụ không thôi, mà nó còn có vai trò khác như làm biểu tượng cho quyền lực, tôn giáo… Theo tín ngưỡng của người Việt thì trống đồng là một vật linh vì có vị thần tự xưng là thần trống đồng, tức thần Đồng Cổ đã giúp nhiều triều đại Việt Nam trong việc giữ nước hộ dân từ thời Vua Hùng, đến nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê,… Trống được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong lễ hội, và trong chiến tranh khi người thủ lãnh bộ lạc kêu gọi mọi người từ khắp nơi tụ về để cùng chiến đấu. Trống thường thuộc về những người thủ lĩnh và là biểu tượng của quyền lực. Người thủ lĩnh có quyền lực càng lớn thì trống càng to và đẹp. Trống đồng cũng được coi là một tài sản quý báu như bảo vật cá nhân của các lãnh tụ, và được chôn theo khi người chủ của nó khi qua đời.

 

Ngày nay, vùng đất Thanh Sơn miền tây của tỉnh Phú Thọ, Việt Nam, là nơi vẫn còn lưu giữ tục lệ ngày hội Trống đồng của dân tộc Mường với “Đâm Đuống” và “Chàm thau”. Nước ta xui xẻo, một ngàn năm Bắc thuộc giặc Tàu HD-981, giặc Tàu “16 chữ vàng 4 tốt” chôm chỉa trống đồng Việt Nam khuân về phương Bắc làm của riệng. Ngày nay người ta thấy trống đồng Việt Nam tại bảo tàng viện Quốc gia Bắc Kinh. Rồi một trăm năm thực dân Pháp đô hộ, các khảo cổ gia đào xới trống đồng họ tự đồng bê về xứ, nhu trống đồng Đông Sơn hiện nay được trưng bày tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp. Nếu con cháu chúng ta muốn xem thì sang Paris hay Bắc Kinh mà ngó dù thèm nhỏ dãi mà chả đòi lại được. Muốn lấy lại chỉ có nước vác shotgun vào bảo tàng viện của họ mà đòi lại mà thôi.

 

Theo sử liệu cổ ghi nhận có liên quan đến trống đồng xuất hiện trong Sử Bản (chữ Hán: 史本), một tác phẩm kinh điển về các báu vật của xứ Tàu HD-981 từ trước thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Hồng thư này nay đã thất bản vì nạn đốt sách của quý ông võ biền không quý sách như Tần Thủy Hoàng và Mao Trạch Đông nên sách tiêu tan không còn, nhưng được trích dẫn lại một phần tại một cuốn sách cổ khác tức cuốn Thông điển (通典) của Đỗ Hữu (杜佑). Hậu Hán thư (後漢書), quyển 14 ghi rằng “Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận…”. Sách này còn chép rằng Mã Viện, tướng nhà Hán, sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng vào khoảng 40-43, đã tận thu trống đồng của các thủ lãnh địa phương của xứ ta bê về xứ Tàu “16 chữ vàng tốt”, tướng Tàu giữ làm của riêng trống đẹp, trống nào không hạp nhãn thì cho nấu chảy để đúc ngựa và cột đồng Mã Viện. Ngoài ra, các cuốn Việt Điện U Linh Tập và Lĩnh Nam Chích Quái thế kỷ 14 có ghi lại nhiều truyền thuyết về trống đồng. Các cuốn sử như Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng nói đến báu vật trống đồng.

 

Bàn về kích thước trống đồng thường có đường kính mặt khoảng 50 cm, cao từ 45 đến 50 cm, mặt trống phủ vừa sát đến tang trống. Điều này cho thấy chúng có kích cỡ trung bình so với các loại trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam. Giữa mặt trống có ngôi sao 12 cánh, không có tượng cóc trên rìa mặt trống. Phần trên thân trống phình ra, đỡ lấy mặt trống, phần dưới hình viên trụ tròn. Loại trống đồng này đúc bằng hợp kim đồng, âm thanh không vang, không trong như loại Heger I của trống đồng Đông Sơn.

Trống đồng của Việt Nam khá đa dạng, kiểu vẽ (design) mỹ thuật. Ngoài những loại trống Đông Sơn, xứ Việt “năm-bờ” Oanh của ta còn có trống dồng Hoàng Hạ và trống đồng Ngọc Lũ.

Việt Hải Los Angeles

Mời xem các bài chi tiết sau về trống đồng Việt Nam…

Ý nghĩa những hình vẽ trên bề mặt trống đồng Ngọc Lũ

Tìm hiểu ý nghĩa những hình vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ

( Việt Nam Văn Minh Sử – Lê Văn Siêu )
Lời nói đầu :

Theo sự phân loại của Hê-gơ (Heger) và bản tổng kê của các nhà khảo cổ tại miền Bắc, trong sách Thời Đại Đồng Thau, những trống đồng loại 1 phát hiện ở Việt Nam khoảng trên 70 chiếc. Số lượng tìm thấy đã hơn bất cứ một miền nào khác. Mặc dầu tướng Mã Viện đời Đông Hán khi qua đánh Giao Chỉ, đã tịch thu không biết bao nhiêu trống nữa, để đúc con ngựa kiểu mà chơi, và đúc cái cột đồng khắc chữ “Đồng Trụ chiết Giao Chỉ diệt“.

Những trống loại 1 đã thấy khá nhiều tại Thanh Hoá để có thể đoán chắc rằng Thanh Hoá là nơi sản xuất và những trống cùng loại thấy ở các nơi khác (Hà Đông, Hà Nam, Hà Nội, Hải Phòng, Hoà Bình, Cao Bằng, Lào Cai, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An) là những trống được kịp thời giấu đi. Đó là những trống có thể đoán được là của các tù trưởng đã thuê lò Thanh Hoá đúc. Đó là những vật biểu tượng quyền uy của tù trưởng.

The Dong Son bronze drums

Trong những di vật quý giá này , trống thuộc loại vừa kể, thuộc loại đẹp nhất, vẫn là trống tìm thấy năm 1902 ở Ngọc Lũ ( tỉnh Hà Nam ) hiện để tại viện bảo tàng lịch sử ở Hà Nội.

Các nhà khảo cổ có tinh thần khoa học mới, khi nghiên cứu về những di vật ấy chắc sẽ hứa hẹn nhiều khám phá về kỹ thuật, niên đại, tương quan tạo tác, tương quan sản xuất, xã hội, cả về trình độ tiến hoá mỹ thuật của dân tộc.

Chúng tôi nghiên cứu lịch sử, không bị ước thức bởi những mô thức, nên tự thấy được rộng tay đóng góp một phần tìm tòi thuộc về nội dung những hình vẽ. Tất nhiên không thiếu gì nhà khoa học mới mỉm cười cho là tưởng tượng, nhưng tìm hiểu ý nghĩa của một hình vẽ củ không có lời chú giải của tác giả bên cạnh, mà chẳng dùng tưởng tượng thì dùng cái gì ? Người ta đã tưởng tượng đây là bộ lạc thờ thần mặt trời, mặt trăng, hay thờ chim vật tổ. Nhưng có tinh thần khoa học nào cấm người khác không được có tưởng tượng khác, nhất là khi tưởng tượng này có thể hữu lý, dễ đúng hơn ? Huống chi chúng tôi có ở đây khá đủ những căn cứ của nền cổ học phương Đông mà dường như nhiều nhà khoa học mới vì lẽ nào đó không để ý tới khiến sự nhìn vào di sản văn hoá cũ ở Đông phương, mà thuần bắng con mắt Tây phương, thì có thể sẽ quên những khía cạnh quan trọng ở nột dung chăng ?

Chính vì ngại chuyện ấy mà chúng tôi có bản viết này, riêng đề cập tới hình vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, ước mong cho rằng nó sẽ là chìa khoá để mở nhiều những kho tàng khác có thể có trên những mặt trống khác. Chúng tôi không nói tới hình vẽ ở tang trống vì nó có giá trị trang trí nhiều hơn là thực tiễn.

Trống đồng Ngọc Lũ

Kể từ ngày cái trống này được moi ra khỏi chổ chôn giấu đến nay, những hình vẽ trên mặt trồng vẫn là một thách đố đối với các nhà khảo cổ học, cũng như với nhân dân Việt Nam muốn tìm hiểu nó định nói cái gì ?

Chúng tôi rất kính phục và cảm ơn các nhà khảo cổ Tây phương nhất là ở trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, để rất nhiều năm tháng và tâm tư cùng đem những sử học, mày mò, khảo sát, suy luận và giả thiết. Các vị ấy đã viết nên cả những bộ sách lớn khiến trống đồng trở thành một vật nổi tiếng trên Thế Giới. Nhờ các vị mà rất đông những nhà học giả của nước chúng tôi khi đề cập đến di sản văn hoá này cũng đã khiến được cho quần chúng bình dân biết đại khái rằng ngày xưa các bộ lạc của tổ tiên mình thờ vật tổ là con chinh tên là Lạc, thờ thần mặt trời ( vì hình vẽ ở trung tâm mặt trời loé ra nhiều tia sáng),lại có những hình người đội mũ cánh chim, mặc áo xòe ra như lông cánh chim, rồi có cả mắt chim ở đầu mũi thuyền, đầu mũi tên, trên mái chèo, bánh lái thuyền, …

Nhiều vị xác quyết rằng bộ lạc cổ xưa này sau đó di cư đến các hải đảo Thái Bình Dương, nên có liên hệ bà con với bộ lạc Dayak ở Bornéo, còn có hình thuyền giống như trên trống dùng vào dịp tang lễ. Nhiều vị khác còn thêm tại miền Bắc có bộ lạc hay hoá trang cái đầu thành đầu chim trong lễ nghi cúng kiếng theo điệu trống đồng.

Trống vốn không biết nói, cũng không biết thế nào mà dám cãi. Thôi thà tuỳ người ta nhớ được một tiền tích nào ở đâu thì sẵn ghép cho nó những nội dung khác nhau. Ra sao nó cũng phải chịu.

Chúng tôi chỉ trộm nghĩ rằng, trống đồng xưa chỉ tù trưởng mới được phép có, nó như một ấn ngọc tỷ, biểu tượng uy quyền của vị Hoàng Đế, người ta chả nên lầm mà hiểu nó như một sản phẩm công nghệ để trao đổi trong phiên chợ, và hiểu những hình vẽ là để cho vui mắt người mua dùng.

Việc cần là tìm cái ý tiên khởi của người xưa gởi gắm vào hình vẽ và nếu có thể được thì tìm hiểu xem hình vẽ đó để làm gì ?

Tạm coi là hình mặt trời ở giữa mặt trống, nhưng sao lại 14 tia sáng mà không hơn, không kém ?

Sao lại chỉ có 18 con chim ?

Sao lại có 6 con gà, 10 con hươu ? Rồi 8 con gà 10 con hươu nữa ?

Nếu làm cho đẹp sao không làm đều nhau ?

Có lẽ chăng đây là cái trống của người tù trưởng quản lãnh 14 vị tù trưởng nhỏ khác mà tiếng trống đánh lên thì 14 nơi kia đều phải nghe ?

Hoặc đây là một đám rước và người ta hoá trang chăng ? Nhưng đâu là đầu, đâu là cuối đám rước ? Và sao lại có người giã gạo ? Người ngồi nhà sàn ?
Tài ba và nhiệm vụ của tù trưởng

Một tù trưởng hẳn phải có nhiều đám dân đến hỏi những việc thuộc đời sống hằng ngày của họ. Ông phải có hiểu biết gì hơn họ và chỉ bảo họ ra sao ?

Chẳng hạn, có đám hỏi đêm nay có thể đi săn được không ?

Liệu có trăng không ? Trăng lên vào chặp tối hay gần sáng ?

Ngày mai nước có lên không ? Có thể cho thuyền ra khơi đánh cá được không ?

Mùa này nên ở nhà hay đi hái trái ?

Đã nên giả gạo để ủ làm rượu dùng vào ngày lễ nào đó chưa ?

……

Ông tù trưởng phải có nhiệm vụ biết ngày giờ, sáng tối, trăng tròn trăng khuyết, tiết trời nóng lạnh, mưa gió, con nước, tình hình muôn thú, cũng như những dịp lễ lạt phải chuẩn bị trước. Sự tích lũy kinh nghiệm của nhiều đời tù trưởng đã phải được ghi lại, cũng như phải có gì để mà ghi lại, để mà làm việc và hướng dẫn quần chúng.

Một quyển lịch cổ xưa

Vì các lý lẽ trên, vị tù trưởng phải có một quyển lịch năm, tính theo tuần trăng, theo mùa màng khí tiết, đặt ngay cạnh mình, để dân hỏi gì là tra ngay ra được câu trả lời.

Lịch ấy vạch trên đồ đất nung thì dể vỡ, dễ mòn, không truyền được nhiều đời. Vạch trên mặt trống đồng thì thật là tiện, gọn, đúng với vật biểu tượng uy quyền của mình cùng cả dòng tù trưởng.

Vậy những hình vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là một quyển Âm Lịch, có tháng đủ, tháng thiếu, có đêm trăng tròn, trăng khuyết, hay không có trăng, lại có cả năm nhuận và chu kỳ 18 năm để tính tháng dư, cũng như có những chỉ vạch về 4 mùa trong năm.

Nếu vậy thì không những không có gì là mê tính ( thờ chim, vật tổ mặt trời, mặt trăng, ca vũ để cầu thần linh,…) mà có vẻ như người xưa còn có tinh thần thực tế, hợp lý, khoa học, chính xác, chưa biết chừng người đời nay còn phải giật mình là đằng khác nữa.

Cách đếm ngày và đêm

Năm âm lịch theo kinh nghiệm nhiều đời nghiên cứu mặt trăng, vẫn được tính là 354 ngày ( dương lịch tính 365 ngày ) chia ra cho 12 tháng, thì mỗi tháng 29 ngày gọi là tháng thiếu và có dư 6 ngày để thêm vào cho 6 tháng khác gọi là tháng đủ.

Vậy một năm âm lịch có 6 tháng 29 ngày và 6 tháng 30 ngày.

Cứ năm năm lại có hai năm mỗi năm dư 1 tháng, gọi là năm dư tháng nhuận.

Và cứ sau năm thứ 18, qua năm thứ 19 gọi là 1 chương thì lại không tính là năm dư, chỉ có 12 tháng thôi, kể như là năm thường vậy.

Do đó, vòng hình vẽ 18 con chim mỏ dài cánh lớn ở ngoài cùng là hình vẽ một chu kỳ 18 năm, mỗi con chim ấy là 1 năm.

Vòng hình vẽ thứ nhất ở trong cùng gần trung tâm có 6 người trang phục kỳ dị mỗi bên vòng tròn đối nhau, đã không phải người Giao Chỉ ăn bận như thế, mà đó là những vị thần cai quản mỗi vị 1 tháng, trong 6 tháng đầu ở 1 bên và 6 tháng cuối mỗi năm. Thêm có một hình người thấp bé hơn cạnh 6 người ở một bên, đó là để ghi tháng nhuận của năm dư.

Vòng hình vẽ thứ nhì ở giữa, có 6 con gà, 10 con hươu, rồi lại 8 con gà, 10 con hươu, ấy là hình vẽ những con vật tương trưng. Gà chỉ đi ăn vào ban ngày, Hươu đi ăn vào đêm trăng sáng. Có 6 đêm vào đầu tháng từ 1 đến 6 không trăng; và 8 đêm vào cuối tháng từ 22 đến 30 cũng không trăng. Những đêm ấy không đi săn thú được. Và sau đó, khi có trăng thì có thể tổ chức đi săn đêm.

Theo kinh nghiệm cũ truyền mãi tới ngày nay, có 6 đêm đầu tháng không trăng, người ta tính :

Mồng 1 lưỡi trâu – Mồng 2 lưỡi gà – Mồng 3 lưỡi liềm – Mồng 4 câu liêm – Mồng 5 liềm vật – Mồng 6 phạt cỏ – Mồng 7 tỏ trăng, là bắt đầu tuần trăng sáng.

Tuần trăng sáng kia dài đến đúng đêm 10 rằm trăng náu (đáo : đủ ). Mười sáu trăng treo ( chiêu : sáng sủa ). Mười bảy trải giường chiếu ( rủ giường chiếu ). Mười tám giương cạm ( trương : xếp đặt, chẩm : cái gối ). Mười chín bịn rịn (bị : áo ngủ đắp trùm, rị : tối ). Hai mươi giấc tốt ( ngủ ngon ). Hai mốt nữa đêm ( mới có trăng ).

Từ 22 lại vào tuần không trăng, ( 22 – 30 ) nên không cần tính nữa.

Cái hoa 14 cánh ở trung tâm không phải là hình mặt trăng hay mặt trời của bộ lạc thờ những tinh thể ấy, đó là hình vẽ để đếm đêm và ngày.

Đêm là khoảng cách nằm giữa mỗi 2 ngày, trong cả tháng 29 ngày. Tổng số khoảng cách ấy là 28 nếu là tháng thiếu, 29 nếu là tháng đủ.

Cái hoa 14 cánh, đếm hết vòng thứ nhất từ 1 đến đêm trăng tròn (15, đêm rằm ) và đếm vòng thứ 2 nữa, từ 16, thì lại trở về đêm không trăng (đêm 30).

Bắt đầu đếm từ đâu ?

Tìm ra đầu mối là vấn đề quan trọng. Chỉ có 1 điểm trong cả vòng tròn để dùng khởi đầu cuộc đếm. Ấy là điểm chỉ vào đêm 30 không trăng.

Ta biết rằng vào đầu tháng có 6 đêm không trăng.

Vậy điểm khởi đầu để xem lịch phải nằm ở đuôi con gà cuối cùng trong dòng 6 con.

Thực hành việc ghi lịch và xem lịch :

Người ta có thể dùng một chất màu (son phấn, mực đen) mà bôi lên hình của mỗi cánh hoa khi có 1 đêm qua. Chẳng hạn đến cánh thứ tư mà vòng ngoài chưa có gì cả thì đó là đêm mồng 4 tháng giêng năm đầu của chu kỳ. Nếu vòng ngoài đã có 3 hình người tượng trưng cho tháng và vòng ngoài cũng đã có 6 con chim bị bôi rồi thì đó là đêm mồng 4 tháng tư năm thứ 7 của chu kỳ.

Người tù trưởng có thể lấy năm đầu của mình chấp chưởng quyền lãnh đạo làm năm đầu chu kỳ. Khi nhìn vào lịch thì biết rõ mình đã cai trị được bao nhiêu năm.

Con vật nhỏ theo sau mỗi con CHIM THỜI GIAN của một năm là để dành ghi năm nhuận 13 tháng. Cứ 5 năm thì bôi màu đánh dấu vào hai con vật nhỏ ấy, để hết tháng sáu nữa mới bôi vào tháng 6.

( Việc làm có vẻ mất công. Như ngày nay, mỗi ngày người ta cũng phải bóc một tờ lịch, và nếu lịch tháng thì mỗi ngày cũng phải lấy bút đánh dấu để hết tháng thì xé một tờ ).

Quyển Âm Lịch dùng cho nhiều năm :
Như vậy, ta thấy quyển lịch này dùng được cho nhiều năm và chúng tôi nghĩ rằng ngay cả bây giờ vẫn dùng được, để có thể mệnh danh là Nguyệt Lịch Vạn Niên.
Làm sao biết chính xác năm nào nhuận vào tháng nào ?
Điều ấy chưa có tài liệu nào khác để hiểu thêm. Có lẽ người xưa đã dùng lối chiêm nghiệm về khí tiết trong nhiều năm, nhiều chu kỳ, thấy có diễn biến trở lại như cũ mà bồi bổ dần cho sự hiểu biết chăng ?

Biết đúng tháng nào đủ, thiếu , hoặc hai ba tháng đủ liền, hai ba tháng thiếu liền, và nhất định vào đâu trong năm, tất cũng do chiêm nghiệm.

Hoặc còn một dụng cụ để ghi nhớ nào khác, trên một mặt trống khác, hay một vật nào khác mà ngày nay chưa tìm ra ?

Điều ta có thể biết chắc được là người xưa đã quan sát tinh tế rồi chiêm nghiệm trước, sau mới tính toán, để lại chiêm nghiệm nữa, mà kiểm điểm những tính toán kia.

Sách Xuân Thu Tả Truyện có chép rằng : mùa đông tháng 12 (Năm Ai Công thứ XII) có châu chấu phá hoại. Quý Tôn hỏi Khổng Tử, ông đáp : “Tôi nghe rằng: chiều mà không thấy sao hoả nữa thì côn trùng ẩn phục hết. Nay sao hoả vẫn còn thấy chuyển vận về phía Tây, chắc các nhà làm lịch đã lầm”. Ý nói theo lịch Trung Hoa là tháng chạp. Đáng lý ra thì sao hoả không còn thấy được vào buổi chiều. Sâu bọ phải ẩn phục hết rồi vì lạnh. Thế mà nay sao hoả vẫn còn thấy hiện, côn trùng còn phá phách, như vậy các nhà làm lịch Trung Hoa thời ấy đã lầm, đáng lẽ phải có tháng nhuận nữa mới phải.

Đó chính là thể thức và phương pháp làm lịch chung cho cả mọi giống dân trên thế giới, mà quyển lịch trên mặt trống đồng Ngọc Lũ đã có sẵn những gì để phòng hờ chỗ ghi năm dư tháng nhuận, thì trước khi nó hiện ra là một bảng lập thành, dòng dõi các tù trưởng Giao Chỉ không phải chỉ chừng năm ba thế hệ. Chúng ta có thể đoán không sợ sai lầm là ít nhất cũng phải mươi cái chu kỳ 180 năm (tức ít nhất là 1800 năm cho đến khi cái trống Ngọc Lũ đầu tiên được đúc), còn hơn nữa thì không dám biết.

Những kết quả chiêm tinh lịch số riêng :

Vâng, riêng của dòng tù trưởng Giao Chỉ. Đây là những bằng chứng hùng hồn nhất cho biết đích xác hồi đầu lịch sử, giống dân Giao Chỉ ở gốc tổ sống mà chẳng dính dáng gì về văn hoá với giống người Trung Hoa.

Người Trung Hoa cho rằng nền thiên văn của họ bắt đầu với Phục Hi, khoảng 2850 năm trước kỷ nguyên Tây lịch. Đến đời Hoàng Đế ( 2657 – 2557 ) ta đã thấy họ dùng cách tính năm tháng theo chu kỳ lục thập hoa giáp ( chu kỳ 12 năm ). Hán thư Nghệ Văn Chí có ghi : “Hoàng Đế ngũ gia lịch tam thập quyển”. Cháu ba đời Hoàng Đế là Chuyên Húc (2545 – 2485 ) rất có nhiều về thiên văn. Trúc Thư Ký Niên viết : Sau khi lên ngôi được 13 năm, vua bắt đầu làm lịch số, và tính toán vị trí các sao trên trời. Xuân Thu Tả Truyện cũng ghi nhận rằng đời vua Chuyên Húc đã có những quan coi về lịch, về nhị phân (xuân phân, thu phân) và nhị chí (đông chí, hạ chí) và đoán được các ngày đầu mùa ( Xuân Thu Chiêu Công năm XVII ). Đời vua Nghiêu ( 2356-2255) đã biết vị trí nhị thập bát tú, nhật nguyệt ngũ tinh, đã định năm là 365 ngày, đã biết đặt tháng nhuận.

Riêng dòng tù trưởng Giao Chỉ, một mình hùng cứ một cõi trời nam, thì tính năm 354 ngày với 6 tháng đủ, 6 tháng thiếu trong một năm, cho đúng với tuần trăng và khí tiết, mà đến ngày nay, âm lịch từ Trung Hoa in đem qua bán, cũng tính theo như thế. Nếu cần tính sổ vay mượn, thì có lẽ người Trung Hoa đã thiếu nợ của ta vậy.

Lịch in vào sách và lịch khắc trên mặt trống :

“Hoàng Đế ngũ gia lịch tam thập tam quyển”. Thật đã rõ: người Trung Hoa in lịch trên sách và lịch 365 ngày. Người giao Chỉ khắc lịch vào mặt trống đồng và lịch 354 ngày. Người Trung Hoa dùng Thiên Can, Địa Chi tính năm tháng ngày theo chu kỳ thập lục hoa giáp. Người Giao Chỉ tính chu kỳ 18 năm và những bội số của 18 ấy. Tỉ như 180 là gồm 3 lần lục thập hoa giáp (180=3×60) . Kết quả vẫn như nhau vậy .

Riêng việc có một sáng kiến sắp xếp ngày tháng năm của quyển lịch cho tiện dụng hàng vạn năm thì đã thật là một sáng chế không kém cõi về khoa học, hợp lý, nhất là khi chúng ta được biết chưa thấy dẫn nước nào có một quyển lịch như vậy (Âm lịch hay Dương lịch ).

Đi sâu vào chi tiết :

Hướng tiến chung :

Tất cả các hình vẽ chim, gà, hươu, người, đều tiến theo một hướng trong vòng tròn, từ trái qua phải, thuận theo chiều quay của Trái Đất đối với người quan sát, day mặt về hướng Bắc ( ngược chiều quay của kim đồng hồ ).
Bởi lịch này là nguyệt lịch nên đặt tất cả theo chiều quay chung ấy.
Phương tí ngọ :

Đặt đúng khởi điểm của lịch ở cuối con gà trong dòng 6 con như đã nói, thì phương tí ngọ (bắc nam) chếch qua tia cuối bên tay trái của 14 tia ở trung tâm. Ấy là tiết đông chí nhất dương sinh, ngày đầu năm thiến văn, các loại vật đông miên bừng tỉnh dậy và mầm của cây cối cũng bắt đầu đội vỏ đâm lên.Ta gặp trên đường thẳng vạch từ trung tâm ra vòng thứ nhất, hình vẽ của những gì như người ở trong nhà sàn vừa tỉnh dậy.

Còn kéo thẳng đường ấy ngược lên phái Nam , là thái dương cư ngọ, ấy là ngày hạ chí, trời nóng nực. Ta gặp hình vẽ của những gì như người làm việc đồng án vắng nhà.

Phương mẹo dậu :

Từ Tây sang Đông hới chếch lên, không vuông góc với Nam Bắc, ta gặp ở 2 đầu trên đường thẳng vạch tại vòng tròn thứ nhất, hai cái hình giống nhau, cùng khum tròn với 2 cột 2 bên, ở giữa một bệ như bệ thờ. Ấy là Xuân phân, Thu phân, khí trời mát mẻ, mọi người phải lo làm việc tế lễ.

Bốn ngày thuộc nhị phân nhị chí này chính là 4 cái mốc thời gian cho người ta căn cứ để làm lịch.

(Tóm lượt đoạn viết về ghi chú trong sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn : Không những bóng mặt trời khác ở những ngày nhị phân nhị chí, cả ngày dài ngày ngắn cũng khác nhau. Cả mặt trời mọc, lặn của những ngày nhị phân nhị chí cũng vào những thời khắc khác nhau).

Chúng ta không còn những dụng cụ của người Giao Chỉ đã dùng để đo thời gian, nhưng chắc chắn phải có, thì khi chiêm nghiệm mới biết được có những gì khác nhị phân nhĩ chí, để người ta dùng nó như những cái mốc thời gian mà làm lịch.

Phương tí ngọ và phương mão dậu với chòm sao bắt đẩu :

Trên mặt trống đã có những phương Bắc Nam Đông Tây như vừa nói, thì trống tất nhiên phải được đặt theo phương hướng ấy trước mặt tù trưởng.

Do đó ngoài công dụng làm lịch, trống còn là một địa bàn cho một bộ tộc, khi đã định cư, để tìm ra phương hướng đi và về trung tâm định cư của mình, dù bằng đuờng thuỷ hay đường bộ.

Trên hình thuyền, ở tang trống, có vẽ cái trống không thể hiểu là phẩm vật đem bán vì chỉ có một cái và lại đặt như thế. Đó là “ cái bàn biết phương hướng “đi về. Người đứng trên cầm cái gì như cung tên nhưng không nhắm để bắn gì cả, đó là công cụ xem sao mà xoay hướng thuyền.

Hình thuyền trên thân trống đồng Ngọc Lũ.
Các hướng Đông Tây được ước định theo chiều xoay của kim đồng hồ. Đó là khi người ta quan niệm Trái Đất đứng yên một chỗ, chỉ mặt trời mọc đằng Đông , lặn đằng Tây.

Nhưng khi người ta chiêm nghiệm và quan niệm Mặt Trời đứng nguyên vị và Trái Đất chạy xung quanh Mặt Trời theo quỹ đạo thực của nó, thì phương hướng lại được ước định như sau :
Vì vậy, trên mặt trống đồng ta thấy :
Vấn đề hướng Đông Tây, theo sử gia Hy Lạp Hérodote, ở thế kỷ V trước CN, khi tiếp xúc với các tu sĩ Ai Cập, ông được các vị này cho biết trải qua 341 thế hệ thiên vương Ai Cập ( tính ra 11 ngàn năm ) đã có 4 lần mặt trời mọc và lặn ở phương khác nhau. 2 lần nó đã mọc ở phía nó lặn bây giờ và 2 lần nó đã lặn ớ phía nó mọc bây giờ.

Nhà học giả Nga Immanuel Velikovsky khi dẫn điều ấy trong sách “Tinh Cầu va chạm” ( Modes en collision ) còn nhắc thêm nhiều cổ tự Ai Cập khắc trên lá giấy papyrus nói về sự lộn ngược của Trái Đất hồi 2 thiên niên kỷ trước Tây lịch, không thể cho là mơ hồ được những lời như : Harakhte ( mặt trời chiều ) mọc ở phương Tây. Ông lại dẫn thêm những chữ khắc trong các kim tự tháp : “Mặt Trời đã thôi ở phương Tây và bắt đầu chói sáng ở phương Đông”. Sau khi có hiện tượng đảo ngược phương hướng ấy, thì danh từ phương Tây và mặt trời mọc đã không còn đồng nghĩa với nhau nữa, mà người đời đã phải nói thêm để xác định : l’Quest, qui est à l’Occident (phương Tây là ở về phương Tây).

Theo luận cứ của tác giả thì đó là kết quả của hiện tượng lộn ngược trục xoay của Trái Đất. Chúng tôi chưa dám tin là đúng như vậy, bởi vì đúng như vậy thì kể từ ngày đổi phương hướng Đông Tây ấy, mà chữ khắc trong kim tự tháp ghi nhận, và đây mặt trống vẽ ra khi chưa đổi phương hướng, người ta tất phải chiếu theo để ước định rằng quan niệm và chiêm nghiệm này có tuổi thọ xưa hơn quan niệm và chiêm nghiệm ghi trong kim tự tháp.

Quan sát mặt trăng và thuỷ triều :

Tù trưởng cần biết đích xác thuỷ triều lên xuống để chỉ dẩn dân chúng làm ruộng hay ra khơi. Cho nên ông cần ngồi đồng hướng mới nghiên cứu được mặt trăng và con nước.

Kinh nghiệm không sai dạy từ xưa đã cho biết rằng :

  • Mặt trăng đến phương Mão Dậu thì thuỷ triều dâng lên ở phía Đông, Tây. Mặt trăng đến phương Tí Ngọ thì thuỷ triều dâng lên ở phía Bắc, Nam .
  • Từ mồng một đến ngày rằm, con nước thường chậm một đêm. Từ ngày rằm đến ngày mồng một, con nước thường chậm một ngày. Trước và sau ngày mồng một và ngày rằm, mặt trăng đi mau hơn, cho nên 3 ngày trước cuối tháng thì con nước thượng thế lớn hơn.
  • Ba ngày sau ngày mồng một, con nước đương thế to tát. Trong ngày rằm con nước cũng như thế. Trong thời trăng lưỡi liềm, mặt trăng đi hơi chậm, cho nên con nước lên xuống hơi kém.
  • Trong một tháng, con nước lên mạnh sau ngày mồng một và ngày rằm.
  • Trong một năm, con nước lên mạnh vào giữa mùa xuân và mùa thu.
  • Con nước ban ngày trong mùa hạ thì to ………

Đó là những chiêm nghiệm của người ở hải khẩu vùng sông Mã, người ở Phong Châu trong đất liền sợ không có chiêm nghiệm ấy.
Con chim thời gian :

Trên mặt trống ở vòng ngoài cùng, kể như vòm không gian, ta thấy vẽ những con chim mỏ dài cánh lớn đang bay. Không phải là chim vật tổ, mà đó là biểu tượng của một năm qua, do người ta quan sát thấy con chim ấy bay vút ngang trời vào mùa này năm ngoái, thì năm nay cũng mùa này, cỡ ngày này lại thấy nó bay.

Chu kù 18 con chim :

Tức là đã có chu kỳ 18 năm. Sở dĩ chỉ có 18 không hơn không kém số ấy là vì người ta dựa theo thang biểu 9 năm trước để tính ngày nguyệt sóc 9 năm sau.

Sách Vân Đài loaị ngữ của Lê Quý Đôn có chép định thứ tính lịch như sau :

Ngày mồng một của mỗi tháng vốn từ xưa đã có phép tắc.

Quy định ngày ấy của 9 năm trước đem dùng lại để quy định ngày ấy của 9 năm sau.

Gặp ngày ấy của tháng đủ ở 9 năm trước thì đếm liên tục từ can cũ của ngày ấy đến can thứ năm, từ chi cũ của ngày ấy đến chi thứ chín ( theo số lẻ, để định can chi cho ngày ấy tháng ấy của chín năm sau ).

Gặp ngày ấy của tháng thiếu ở 9 năm trước cũng đếm như thế, nhưng dùng can thứ 4, chi thứ 8 ( theo số chẵn để định can chi cho ngày ấy tháng ấy ở chín năm sau ).

Gặp năm thứ 36 = 6×6 = 18×2 của chu kỳ thì nên lưu ý suy tính cho kỹ. Phải tính xem trong vòng 36 năm ấy có bao nhiêu số lẻ thuộc về tiết Hàn lộ. Rồi ông lấy thành quả ấy để quy định ngày Lập Xuân của năm mới này.

Nếu tính toán theo căn bản đó thì không sai lầm.

Bốn mươi bảy năm về trước có nhuận vào tháng nào thì nay phải gia thêm 2 tháng để tính tháng nhuận. Giảm tăng như thế thì không sai vào đâu được.

Tất cả các phép tính trên đây có thể có bàn tay mà tính ra được.

Ví dụ :

Giả như năm Mậu Tý, tháng giêng là tháng thiếu, ngày mồng một là ngày Ất Dậu, can ất đến can thứ tư là Mậu, chi Dậu đến chi thứ tám là Thìn. 9 năm sau là năm Bính Thân, tháng giêng ngày mồng một là ngày Mậu Thìn.

Giả như năm Mậu Tý, tháng hai là tháng đủ, ngày mồng một là ngày Giáp Dần. Can giáp đến can thứ năm là can Mậu, chi dần đến chi thứ chín là chi Tuất, 9 năm sau là năm Bính Thân, tháng 2 ngày mồng một là ngày Mậu Tuất.

Cũng trong Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn còn có bí quyết tính ngày mồng một và ngày rằm như sau :

Mồng một tháng giêng của 9 năm trước là ngày Thìn.

Ngày rằm tháng hai của 9 năm sau cũng là ngày Thìn.

Mồng một thàng hai của 9 năm trước là ngày Thìn.

Ngày rằm tháng hai của 9 năm sau cũng là ngày Thìn.

Chúng ta chưa biết rõ người Giao Chỉ khi quan niệm lịch với chu kỳ 18 năm đã gọi tên tháng như thế nào, và đã những số can chi gọi bằng những tên nào khác để tính ngày ra sao. Nhưng hẳn đã phải có thì đời sau mới noi theo bí quyết cũ mà làm những bài thơ đặt công thức cho người làm lịch. Cả những kết quả chiêm nghiệm về khí tiết, tháng nhuận., ngày Lập Xuân,… hẵn cũng đã phải có để người đời sau chỉ tuân theo thôi.

Sáu con gà và tám con gà :

Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” đã dẫn lời sách Hoàn Vũ ký mà cho biết rằng : ở Ái Châu về huyện Di Phong có giống gà gọi là Trào Kê, khi tới kỳ nước triều lên thì gáy để báo tin. Sách ấy cũng có nói tới một giống gà khác ở mạng thượng du là Cẩm Kê, lông có nhiều sắc xanh đỏ trắng xen lẫn như nền gấm.

Trên mặt trống, có thể chắc được là người ta vẽ hình con Trào Kê, một đặc sản địa phương có linh tính hữu ích cho cuộc sống, lại có liên hệ tới công dụng của trống về sự quan sát thuỷ triều.

Nhưng tại sao lại vẽ sáu con gà sau ngày mồng một và ngày rằm. Trong khi theo kình nghiệm chỉ 3 ngày trước và 3 ngày sau những ngày ấy thì con nước mới ở thế lớn hơn ? Và tại sao lại vẽ tám con gà bên kia vòng tròn, sau và trước 10 con hươu ?

Phải chăng để nói về 6 đêm đầu tháng và 8 đêm cuối tháng không trăng, không nên tổ chức đi săn đêm?
Mười con hươu lại 10 con hươu :

Hươu vẽ ở đây là hươu sao, có đốm lông trên mình, và vẽ thành từng cặp : đực đi trước, cái đi sau, tất cả đều có sừng. Đó là con vật có tên là lộc, hay ở núi cao, tiết Hạ Chí rụng sừng ( khác hẳn với nai, chỉ con đực có sừng và hay ở hốc núi nên tiết Đông Chí rụng sừng).

Theo tục truyền thì hươu thuộc loài tiên thú, 60 năm ắt có ngọc quỳnh, ở gốc sừng có dấu tích lấm chấm sắc tím. Do đó cổ ngữ nói con hươu có ngọc nên sứng vằn, con cá có châu nên vảy tím. Đặc biệt hơn là hươu trắng, người xưa coi hươu trắng xuất hiện là một điềm may. Cho nên hễ bắt được nó thì người ta dâng về cho vua và sẽ được thưởng.

Theo tài liệu của sách sử và địa lý cũ, chỉ Thanh Hoá có nhiều loài này. Vùng phía Bắc từ Ninh Bình trở ra thì hiếm dần. Vùng phái Nam cũng vậy. Từ đèo Hải Vân trở vào thì không thấy nữa, chỉ có nai thôi.

Điều đáng nói ở đây là người ta vốn biết tánh con hươu hay dâm, một con cái thường giao cấu với vài con đực. Vậy mà trên mặt trống người ta vẽ cặp nào cặp ấy, không lộn xộn, con đực đi trước, con cái đi sau. Người ta muốn sắp xếp đời sống vợ chồng của chúng nó vào khuôn khổ luân lý ? Hoặc đó là dấu hiệu để nói lên cuộc sống định cư, chấm dứt thời kỳ thị tộc mẫu hệ ?

Riêng việc vì sao vẽ 10 con hươu, theo ý chúng tôi phỏng đoán có lẽ con số 10 chỉ là con số toàn vẹn, để nói rằng nhiều lắm, đầy đủ lắm, mà người đi săn đêm sẽ gặp vào đêm trăng sáng ?

Vòng sinh hoạt của người :

Vòng này quan trọng hơn, tiết rằng việc nghiên cứu của chúng tôi bị hạn chế, vì ngại rằng người vẽ có thể đã theo định kiến cũ về người lên đồng, ca múa cầu thần linh, không lưu ý đến những ý nghĩa tượng trưng của các hình vẽ, khiến có thể đã bỏ sót những chi tiết có ích chăng ?
Tiết đông chí :

Ta gặp trên đường bán kính từ trung tâm bông hoa kéo ra, hình vẽ cái nhà sàn, có hai vợ chồng con chim trên nóc mái, và trong nhà có ba người đang nằm vừa ngồi nhỏm dậy. Góc phải của nhà sàn ở mặt đất có cái gì như cái cối đặt nằm nghiêng. Góc trái có đứa nhỏ gõ vào cái gì như cái trống con, có vẻ để báo thức.

Ta hiểu rằng trải qua một mùa đông, các loài vật đông miên ngủ vùi đến ngày đông chí mới tỉnh dậy, mầm mộng của các loài hoa lá trên cành cũng đến ngày ấy mới “ngồi dậy”. Cả đến cái cối nằm ngủ mãi có lẽ cũng sắp được dựng dậy để làm việc.
Tiết hạ chí :

Đối điểm của Đông chí bên kia vòng tròn, trên cùng đường kính là tiết hạ chí.

Ta gặp những cái nhà sàn ấy. Nhưng trên nóc mái chỉ có một con chim trống. Vợ nó đâu ? Vợ nó đương ở nhà ấp trứng. Do đó mùa hè phải đóng bè làm phúc, không được phá phách các tổ chim, bắt được chim còn phải phóng sinh nó đi, để nó về nuôi vợ con nó. Thương biết là bao nhiêu, truyền thống ấy còn mãi đến thế hệ chúng ta !

Trong nhà sàn ta thấy hai đứa nhỏ đối mặt nhau, tóc buông sau gáy, ngồi co dầu gối đặt hai bàn chân lên nhau và đưa hai bàn tay lên cao để úp vào nhau cho rơi cái gì như hai viên sỏi. Đúng là hai đứa trẻ đang vui chơi, Cha mẹ chúng đâu ? Cha mẹ chúng đi làm việc ngoài đồng áng.

Tháng tư đi tậu trâu bò.

Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm.

Câu ca dao này về sau mới có. Nhưng thời dụng biểu của nhà nông trong hoàn cảnh địa lý, khí hậu, và điều kiện đất nước, để làm mùa, thì đã có ngay từ hồi đầu định cư. Hình vẽ đã nói lên thực rõ.

Bên dưới nhà sàn, góc phải, có cái cối đặt ngang và bên trái có một đứa trẻ ngửa mặt, tóc xoã sau lưng, đưa tay kéo một trục tròn có vẻ xoay được một trục đứng. Hình vẽ có nghĩa xoay và nặn đồ gốm chăng ? Còn cối đặt nằm nghiêng có nghĩa là bận việc đồng áng, nghỉ giã gạo chăng ?

Hội hè, gõ trống :

Tiếp theo nhà sàn nói về Đông chí và Hạ chí, đều có cảnh gõ trống và đều có 4 cái đặt úp trên bệ của nó trong 4 cái hố. Bệ là một chân đội một mặt tròn, như hình cái nấm, để trống úp đúng vào vành mặt ấy. Mặt ấy chắc là bằng gỗ, hẵng phải khoan thủng nhiều lỗ thì khi gõ, tiếng trống mới có lối thoát ra và vang đi xa. Nếu đúng như dự đoán thì tuỳ theo mặt tròn có nhiều hay ít lỗ, và lỗ lớn hay nhỏ của 4 cái khác nhau, mà âm thanh của cả 4 cái khi cùng gõ lên đã có thể trở thành một bản hòa tấu.

Theo hình vẽ thì trống đặt bên dưới nhà sàn, trong hố, không trông thấy. Người ngồi trên sàn gõ vào mặt trống. Như vậy trống để gõ đã không cùng loại với trống biểu tượng quyền uy của tù trưởng như trống Ngọc Lũ này.

Bên cạnh nhà Hạ chí, cả bốn người gõ trống đều ngồi quay mặt theo hướng chung, riêng bên cạnh nhà Đông chí lại có một người đứng và quay lưng lại hướng chung ấy và một người ngồi đưa bàn chân để cho dùi trống không gõ xuống. Đó là hai điệu nhạc khác nhau của 2 dịp hội hè lớn khác nhau trong một năm.

Sửa soạn hội hè :

Người ta phải sửa soạn từ trước ngày Đông chí, bằng cách giã gạo để ủ lên men làm rượu, hoặc để làm bánh, nấu xôi.

Hình hai người giã chày đứng trong một cái cối ở trước hai nhà đông chí và hạ chí nói về việc ấy. Nhưng cảnh giã gạo bên hạ chí có vẻ thong thả, người đàn ông chếch một chân đạp vào chân cối.

Còn bên đông chí thì vội vã hơn, ngưởi đàn ông đứng cả hai chân trên mặt đất và người đàn bà tóc xoã tay cầm chày giơ cao hơn.

Hình người và gà cạnh đó cũng khác nhau. Sau xuân phân, người cầm gậy quay mặt lại có vẻ là chăn dắt nuôi gà. Sau thu phân, người kiễng chân, không có gậy, có vẻ là nhảy để bắt gà. Đó là những việc phải làm để sửa soạn cho ngày lễ.

Xuân phân thu phân :

Trên cùng một đường kính vạch ngang hơi chếch lên đường Đông chí Hạ chí, là đường Xuân phân Thu phân, ta thấy 2 kiến tạo giống nhau, mái hình khum mui thuyền, gác trên hai trụ đứng cũng khum lại, trên đầu gọt tròn đều nhau, với hai vòng trang trí tròn, còn phiá chân cột có sàn bắt ngang, để hở ở dưới hai tảng kê hai bên với một vật gì như để chồng ở giữa.

Bên trong khung hình khum ấy, khoảng trống được vạch chia làm 3 phần, bên Xuân phân thì ở giữa hình chữ nhật vẽ một người đứng nghiêng, quay mặt theo hướng chung, tay cầm cuống một trái gì như trái bầu tròn. Hai phần tả hữu, một bên vẽ bảy vòng tròn, một bên vẽ tám, tất cả đều có một chấm ở giữa.

Nếu vòng tròn ấy là hình trái cây thì kiến tạo miếu thờ vị thần phù trợ cho cây cối sinh nhiều trái. Còn bên Thu phân thì vẽ hình người dang chân và dang tay lên trời, hai bên không có vòng tròn mà có 4,5 vết như lá tụng. Người vẽ tỏ ra rất hiện thực vậy.

(Có ý kiến cho rằng các vòng tròn có chấm là nhạc cụ còng, chiên; có ý kiến lại cho rằng đó là biểu tượng của hào âm hào dương; xem thêm bài “ Dạng nguyên thuỷ của Âm Dương ” )

Các vị Nguyệt thần :

Theo điểm khởi đầu năm nhân sự, ta thấy ban đầu có một vị thần nhỏ bé hơn cả, không có mũ, để dùng ghi tháng nhuận, rồi đến 6 vị để ghi sáu tháng đầu năm, đối diện với bên kia vòng tròn có 6 vị nữa để ghi sáu tháng cuối năm.

Vị nhỏ bé để ghi tháng nhuận, cánh cụp xuống, đầu không mũ, người nghiêng, tay cầm phách dang ngang theo tư thế ca vũ. Còn 12 vị đều là chim thần, không phải người hoá trang thành chim.

Người ta nhìn vội nên cho rằng người đội mũ lông cánh chim. Đó là một bên cánh mọc từ lưng ra, bị đầu che một đoạn, còn một bên cánh mọc từ ngực ra xoè xuống đất. Bởi nếu là đội mũ, thì có vị quay mặt đi, có vị quay mặt lại, sao mặt quay lại mà mũ lại không quay lại ?

Lông đuôi thì xoè về phía chân trước. Hai tay và hai chân thì ráp vào hai bên mình như người. Chim thần khàc người và khác chim thường ở chổ ấy.

Việc dùng một con chim thần tiêu biểu cho một tháng chứng tỏ người xưa quan niệm thời gian qua mau. Nhưng khác với người phương Tây thần thánh hoá và nhân cách hoá thời gian thành hình một ông cụ có cánh, tay cầm lưỡi hái tượng trưng quyền lực huỷ hoại, không những thời gian chẳng giúp gì cho người mà còn thù nghịch với người nữa. Ở đây chim thần từng tháng đem những hướng dẫn đến cho người trong cuộc sống. Thời gian có cộng tác với người, là bạn là thầy của người.

Trừ vị thần dùng cho tháng nhuận ( xen kẻ vào bất cứ tháng nào trong năm ) đúng là có dáng điệu người ca vũ mềm mại và vui tươi, chân bước theo hướng tiến chung, hai tay cầm cái gì như phách để gõ nhịp cho bước chân, còn 12 vị thần khác thì mỗi vị cầm một đồ vật khác nhau để nói lên cái ý khuyên bảo người đời tháng ấy thì nên làm một việc nào với đồ dùng đó :

Tháng giêng : Đồ vật ở tháng giêng to lắm, thần phải ôm bằng hai tay đưa ra phái trước mặt, trong có vẻ như con cá. Có lẽ là tháng nên đi bắt cá. Về điểm này ta thấy tệ xưa có ghi rằng : Loài gấu chưa tế thú ( vào mùa thu ) thì không được chăn lưới ở cánh đồng , loài rái chưa tế cá ( vào mùa đông ) thì không được thả lưới vét xuống nước. Nay đã sang tháng giêng, vậy có thể đi bắt cá được.

Tháng hai : Đồ vật ở tháng hai là cây gậy thẳng, thần cầm bàn tay trái đưa ngang ra trước mặt, đầu trân của gậy uốn ra ngoài, đầu dưới uốn vào phái bụng. Tay phải của thần đưa về phía sau lưng cầm một trạc gậy trút xuống. Chân và mặt đưa ra theo hướng tiến chung. Có thể là con dao đi rừng để chặt những cành kho củi mục, việc nên làm vào tháng hai.

Tháng ba : Thần bước đi theo hướng tiếng chung nhưng mặt quay lại nhìn tay phải cầm trạc cây trúc xuống, tay trái cầm một cây gậy hơi cong với đầu to ở trên, đầu nhỏ ở dưới. Có vẻ thần khuyên người nên làm việc gì ngay trên mặt đất sau bước chân cảu mình, giao hạt giống chăng ?

Tháng tư : Thần có dáng điệu như vị ở tháng ba nhưng mình nghiêng hẳn về phía sau, đầu và mỏ cũng cuối thấp hơn, với mặt mở tròn to hơn. Nếu không có điệu cánh và chân bước theo hướng chung thì có thể kể là thần đi ngược chiều được. Tay trái thần cũng cầm gậy thẳng nhưng ngắn hơn, tay phải cầm gậy trạc cây với gốc độ đẹp hơn. Có vẻ thần khuyên người săn sóc việc bắt sâu bọ.

Tháng năm : Mắt thần nhìn theo hướng tiến chung, thân hình ở tư thế đi bình thường, tay trái cầm gậy ngắn nhất, tay phải cầm trạc cây với một bên cụt hơn. Có vẻ như thần khuyên nghỉ tay.

Tháng sáu : Cũng vậy, có vẻ như tháng này và hai tháng nữa không thể làm việc đồng án được.

Tháng bảy : Thần quay mặt nhìn theo hướng chung, cầm trong tay vật gì như muỗng múc canh, có dấu tròn biểu tượng mắt chim ở ngoài, tay phải cầm cái gì như cái lồng bắt chim. Cả hai tày đều đưa về phái trước mặt. Có vẻ là tháng nên đi bắt chim. Vị này có thêm một đặt điểm : ở sau gáy nơi đầu cánh có một hình tam giác, giữa vẽ một hình tròn, chưa rõ ý nghĩa gì.

Tháng tám : Thần thổi loa ở miệng, loa dính với một vật tròn tia ra ba vạch lên trời, ba vạch xuống đất. Đó có vẻ là tiếng gọi vào rừng săn thú. Tháng tám trăng sáng nhất là tháng thích hợp nhất cho việc ấy.

Tháng chín : Thần cầm dao đi rừng như tháng hai nhưng đầu trên lại khoằm vào trước mặt, đầu dưới lại uốn khoằm ra, mặt và chân quay về hướng tiến chung. Có vẻ là vật để hái trái, má tháng này là tháng có nhiều trái cây chín.

Tháng mười : Thần vẫn cầm dao ấy ở tay trái như vậy nhưng mặt nhìn xuống đất sau bước chân với chạc cây hạ thấp xuống gần mặt đất. Có vẻ như thần muốn nói về việc gặt lúa.

Tháng mười một : Thần cầm gậy ngắn với trạc cây ngắn ở tư thế nghỉ ngơi và theo dáng đi bình thường ( như tháng năm, tháng sáu đã nói ). Có vẻ là tháng xong việc đồng án thì nghỉ ngơi.

Tháng chạp : Thần cầm vật gì giống như hình cái bàn chải đánh răng, dài bằng cả một bên cánh, dưới đầu cán có hình mũi tên chĩa nghiêng xuống mặt đất phía trước mặt. Ấy là hình tượng sự chít một lông cánh thời gian, để nói việc hết năm.

Những đặc tính của mỗi năm trong chu kỳ :

Chúng ta thấy mỗi con chim thời gian giống nhau bay ở vòng ngoài ( theo chu kỳ 18 năm đã nói ) đều có một con chim nhỏ ở dưới mỏ dài của nó, mà chim ấy thì không con nào giống con nào cả.

Cần phải là người đi rừng nhiều, trông hình vẽ mới tin chắc được rằng lịch 12 con giáp của Trung Hoa đã ít tuổi hơn lịch 18 con chim này nhiều lắm. Bởi lịch này cho thấy người ta mới định cư còn ở thời kỳ chưa nuối được con lợn, con trâu, con mèo, chưa biết được con dê con ngựa là gì nữa.

(Doremon360 : Bạn hãy tham khảo bản đồ địa hình dưới đây để thấy việc ngập lục bán đảo Sunda và thềm lục địa Namhailand vào cuối kỷ băng hà đã dẫn đến sự di dân của cư dân đông Nam Á cổ vào các vùng đất cao, sự định cư mới mà tác giả nói ở trên có thể có mối liên hệ với sự kiện di cư từ nơi định cư củ sang nơi định cư mới ).

Còn đây là các bản đồ thể hiện sự di cư của con người từ xa xưa đến các vùng đất trên Thế Giới :

Migration patterns of early humans

Genographic Project

Kết luận :

Mặt trống đồng Ngọc Lũ quả đúng là một quyển lịch được sắp xếp và vẽ một cách thông minh. Trừ một vài chi tiết chưa hiểu rõ như đã nói, những nét chính của hình vẽ đã khiến ta chân thành khâm phục rằng: Với mức độ hiểu biết và tiến hoá của đời nay cũng chưa chắc có người bố trí nổi một bản ghi thời gian tài tình như thế.

(Theo site Tủ sách Khoa học)

————————————————————————————————————————————————————————–

TS. Trần Văn Đạt – TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN VÀ NỀN NÔNG NGHIỆP CỔ ĐẠI

  1. 1.     Mở Đầu

Niềm hãnh diện lớn nhứt của dân tộc Việt ở Châu Á là sự xuất hiện nền văn hóa trống đồng Đông Sơn rực rỡ thời Cổ Đại trên đất Lạc Việt, trải dài cách nay từ 2.700 đến 1.800 năm. Đó là nhờ sự ra đời của kim loại đồng và thành quả phát triển kỹ nghệ luyện kim trong nhiều thế kỷ trước đó, qua các nền văn hóa từ Phùng Nguyên đến Đồng Đậu và Gò Mun trên lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả. Có lúc, một số nhà khảo cổ học Trung Quốc và Tây Phương cho rằng nền văn hóa Đông Sơn là sản phẩm của nền văn hóa sớm hơn xuất hiện từ các nơi này!

Trống đồng là một di vật tiêu biểu cho nền văn minh của người Việt cổ thời dựng nước, ngoài nhiệm vụ nhạc khí[1] còn là biểu tượng của quyền lực, lễ hội, tôn giáo… Do đó, các loại trống đồng đã được các nhà khảo cổ học tìm thấy ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến nay đã giúp chúng ta nhận diện được phần nào bản chất của nền văn hóa, xã hội và kinh tế của người Việt trong thời đại Văn Lang, bên cạnh các phát hiện di vật khảo cổ, tài liệu, sách sử nội địa và Trung Quốc mà mức độ chính xác chưa thể xác định tất yếu. Sự hiện diện của trống đồng tại Việt Nam và phần nào ở vùng Hoa Nam (bị Bắc Phương xâm chiếm), đã xác minh những bằng chứng không thể chối cải nguồn gốc và nền văn minh cổ xưa của người Lạc Việt mà Phương Bắc cố tình che đậy hoặc ngụy tạo để họ dễ dàng thực hiện chủ trương bành trướng đồng hóa từ thời Bắc thuộc khởi đầu, lúc bọn Nhậm Diên, Sỹ Nhiếp thực hiện chủ trương bá quyền thâm hiểm.

Các trống đồng được phát hiện trong thời gian qua chỉ là một phần nhỏ của số lượng mà tổ tiên ta ngày xưa kín đáo lưu giữ lại sau khi kẻ đô hộ thời đó gắt gao cấm đoán sản xuất, tàng trữ và sử dụng; họ tịch thu nhiều trống đồng Việt cổ để nấu chảy đúc thành trụ đồng, ngựa hoặc thành khối mang về Phương Bắc làm của riêng (Hậu Hán Thư). Chúng ta còn nhớ lời đe dọa đâu đây khắc trên trụ đồng ở địa giới ngày xưa: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của bọn Mã Viện đời Đông Hán sau khi đánh bại lực lượng nổi dậy của Hai Bà Trưng. Các trống đồng được tìm thấy trong thời gian qua dù số lượng còn ít cũng cung cấp cho hậu thế hiểu biết nhiều hơn, thực tế hơn về một bức tranh lịch sử cụ thể của một nền văn hóa nổi tiếng một thời, cũng như nền nông nghiệp Cổ Đại đã phát triển mạnh dưới thời đại Hùng Vương của người Lạc Việt cách nay gần một ngàn năm trước Công Nguyên (tr.CN).

  1. 2.      Trống đồng và nền văn hóa Đông Sơn

Trống đồng là một biểu tượng nổi bật của nền văn hóa Đông Sơn. Tất cả các trống đồng được tìm thấy đều thuộc cùng một loại, loại I theo phân loại của F. Heger (1). Hiện nay, các nhà khảo cổ học Việt Nam thống nhứt gọi là trống đồng Đông Sơn (Hình 1). Những di tích Đông Sơn được Ông L. Pajot, nhân viên thuế quan Pháp tìm thấy, khai quật ở vùng sông Mã, Thanh Hóa vào năm 1924, sau đó công trình khảo cứu được nối tiếp bởi học giả Thụy Điển O. Jansé. Năm 1934, nhà khảo cổ người Áo Heine Geldern đề nghị dùng tên “văn hóa Đông Sơn” cho nền văn hóa này (2). Các nhà khảo cổ học Việt Nam tiếp tục công trình nghiên cứu kể từ 1954. Di tích Đông Sơn thuộc làng Đông Sơn, phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa ngày nay, nằm ở hữu ngạn sông Mã. Nền văn hóa Đông Sơn được khám phá phát nguồn từ vùng Bắc Trung Bộ trên hạ lưu sông Mã và sông Cả đến châu thổ sông Hồng, trải qua thời gian khoảng một ngàn năm, từ giai đoạn sớm của thế kỷ 8-7tr.CN và kết thúc vào thế kỷ 1 và 2 sau CN. Nền văn hóa Đông Sơn là chặng đường phát triển nổi bật của người Việt cổ, tiếp theo các nền văn hóa sớm hơn như văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun, tiền đề của thời dựng nước.

 

Hình 1: Trống Ngọc Lũ và mặt trống (1)

Đến nay, trống đồng được phát hiện gần 1.000 trống lớn nhỏ, không kể những trống vỡ nát (2) trên những địa bàn thuộc phạm vi nền văn hóa Đông Sơn (miền Bắc Trung Bộ và châu thổ sông Hồng), và chúng còn được tìm thấy ở một số tỉnh khác như Thừa Thiên-Huế, Gia Lai-Kontum, Quảng Nam-Đà Nẵng, Bình Định, Nha Trang, Bình Dương, Vũng Tàu, Kiên Giang. Trống đồng Đông Sơn cũng được phát hiện ở Miền Nam Trung Hoa, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia.

Về hình dáng, trống đồng gồm có mặt trống (nắp) và 3 phần chính: tang (phần tiếp giáp mặt trống), thân và chân. Viện Khảo Cổ Học Việt Nam đã phân loại trống đống Đông Sơn làm 4 nhóm chính, căn cứ vào hình dáng và hoa văn trang trí như sau (1 và 2):

  • Nhóm A: Trống có niên đại sớm, kích thước lớn, có 3 phần tang, thân và chân phân biệt rõ ràng, cân đối. Mặt trống nhỏ hơn tang trống. Các vành hoa văn có cảnh người, vật và động vật. Đây là loại trống to và đẹp nhứt của trống đồng Đông Sơn. Tiêu biểu của nhóm này là các trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Cổ Loa I, Làng Cốc.
  • Nhóm B: Trống không cân đối, dáng cao hoặc lùn. Trống nhỏ hơn, hoa văn đơn giản, chỉ còn vành với mấy con chim bay ở mặt và hoa văn hình học. Nhóm này được phát hiện nhiều nhứt ở lưu vực sông Mã. Trống này còn gọi là trống Mường vì được tìm thấy nhiều trong vùng cư trú của dân tộc Mường.
  • Nhóm C: Dáng trống cân đối, lưng thẳng, chân cao. Nhiều hoa văn mới xuất hiện. Có tượng cóc trên mặt và một số trống có trang trí ở phần chân. Tiêu biểu cho nhóm này là các trống Hy Cương, Hữu Chung…
  • Nhóm D: Dáng trống thô, lùn thấp hơn các loại trống trên, trông giống chiếc nồi lật úp, tang phình rộng, thân hình nón cụt, chân ngắn, nhìn không cân đối. Hoa văn ít và sơ sài hoặc không có hoa văn trên mặt trống. Kỹ thuật đúc và trang trí đều thô sơ. Tiêu biểu cho nhóm này là các trống Tùng Lâm, Thượng Nông… Về niên đại chưa rõ, có người cho là loại trống xuất hiện muộn nhứt hoặc sớm nhứt.
  • Ngoài ra, còn có loại trống có lẽ không thuộc thời gian ra đời và tồn tại của văn hóa Đông Sơn. Chúng chỉ tiếp tục truyền thống Đông Sơn, được tìm thấy ở những vùng núi, như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La…

 

  1. 3.      Trống đồng và nền nông nghiệp Cổ Đại

Nền nông nghiệp Cổ Đại thời đại Hùng Vương là kết quả của quá trình phát triển lâu dài, bắt đầu từ nền nông nghiệp sơ khai của nước Việt cổ đã xuất hiện vào thời tiền sử khoảng 10.000-8.000 năm trước (thời đại Đá Mới), do ngành khảo cổ học phát hiện phấn hoa và bào tử của các loại cây củ đậu, hạt quả… và khai quật được nhiều vỏ sò ốc và dụng cụ ghè đẽo một mặt trong các hang động của nền văn hóa Hòa Bình. Nhờ vào kinh nghiệm tích tụ từ vô số thế hệ và phát minh các dụng cụ sinh hoạt hàng ngày hiệu quả hơn, như rìu, bàn nghiền, nhíp, dao cắt, lưỡi cày, lưỡi cuốc, thạp chứa nông sản… bằng đá cuội, đá mài, rồi bằng đồng, sắt tìm được trong các cuộc khai quật của các nhà khảo cổ học, nền nông nghiệp đã tiến hóa không ngừng theo thời gian và không gian từ vùng rừng núi đến nơi đất cao, thung lũng, ven sông rạch và biển cả qua hàng ngàn năm.

Cho đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn – một nền văn hóa nổi tiếng của nước Văn Lang (hay Lạc Việt) trong thời đại kim khí bắt đầu cách nay khoảng 2.700 năm – nền nông nghiệp Cổ Đại đã tích lũy một số tiến bộ quan trọng và đã trở nên nề nếp, xã hội đã có nhiều sản phẩm dư thừa qua khai quật tìm thấy các hầm ngũ cốc thối nát trong đất, chậu gốm lớn, thạp đồng (1). Xã hội nông nghiệp đã có những kỹ thuật tinh xảo, nhứt là khi cư dân phát triển mạnh nghệ thuật luyện kim đúc đồngvà sau đó khám phá kim loại sắt.

Đó là một nền nông nghiệp dùng cày cuốc và sức kéo trâu bò, nông dân biết dùng các công cụ sản xuất thích hợp cho từng loại đất, biết trồng các giống cây khác nhau cho thích hợp từng mùa, như nhiều giống lúa đã được phát hiện trong các cuộc khai quật ở di chỉ Đồng Đậu cách nay hơn 3.000 năm (1). Trong thời đại này,nền nông nghiệp lúa nước trở nên thịnh vượng và nước Văn Lang được thành lập, trưởng thành dưới thời Hùng Vương-An Dương Vương. Bên cạnh đó, cư dân còn trồng những loại nông sản khác, như trám, na, cau, đậu, bầu bí, dâu, vải (1). Nghề chăn nuôi voi, trâu bò, lợn, gà vịt luôn luôn song song với nghề trồng trọt, vì các di vật như xương, răng và tượng các động vật thường được phát hiện ở các di chỉ khảo cổ từ văn hóa Đa Bút – Phùng Nguyên đến Đông Sơn. Ngoài ra, nghề săn bắn, đánh bắt cá, bắt ốc sò là nghề phụ, nhưng có vai trò rất đáng kể vào thời kỳ phát triển đất nước. Một số hoạt động nông nghiệp này được ghi khắc trên các trống đồng Đông Sơn, qua các hình ảnh hoa văn rất điêu luyện và mỹ thuật.

3.1. Hoa văn trống đồng Đông Sơn (Hình 2)

Các hoa văn trang trí trên trống đồng rất đa dạng, thể hiện nhiều góc cạnh của xã hội thời Cổ Đại trong nền văn hóa Đông Sơn dưới thời Hùng Vương và An Dương Vương. Các hoa văn này xuất hiện trên mặt, tang, thân và ngay cả chân trống đồng, chủ yếu gồm có văn mặt trời, văn kỷ hà, văn tả cảnh sinh hoạt và văn hình động vật.

 

Hình 2: Hình họa mặt trống đồng Ngọc Lũ (12)

Hoa văn mặt trời có nhiều tia sáng ở trung tâm, từ 8 đến 23 tia (trống Hải Bồi (2)) trên mặt trống, nhưng mặt trời với 12 tia chiếm nhiều nhứt. Xen giữa các tia là họa tiết lông công hoặc những đường vạch chéo có hình tam giác lồng vào nhau.

Hoa văn kỷ hà như văn vòng tròn đồng tâm, vòng tròn tiếp tuyến, vòng tròn kép, văn chữ S, chữ V, văn chấm dải, đường chỉ nhỏ, văn tam giác giữa có vòng tròn, hình răng lược, răng cưa, hồi văn gấp khúc, vạch ngắn song song, các ô dọc.

Hoa văn tả cảnh sinh hoạt của con người lúc bấy giờ như: nhà sàn mái cong[2], lầu gác, “kho vựa”, văn bông lúa, văn xương cá, dàn chiêng, thuyền, cảnh đua thuyền, chiến thuyền, người giã gạo, đánh trống, múa hát, người hóa trang kiểu cờ bay, người và cả thú giao phối…

Hoa văn hình động vật: trâu bò, hươu nai, cóc, sóc, chim bay, chim đậu, gà, chim công, trích, cò, chàng bè (bồ nông), các loại cá, rắn…

Tất cả những hoa văn trang trí nêu trên làm nổi bật vẻ đẹp sống động, hiện thực, cách điệu theo thời gian của xã hội đương thời – một bức tranh lịch sử sống thực của người Lạc Việt. Các hoa văn mặt trời, văn sinh hoạt con người lúc bấy giờ và văn hình động vật của trống đồng đã mô tả bức tranh nghề nông toàn diện và rõ ràng ngành nông nghiệp Cổ Đại gồm cả nông, lâm, ngư và súc đạt mức phồn thịnh trong nền văn hóa Đông Sơn. Một số trống nổi tiếng như trống Ngọc Lũ, trống Hoàng Hạ (9), trống Cổ Loa, trống Làng Cốc được lựa chọn mô tả sơ lược sau đây (2):

  • Trống Ngọc Lũ[3]:

Trống có hoa văn hình học và hoa văn ngườiđộng vật và đồ vật. Trống có 2 cặp quai gắn vào tang và thân trống. Trống Ngọc Lũ có lẽ là một trống đồng đẹp nhứt đã được phát hiện cho đến nay ở Việt Nam.

Mặt: Chính giữa mặt trống là hình mặt trời với 14 tia chiếu xung quanh. Xen giữa các tia là những họa tiết hình tam giác. Trên mặt trống có tất cả 16 vành hoa văn đồng tâm. Các vành 1, 5, 11 và 16 là những hàng chấm nhỏ. Các vành 2, 4, 7, 9, 13 và 14 là những vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Vành 3 là những chữ S gãy khúc nối tiếp. Vành 12 và 16 là văn răng cưa. Vành 6, 8 và 10 là vành có hình người nhảy múa, người giã gạo, động vật diễn hành xung quanh ngôi sao mặt trời và ngược chiều kim đồng hồ (Hình 1, 2 và 3).

Hình 3: Một góc của mặt trống đồng Ngọc Lũ (12)

Tang: Phình ra, nối liền với mặt trống. Có 6 vành hoa văn hình học, các vành 1 và 6 là những đường chấm nhỏ thẳng hàng, vành 2 và 5 là văn răng cưa, vành 3 và 4 là hoa văn vòng tròn đồng tâm chấm giữa nối với nhau bằng những tiếp tuyến song song. Tiếp theo đoạn này là hình 6 chiếc thuyền. Ngoài ra, giữa hai thuyền có một con chó đứng nghểnh mõm lên phía sàn giống như chó săn.

Thân có hình trụ tròn, thẳng đứng, được trang trí hình dây thừng.

Chân trống hơi lòe, hình nón cụt, không có trang trí.

  • Trống Hoàng Hạ[4] (9):

Trống đồng Hoàng Hạ có kích thước lớn, cao 61,5cm, đường kính mặt 79cm. Hoa văn phong phú, gồm hai loại là hoa văn hình học và hình khắc người, động vật và vật thể (Hình 4).

–          Mặt: Giữa có hình mặt trời nổi với 16 tia, xung quanh có 15 vành hoa văn: các chấm nhỏ thẳng hàng, chữ gãy nối tiếp, vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến song song, văn hình răng cưa… Hình khắc người và động vật. Tại vành số 9 chỉ có 14 con chim bay, đó là những hình chim mỏ dài, đuôi và chân đều dài, chim có mào.

–          Tang: Vành hoa văn hình học có hình 6 chiếc thuyền, xen giữa thuyền là những hình chim có từ 2 đến 4 con. Về trang sức, tất cả thuyền trưởng đều cầm trống lệnh, vũ sĩ và người cầm lái đều đội mũ lông chim.

Quai trống gồm hai đôi kiểu quai kép, hoa văn dây thừng.

–          Thân: có bố cục và trang trí giống như trống Ngọc Lũ.

–          Chân: đúc trơn không vẽ hoa văn.

Hình 4: Trống Hoàng Hạ (9)

  • Trống Cổ Loa (2) (Hình 5 bên trái): Mặt 73,8 cm, cao 53 cm, có 2 đôi quai kép. Nhóm 1a.

–          Mặt: văn mặt trời 14 tia. Các vành văn chữ S, chấm giải, răng lược, vòng tròn tiếp tuyến. Vành nhà sàn, người nhảy múa, giã gạo, đánh trống. Vành số 16 chim bay.

–          Tang: Các vành văn kỷ hà, vành thuyền bơi và chim.

–          Thân: Văn kỷ hà chia ra các ô dọc, trong ô có người nhảy múa.

–          Chân: Phía trong có dòng chữ Hán.

  • Trống Làng Cốc (2) (Hình 5 bên phải): Mặt 76,5 cm, chân 81 cm (đường kính), cao 61. Có 2 đôi quai kép. Nhóm 1a.

–          Mặt: Văn mặt trời 14 tia. Các vành văn vòng tròn tiếp tuyến, hồi văn, vạch ngắn song song. Vành nhà sàn, người nhảy múa, đánh trống. Vành 16 chim bay.

–          Tang: Các vành văn kỷ hà. Vành văn 6 thuyền có chiến binh, lầu gác…

–          Thân: Có các ô dọc, trong có người nhảy múa.

Hình 5: Trống Cổ Loa (trái) và trống Làng Cốc (phải) (2)

3.2.             Bức tranh lịch sử sinh hoạt nông nghiệp trên trống đồng Đông Sơn

 

  • Những hoa văn rất phổ biến: Hoa văn mặt trời, nhà sàn, người giã gạo, chim cò bay, đàn hươu biểu diễn, thuyền ghe và người đánh trống, nhảy múa, đối đáp(Hình 6) rất phổ biến, có thể tìm thấy dễ dàng trên nhiều trống đồng ở các vành hình tròn trên mặt, tang và đôi khi trên thân trống. Các hình ảnh đó phát họa một bức tranh đồng quê trong thời kỳ thịnh vượng với chim cò tung bay ngoài đồng ruộng, người dân sinh hoạt với nghề nông trong mưa nắng dưới ánh mặt trời, biết chăn nuôi gia súc, sắn bắn, biết đánh bắt cá tôm, trồng trọt, nhứt là làm vụ lúa theo mùa, biết thu hoạch theo thời tiết và hoan ca chào đón ngày cuối mùa hay chào mừng gạo thóc mới, hò hát giã gạo, nhảy múa dưới trăng. Họ còn biết trao đổi thương phẩm với nhiều bộ tộc, quốc gia láng giềng bằng hàng hải với các ghe thuyền gỗ vượt sông biển. Hoa văn phổ biến nhứt trên mặt trống đồng Đông Sơn là hình các loại chim, người cũng hóa trang chim, đội mũ gắng lông chim, mũi thuyền có mắt chim tròn, cho biết chim là loài vật tổ tôn kính của người Lạc Việt.

Hình 6: Hoa văn phổ biến trên mặt trống đồng Ngọc Lũ (12)

(Mặt trời, nhà sàn, chim bay, hươu từng cặp, người giã gạo, nhảy múa, đánh trống)

  • Văn mặt trời có nhiều tia ở trung tâm của mặt (nắp) trên hầu hết trống đồng cho thấy người Việt Cổ thờ thần mặt trời và sùng bái thiên nhiên: mặt trời, lữa, nước, đất, gió, sấm sét, núi non… vì các hiện tượng “huyền bí” này giúp họ có được đời sống, sinh hoạt hàng ngày, tiếp nối từ thế hệ này đến thế hệ khác. Mặt trời cung cấp nguồn năng lượng vô biên để nông dân trồng trọt, nuôi dưỡng, sản xuất và thu hoạch cuối mùa. Dù lúc đó con người chưa có kiến thức khoa học như ngày nay – chưa biết đến hiện tượng quang hợp của các loài thảo mộc – họ cũng nhận thức được nếu không có nguồn ánh sáng họ không thể thực hiện các hoạt động sản xuất lương thực để nuôi sống bản thân và gia đình, con người và muôn loài không thể tồn tại lâu dài trên quả đất này. Từ ngàn xưa người dân luôn hướng nhìn mặt trời, bầu trời xa xâm để mong đợi mưa gió thuận hòa giúp canh tác thuận lợi, mùa màng tươi tốt; mong chờ trời nắng ráo để hoàn tất thu hoạch cuối vụ mau chóng và đúng lúc.

Trông trời, trông đất, trông mây,

Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.

 

Ngoài ra, trống đồng có nhiều vành hoa văn đồng tâm với nhiều hình chim, trong đó chim chân cao mỏ dài và hình hươu chạy theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, biểu lộ hướng trái đất quay từ Tây sang Đông, thể hiện trình độ thiên văn cao của người Việt cổ. Trên hầu hết nhạc khí trống đồng, minh khí đều có hình mặt trời chiếu sáng nằm ở tâm điểm mặt trống, như nói lên tầm quan trọng thiết yếu của vầng thái dương đối với con người nông nghiệp qua thời tiết bốn mùa. Có thể đó là biểu hiện lịch pháp thiên văn cho nền nông nghiệp cổ (Hình 7) (2).

Theo hoa văn trên trống đồng, như trống đồng Hoàng Hạ (Hà Tây cũ), được một số nhà khảo cổ nghiên cứu và đánh giá là một loại lịch thời Hùng Vương, là bức thiên đồ cho phép xác định được các ngày tiết trong năm. Đó là loại lịch ngày âm (Hình 7), kết hợp chu kỳ mặt trăng và mặt trời, bắt nguồn từ văn hóa Bách Việt, mang đậm nét văn hóa nông nghiệp lúa nước ở phương Nam (3). Số lượng của các tia, chim bay, hươu, thuyền hầu hết là số chẳn, biểu hiện cư dân thời bấy giờ biết đo đếm. Số tia 12 chiếm đa số liên quan đến số tháng trong năm (10). Thời Cổ Đại, Ai Cập cũng có bộ lịch giúp hoạt động nông nghiệp ven sông Nile[5].

Hình 7: Âm lịch Việt (trái) và bốn mùa (phải) trên trống đồng Ngọc Lũ (12)

  • Hoa văn tả cảnh sinh hoạt của con người trên trống đồng (Hình 8) hình dung nền nông nghiệp thời Cổ Đại khá đa dạng. Các hoa văn người giã gạo,cộng thêm hình ảnh kho chứa, thạp đồng, văn bông lúa (trống số 31 (2)), chim cò bay, tượng cóc, hình trâu bò, rắn nước nhứt là người nam và nữ giã gạo (Hình 9), hò hát đối đáp được tìm thấy khá phổ biến trên nhiều trống đồng. Điều đó và sự hiện diện của lưỡi cày đồng thời bấy giờ biểu hiện ngành nông nghiệp lúa nước đã trở nên một nghề chủ yếu cố định của người Việt Cổ trong thời kỳ dựng nước. Nông dân đã sản xuất lương thực dư thừa, nên có các thạp đồng lớn, trống chậu bằng đồng, vựa thóc trong những nhà khá giả. Nhờ nghề trồng lúa nước, người Văn Lang đã định cư, không còn lối sống du canh du mục nữa. Họ đã tụ tập thành từng làng xóm ven sông rạch, biển hồ, vùng đất cao, đồi núi; nhờ đó tổ chức xã hội ngày càng hoàn chỉnh và lớn mạnh, vững chắc; nước Văn Lang đã được hình thành.

 

Hình 8: Số 1: Cò; 2: Chim công; 3: Hươu; 4: Chim trĩ và người đối đáp; 5: Chim trĩ, 6: Chim công, đối đáp và người đánh trống; 7a và 7b: Một góc mặt trống với người giã gạo, ngồi đối đáp trong nhà sàn, hươu, chim cò bay; 8: Người đánh trống, đánh cồng chiêng (?) hay “kho vựa” tượng trưng trong nhà sàn; 9a và 9b: Vũ múa và các chim công.

  • Hóa trang cờ bay, khố váy, áo hai vạt ngắn dài của những người giã gạo, vũ công và chiến binh (Hình 9) được khắc trên trống đồng cho thấy nghề dệt vải, trồng cây vải, bố đai, trồng dâu nuôi tầm – nghĩa là công nghệ vải sợi đã phổ biến nhiều nơi trong nước Văn Lang để sản xuất vải sợi làm áo khố che thân, trang trí nội thất, làm cờ xí trong ngày lễ hội, cờ hành quân bảo vệ giang sơn.

Hình 9: Hình họa người giã gạo và thổi khèn trên trống đồng Đông Sơn (9)

  • Các hoa văn thuyền, thuyền đua, thuyền chiến, xương cá (2), các loại cá, rắn, nhà sàn, lầu gác (2) cho thấy ngành ngư-lâm cũng rất phổ cập trong xã hội thời bấy giờ. Nông dân biết khai thác cây rừng để làm nhà ở, đóng ghe thuyền dùng trong ngư nghiệp, phương tiện di chuyển, các dụng cụ sinh hoạt hàng ngày, và vũ khí gươm giáo chống xâm lăng. Trong thời Cổ Đại, có thể một phần cư dân không nhỏ chuyên sống với nghề biển, sông hồ. Do đó, họ biết khai thác các chiến thuyền để chống ngoại xâm bảo vệ xứ sở, chuyên nghề đánh bắt cá, ốc sò để làm đa dạng lương thực hàng ngày. Ngành hàng hải cũng phát triển từ thời đó, nhiều trống đồng được tìm thấy ở Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và vài nước Đông Nam Á.

 

Hình 10: Hình trên: Thuyền chiến với những người lính cầm đao, giáo, chó săn, người bắn cung, trống trận; Hình dưới: Thuyền chiến, binh lính cùng chim, cá, rùa dưới nước.

  • Các hoa văn hình động vật như chim bay, chim đậu (trĩ, công, chàng bè, trích…), trâu bò (trống số 5 (2)), gà chó, cóc… (Hình 10 và 11) trên mặt, tang, thân hoặc chân trống đồng cho thấy nông dân biết thuần dưỡng thú rừng, biết nuôi gia cầm để có thêm thức ăn, nhứt là nghề nông nghiệp dựa vào sức kéo của trâu bò, làm tăng gia sản lượng thực phẩm và nâng cao hiệu năng trồng trọt. Sự phát hiện lưỡi cày đồng và các tượng bò hình khối, hoa văn bò đực cho biết ngành nông nghiệp lúa nước đã phát triển cao. Họ đã biết dùng trâu bò cày xới đất canh tác, nhứt là cày ruộng, xới rẫy, một công việc nặng nhọc đối với con người khi làm việc trong điều kiện trồng lúa ngập nước và trên đất khô ráo cho canh tác các màu phụ. Tượng cóc, cóc giao phối trên trống đồng thể hiện sự mong mỏi của nông dân về mưa thuận gió hòa, vụ mùa thuận lợi.

Con cóc là cậu Ông Trời.

Cóc nghiến răng trời đang nắng thì mưa.

 

Hình 11: Trái: Mặt trống có 4 con cóc (9); Phải: Các loài chim trên trống đồng Đông Sơn (11):

Hàng 1: Chim trĩ trên mái nhà sàn cong, công (trống Ngọc Lũ), cò thìa,

Hàng 2: Gà trên mái nhà sàn tròn (trống Hoàng Hạ), công (trống Miếu Môn),

Hàng 3: Chim trích tím, cò và chàng bè (bồ nông).

  • Các hoa văn hươu nai, chim bay, chim đậu, con công, chàng bè, chim trích, cá sấu, chó săn (Hình 2, 3, 10 và 11) cho thấy cư dân Việt Cổ vẫn còn có một bộ phận không nhỏ còn sống về nghề săn bắn trong rừng núi, vùng sâu vùng xa để có thêm thực phẩm (Hình 11). Họ có đời sống lưu động, làm nghề du canh để có đủ lương thực sinh tồn. Nghề du canh này vẫn còn tồn tại đến ngày nay ở vùng Tây nguyên Trung phần và thượng du Bắc Bộ.
  • Các họa tiết độc đáo mô tả hình ảnh vũ công múa hát, hóa trang trong lễ hội, tục đối đáp (Hình 2 và 8) khắc trên trống đồng, và hoạt cảnh hát hò trong khi chèo thuyền, đánh cá, làm ruộng… (Hình 9 và 10). Trong nhà sàn, từng cặp nam nữ ngồi đối diện, lồng tay chân nhau cùng ca hát, đối đáp (Hình 8). Còn có tế trời, tế nước trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ. Các hình ảnh bơi chèo, múa hát, thổi khèn, ngồi đối đáp, ôm cõng nhau…, cho thấy một xã hội ổn định, thịnh vượng và dân tộc còn chất phát, có đầu óc nghệ thuật, hiếu hòa với tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên (2).

Đó là một bức tranh lịch sử sống động của xã hội Văn Lang, phồn vinh với sự nổi bật của một nền nông nghiệp tiến bộ: nông nghiệp lúa nước. Các hình ảnh cụ thể trên trống đồng Đông Sơn đã rọi sáng thêm các thành quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học Việt Nam trong hơn thế kỷ qua, nhứt là minh xác thêm nền nông nghiệp Đông Sơn đã thoát khỏi tình trạng sơ khai của thời tiền sử và trở nên năng động, hiệu quả và nề nếp. Nhờ đó, cư dân Việt cổ Đông Sơn có đời sống định cư ổn định hơn, có xã hội trật tự dù còn sơ khai và xây dựng nước Lạc Việt (8). Thật vậy, nền nông nghiệp sơ khai của con người đã khởi phát trong nền văn hóa Hòa Bình (cách nay 10.000-8.000 năm). Trong các nghiên cứu phân tích phấn hoa của nền văn hóa Hòa Bình, người ta tìm thấy với số lượng cao của các giống cây họ Đậu (Leguminoceae); họ rau Muối (Chenopediaceae), họ Cà Phê (Rubiaceae), họ Hòa thảo (Graminae), các loài hạt quả như hạt gắm (Gnetum montanum), hạt cọ (Livistona cochinchinensis), hạt côm (Elaeocarpus sylvestris), hạt me (Phyllanthus emblica L.), hạt trà (Thea sp.), trám tre (Canarium tonkinensis) và trám (Canarium sp.) (4). Do đó, cư dân trên đất Việt cổ biết sử dụng hoa quả và rau đậu để làm thức ăn, bên cạnh săn bắt thú rừng và sò ốc trong thời đại Đồ Đá Mới.

Tiếp theo nền văn hóa Đa Bút (cách nay khoảng 6.000-3.000), cư dân sống trong môi trường gần biển và cửa sông nên nguồn thức ăn chính là các ốc sò nước lợ chủ yếu là loài hến, hay nước biển như sò gai, điệp, ngao. Ngoài ra, họ còn săn bắn ở các khu rừng xung quanh mà di vật tìm được như xương răng thú rừng: hươu, nai, trâu, bò, lợn, nhím… Điều đáng chú ý là một số nhà nghiên cứu đã nhận ra vài động vật được con người nuôi dưỡng như trâu và lợn (5 và 6). Các di vật khảo cổ thu lượm từ nền văn hóa Đa Bút xác nhận một nền nông nghiệp trồng trọt cổ đã xuất hiện sớm hơn trên các vùng ven biển (7).

Đến nền văn hóa Phùng Nguyên (cách nay 4.500 – 3.500 năm), có những làng định cư lâu dài với đời sống nông nghiệp dùng rìu cuốc đá, chủ yếu trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt và đánh cá. Sự phát hiện lưỡi liềm đá ở Gò Bông và nhiều chiếc rìu nhỏ; cho thấy có nền nông nghiệp trồng lúa phát triển ở ruộng nước và trên đất cao (rẫy). Ngoài ra, còn có các đồ đựng bằng gốm có kích thước lớn để tồn trữ ngũ cốc cho thấy cư dân Phùng Nguyên có đời sống định cư dài lâu, sản xuất ngũ cốc dư thừa trong gia đình. Người Phùng Nguyên đã biết chăn nuôi nhiều thú vật mà ta có ngày nay (1).

Trong nền văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun (cách nay 3.500-2.800 năm) hay thời kỳ tiền Đông Sơn, người ta phát hiện một hầm ngũ cốc thối nát, chứng tỏ chủ nhân của hầm này sản xuất lúa không những đủ nuôi gia đình họ, còn dư thừa chứa trong hầm dự trữ (1). Cư dân Gò Mun đã quá quen thuộc nghề nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa cùng các hoa màu khác ở ven sườn đồi, gò đất thấp chung quanh khu vực cư trú bên bờ các dòng sông, bờ hồ, các đầm lầy với đất phù sa bồi đắp hàng năm. Cuộc sống của người Gò Mun tiến bộ hơn người văn hóa Phùng Nguyên và Đồng Đậu nhờ các công cụ sản xuất bằng đồng thô sơ, có sắc thái riêng biệt và tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời nền văn hóa Đông Sơn tiếp theo và thời kỳ dựng nước.

Cho đến nền văn hóa Đông Sơn, nghề trồng lúa nước đã đạt trình độ cao đáng kể, như đã thấy tận mắt trên trống đồng Đông Sơn. Hầu hết các trống đồng đều có mặt trời với nhiều tia sáng ở giữa, đó là dấu hiệu của sự hiểu biết thời tiết vụ mùa trong nông nghiệp. Các hình ảnh chim cò, rắn, cóc, trâu bò, bông lúa hình dung các ruộng lúa nước. Hình ảnh hoặc hình khối trâu bò cho biết nông dân đã biết cày bừa ruộng đất. Hoa văn hai người giã gạo chứng tỏ khâu hậu thu hoạch đã có một bước tiến mới, không còn dùng bàn nghiền đá để chà xát thóc như thuở xưa. Các hình ảnh “kho vựa”, thạp đồng lớn, trống chậu bằng đồng cho biết sản xuất lương thực dư thừa. Nông dân không còn dùng nhiều sức lao động để sửa soạn đất, biết dùng sức kéo trâu bò trong việc cày bừa với lưỡi cày đồng sắt, biết cấy lúa, biết trồng lúa 2 vụ mỗi năm (vụ Chiêm và vụ Mùa ở giai đoạn cuối Đông Sơn), trồng nhiều lúa nếp hơn lúa tẻ, dùng nhiều loại lúa khác nhau để thích hợp thổ ngơi, khí hậu. Bên cạnh đó, còn có các nghề luyện kim, thủ công nghệ, nông nghiệp khác như trồng dâu nuôi tầm, dệt vải, rau hoa, chăn nuôi, đánh bắt cá tôm, săn bắn, thương thuyền hàng hải… Họ cũng biết dẫn thủy nhập điền để đảm bảo trồng trọt thành công (8). Những sinh hoạt nông nghiệp này được thể hiện đơn sơ với các nét đúc khắc hoa tiết rất nghệ thuật và độc đáo trên các trống đồng Đông Sơn.

  1. 4.      Kết Luận

Ngoài các di vật khảo cổ nêu trên, các hoa văn trống đồng Đông Sơn phản ánh trung thực sinh hoạt vật chất, tinh thần và tình cảm rất sống động của xã hội thời lập quốc trong nền văn hóa Đông Sơn cách nay từ 2.700 đến 1.800 năm. Trong bức tranh lịch sử đó, ngành nông nghiệp gồm cả các khâu nông-lâm-súc-ngư được đúc khắc thể hiện khá rõ ràng qua các hoa văn như người giã gạo, “vựa thóc”, văn bông lúa; các hoa văn thuyền ghe, xương cá, các loại cá, rắn, nhà sàn, lầu gác; các hoa văn hình hoặc tượng động vật như trâu bò, cóc, chó, gà, cò, chim chàng bè, trích…; các hoa văn hươu nai, chim bay, chim đậu. Bên cạnh nghề luyện kim đồng, thau, sắt tinh xảo, nghề nông nghiệp lúa nước đã cung cấp cho cư dân Lạc Việt đầy đủ lương thực, dụng cụ sinh hoạt hàng ngày trong đời sống kinh tế nông nghiệp phồn thịnh. Các hoa văn còn thể hiện một dân tộc có tinh thần nghệ thuật cao, bản chất hiếu hòa qua các hoa văn người múa hát, đáng trống, thổi khèn, hóa trang người, thuyền đua, sinh họat bơi chèo, ôm cõng nhau, hò hát đối đáp, cờ bay cách điệu Đồng thời đất nước và dân tộc này cũng luôn luôn đề cao cảnh giác kẻ thù, sự xâm lăng của phương Bắc, qua các hoa văn trang trí chiến thuyền, người lính chiến với mộc, giáo, mát… khắc ghi trên nhiều trống đồng Đông Sơn được phát hiện trong các cuộc khai quật khảo cổ tại các địa bàn lưu vực sông Cả, sông Mã và châu thổ sông Hồng.

Trần Văn Đạt, Ph. D.

Tài Liệu Tham Khảo:

  1. Viện Khảo Cổ Học, 1999. Thời Đại Kim Khí Nam Bộ. Khảo Cổ Việt Nam, Tập II. NXB Khoa Học Xã Hội, tr. 349-398.
  2. Hoàng Xuân Chính, 2012. Đồ đồng văn hóa Đông Sơn. NXB Văn hóa thông tin, TP/HCM, 238 trang.
  3. Lê Thái Dũng. 2010. Tìm hiểu văn hóa thời đại Hùng Vương. NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, trang 118-121.
  4. Nguyễn Địch Dỹ và Đinh Văn Thuận. 1981. Kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở Hạ Sơn, Phiêng Tung, Nà Khù. Thần Sa- những di tích của con người thời đại đá. Bắc Thái 1981.
  5. Patte, E. 1932. Le Kjokkenmodding néolithique de Dabut et ses sépultures (province de Thanh Hóa, Indochine). Bulletin du Service Géologique d’Indochine (BSGI), vol. XIX, pt.3.
  6. Vũ Thế Long. 1979. Di tích động vật ở di chỉ Đa Bút (Thanh Hóa). NPHM, Viện Khảo Cổ Học 1979.
  7. Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận và Trần Đạt, 1980. Phân tích bào tử phấn hoa ở Cồn Cổ Ngựa (Thanh Hóa). Những phát hiện mới (NPHM), Viện Khảo Cổ Học 1980.
  8. Trần Văn Đạt. 2010. Lịch sử trồng lúa Việt Nam. NXB 5 Star Printing, Nam California, Huê Kỳ, 489 trang.
  9. Wikipedia.org.
  10. http://duongconnguyen.blogspot.com/
  11.  Nguyễn Duy Xuân. 2011. Trống đồng Đông Sơn. (http://nguyenduyxuan.net/t-liu/lich-su-van-hoa/974-trng-ng-ong-sn Nguồn: CINET.gov.vn).
  12. Tìm hiểu ý nghĩa những hình vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ (Việt Nam văn minh sử, Lê Văn Siêu) (http://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/).

[1] Theo Ông Dương Đình Minh Sơn (Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, số 7, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội): “… trống đồng thời Hùng Vương và gọi đó là «Hùng Linh», một báu vật thiêng liêng được dùng để thờ cúng và tạo uy quyền cho các tù trưởng, sau này là vua và tướng lĩnh. Hùng Linh chưa khi nào là một nhạc khí của dân tộc Việt. »

[2] Nhà sàn mái cong của người Minangkabau: Theo giả thuyết nhà nghiên cứu độc lập Trương Thái Du đưa ra, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, vào cuối năm 43 một bộ phận người Việt đã lên thuyền ra khơi và dạt vào Eo biển Malacca nhờ gió mùa Đông Bắc. Tiếp đó, họ định cư tại khu vực phía Tây đảo Sumatra (Indonesia) và trở thành dân tộc Minangkabau ngày nay. Các nhà nghiên cứu ở Indonesia cũng tán thành giả thuyết người Minangkabau đến từ Việt Nam. Tộc người này theo chế độ thị tộc mẫu hệ giống như người Việt cổ. Người nữ giữ quyền thừa kế trong thị tộc gọi là Turun Cicik, em gái của Turun Cicik nằm trong hàng thừa kế thứ hai gọi là Turun Nyi. Hai danh xưng này rất giống tên gọi của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị.  Kiến trúc truyền thống Minangkabau là những ngôi nhà mái cong vút như cặp sừng trâu, có đường nét giống với nhà sàn hình thuyền trên trống đồng Đông Sơn, được gọi là Rumah Gadang. Cư dân Minangkabau sinh sống bằng nghề trồng lúa từ lâu đời, và họ cũng có tục ăn trầu nhuộm răng cùng nhiều nét văn hóa khác gần gũi với người Việt. Ngày nay có hơn 4 triệu người Minangkabau sinh sống tại tỉnh Tây Sumatra (http://bacaytruc.com/index – theo Kiến Thức).

[3] Vào khoảng 1893 – 1894, các ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Văn Túc và một số người khác đắp đê Trần Thủy ở xã Như Trác, huyện Nam Xang (Lý NhânHà Nam), thấy dưới độ sâu 2 mét của bãi cát bồi có một chiếc trống đồng. Các ông đem về cúng vào đình làng Ngọc Lũ, để khi có đình đám cúng tế thì mang ra đánh. Bảy, tám năm sau có một họa sỹ Pháp đến vẽ đình làng thấy trống, liền báo cho công sứ Hà Nam biết. Nhân có cuộc đấu xảo ở Hà Nội vào ngày 15 tháng 11 năm 1902, công sứ Hà Nam đã khuyến khích làng Ngọc Lũ (xã Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, Hà Nam ngày nay) mang trống và nắp thạp lên góp vào đấu xảo. Sau đó, nhà Bác cổ Viễn Đông Hà Nội đã mua lại với giá 550 đồng (Trần Huy Bá. Quản lý văn vật. Nội san của Vụ Bảo tồn Bảo tàng, Hà Nội. Số 12/1965.).

[4] Ngày 13-7-1937, nhân dân xóm Nội, thôn Hoàng Hạ (nay là xã Văn Hoàng) huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, trong lúc đào mương lấy nước, tình cờ đào được một chiếc trống đồng ở độ sâu 1,5m dưới lòng đất (9).

[5] Lịch Ai Cập Cổ Đại: Ở thời cổ đại lịch đóng vai trò cực kỳ quan trọng, giúp con người tồn tại trước thiên nhiên khắc nghiệt. Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng lịch từ hàng ngàn năm TCN để biết khi nào lũ trên sông Nile sẽ xảy ra, từ đó có biện pháp canh tác phù hợp.

Lịch của người Ai Cập xây dựng để phù hợp với tập quán nông nghiệp và được chia thành ba mùa chính: ngập lụt, phát triển và thu hoạch. Mỗi mùa có bốn tháng, mỗi tháng được chia thành 30 ngày, tất cả là 360 ngày một năm ngắn hơn thực tế một vài ngày. Người Ai Cập đã thêm vào năm ngày giữa mùa thu hoạch và ngập lụt. Năm ngày này được chỉ định riêng là ngày lễ tôn giáo để tôn vinh những người con của các vị thần (http://www.baomoi.com).

————————————————————————————————

Trống đồng Đông Sơn – hiện vật tiêu biểu của văn minh Việt Nam thời dựng nước

Phần I: Khái quát về việc nghiên cứu, phân loại trống đồng ở quốc tế Chúng ta đều biết, trống đồng phân bổ rất rộng, có nhiều kiểu dáng khác nhau, tồn tại trong những thời gian sớm muộn khác nhau, do những người khác nhau sang tạo ra. Đây là một nhận định hết sức quan trọng được hầu hết các nhà nghiên cứu chấp nhận. Cho đến nay, trống đồng đã phát hiện được ở các nước Đông Nam Á như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonexia, Thái Lan, Hoa Nam.

Hoa Hạ và Ấn Độ không phải là khu vực phân bố của trống đồng. Dù có mặt ở nhiều quốc gia, nhưng không phải  tất cả các nước đó đều đúc trống đồng. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho chỉ có 2 trung tâm trống đồng là Bắc Việt Nam và Vân Nam Trung Quốc, là 2 khu vực có trình độ luyện kim sớm và cao trong thiên niên kỷ thứ I trước  CN. Còn các khu vực khác phát triển muộn hơn hoặc do buôn bán trao đổi, ban tặng mà có.

Trống đồng Ngọc Lũ- hiện vật tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn, hiện vật của BTLSQG.

Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã tiến hành phân trống đồng thành các loại hình khác nhau. Trong đó đáng chú ý là cách phân loại của nhà khảo cổ học người Áo F.Heger từ những năm 1902. Trong công trình “Những trống kim khí cổ ở Đông Nam Á”, ông phân trống đồng thành 4 loại chính và các loại hình trung gian. Trống loại I: có 3 phần tang, thân và chân phân biệt rõ ràngcân đối là loại trống có niên đại sớm nhất và trang trí đẹp nhất, phát hiện được nhiều nhất ở Bắc Việt Nam và Hoa Nam, mà tiêu biểu là loại trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ nước ta. Trống loại II muộn hơn, có 3 phần tang, thân và chân trống phân biệt không thật rõ rang trang trí các vành văn hoa chanh, văn đồng tiền, phát hiện được nhiều trong vùng đồng bào Mường sinh sống từ Phú Thọ đến Nghệ An và miền Nam Trung Quốc. Trống loại III có kiểu dáng hơi khác, mặt trống tràn rộng ra ngoài, tang, thân và chân gần hình ống, phân bố chủ yếu ở vùng Shan Miến Điện, cho đến những năm cuối TK XIX vẫn còn sản xuất. Trống loại IV gần giống kiểu dáng loại I nhưng thấp nhỏ, trang trí 12 con giáp, hoa văn tiền đồng và chữ Hán, phân bố chủ yếu ở vùng dân tộc Hoa Nam, trong những năm đầu TK XX người dân vùng này vẫn sử dụng trong các dịp lễ. Các nhà khảo cổ học người Pháp trước đây như V.Goloubev, Parmentier và nhiều nhà khảo cổ học trong nước đều sử dụng cách phân loại của F.Heger.

Trống đồng Hoàng Hạ – hiện vật BTLSQG.

Các nhà khảo cổ học Trung Quốc từ rất sớm cũng đã tiến hành nghiên cứu phân loại trống đồng. Trịnh Sinh Hứa với cuốn “Lược khảo về trống đồng” xuất bản năm 1937; Văn Hựu với cuốn “Sưu tập trống đồng cổ” xuất bản năm 1957 và trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu như Khâu Trung Luận, Tường Đình Du, Lỹ Vĩ Khanh, Hoàng Tăng Khánh… đã tiến hành phân trống đồng thành 7 hay 8 loại khác nhau như: Vạn Gia Bá, Thạch Trại Sơn, Lĩnh Thủy Xung, Tuấn Nghĩa, Ma Giang, Bắc Lưu, Linh Sơn, Tây Minh. Các loại hình này cũng nằm trong 4 loại chính và các loại trung gian của phân loại F.Heger, nhưng dung địa điểm phát hiện các trống đồng tiêu biểu làm đại diện. Cái khác nhau cơ bản là các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho loại hình Vạn Gia Bá là loại trống đồng trang trí giản đơn, không có các vành hoa văn đẹp thuộc giai đoạn sớm nhất, trong lúc các nhà nghiên cứu chúng ta thì cho loại đó thuộc loại muộn nhất trong trống loại I Heger . Trống thuộc loại I Heger có niên đại vào khoảng TK V trước CN đến TK I-III sau CN.

Mặt Trống đồng Ngọc Lũ.

Đáng chú ý ban đầu hầu hết các trống đồng đều phát hiện ngẫu nhiên trong long đất hoặc trong các đền chùa, nên không xác định được tính chất văn hóa cũng như tộc thuộc của chúng, như các trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Miếu Môn… Sau này, khi phát hiện được nhiều di tích khảo cổ thời đại kim khí trên lưu vực sông Hồng, sông Mã và đặc biệt là văn hóa Đông Sơn đươc xác lập thì việc nghiên cứu trống đồng có nhiều thuận lợi. Với sự giống nhau một cách kỳ lạ giữa hoa văn trang trí trên trống đồng và trên đồ đồng văn hóa Đông Sơn như thạp, thố, rìu giáo, tấm che ngực… và đặc biệt trong một số mộ tang như mộ thuyền Việt Khê, khu mộ Làng Cả, Làng Vạc hay trong một số di chỉ văn hóa Đông Sơn đã phát hiện được trống đồng to cũng như trống đồng minh khí thì trống đồng được xác nhận là một hiện vật tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn. Do đó, hầu hết các nhà nghiên cứu trong nước đều xem tróng đồng loại I Heger phát hiện ở VN hầu hết là trống đồng Đông Sơn và đề nghị gọi chúng là trống đồng Đông Sơn.

Hoa văn trống đồng Ngọc Lũ.

Không phải tất cả trống đồng phát hiện được ở ta đều thuộc trống đồng Đông Sơn, nhưng muộn hơn và có quan hệ gần xa với trống đồng Đông Sơn. Ngoài trống đồng Đông Sơn, trên đất nước ta đã phát hiện được nhiều loại trống đồng như trống Heger loại II, còn gọi là trống Mường vì được phát hiện ở vùng người Mường cư  trú và trong các mộ Mường. Theo GS Hoàng Xuân Chinh, người Mường không phải là người đúc trống đồng. Trống của họ là do triều đình phong kiến Việt Nam ban tặng cho các quan lang, quý tộc Mường. Cho đến nay, nước ta là khu vực có trống loại I Heger phân bổ đậm đặc nhất. Trống đồng Đông Sơn phát hiện được ngày một nhiều. Năm 1975, cả nước chỉ phát hiện được 65 chiếc. Năm 1985 đã có 144 chiếc; năm 1995 có 190 chiếc. Hàng năm đều có phát hiện; đây là số liệu thống kê chính thức được thông báo trong các Hội nghị khảo cổ học hàng năm. Một số địa phương cũng liên tục phát hiện trống đồng Đông Sơn như Thanh Hóa, Hà Tây(cũ), Đắc Lắc. Riêng Lào Cai 2 năm 1993,1994 phát hiện được 19 chiếc. Tỉnh Đắc Lắc chỉ trong vài ba năm gần đây, đã phát hiện được sáu, bảy chục chiếc trống đồng Đông Sơn. Ước tính cả nước phát hiện được trên 500 chiếc trống đồng Đông Sơn.Đó là chưa kể hàng vài trăm trống minh khí. Hiện nay nhiều nhà sưu tầm cổ vật trong nước cũng thích sưu tập lưu giữ trống đồng Đông Sơn. Có người lưu giữ vài chiếc, cũng có người lưu giữ hàng hai chục chiếc.

Hoa văn trang trí trống đồng Hoàng Hạ.

Chính việc phát hiện được nhiều trống đồng Đông Sơn đã làm thay đổi nhận định của một số nhà nghiên cứu trống đồng cổ Trung Quốc. GS Hoàng Xuân Chinh từng có nhiều lần đến thăm quan bảo tàng các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Quý Châu, Thượng Hải, Bảo tàng dân tộc Bắc Kinh…thấy rằng Trung Quốc cũng phát hiện được khá nhiều trống đồng; nhưng chủ yếu là trống loại II và loại IV theo phân loại của Heger. Trống đồng loại I không có nhiều và phát hiện được ở Vân Nam, Quảng Tây. Còn Quý Châu, Quảng Châu tuy cũng thuộc Hoa Nam nhưng cho đến nay cũng chỉ mới phát hiện được vài chiếc. Vài năm trước, khi GS Tưởng Đình Du Chủ tịch Hội nghiên cứu trống đồng Trung Quốc cổ Trung Quốc sang thăm nước ta, sau khi tham quan một số bảo tàng có trưng bày trống đồng như BTLS QG Việt Nam, Bảo tàng Hà Tây (cũ), Bảo tàng Thanh Hóa… Trong buổi tọa đàm trước lúc về nước, ông đã phát biểu là miền Bắc Việt Nam và Vân Nam- Trung Quốc là 2 trung tâm trống đồng thế giới. Quan điểm này hoàn toàn khác với quan điểm của GS cũng như giới nghiên cứu trống đồng Trung Quốc. Trước đó, tại hội thảo quốc tế về trống đồng ở Nam Ninh, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đưa ra nhận định: “ Trống đồng khu vực Bắc bộ Việt Nam tương đối tập trung cũng chỉ là một quả dưa tương đối lớn kết trên vô số nhánh của sự phát triển của trống; gốc của nhánh dưa này vẫn ở tỉnh Vân Nam nước ta” (!) Nhưng trên thực tế, sự có mặt với số lượng lớn của trống đồng Đông Sơn nước ta đã đánh bại tư tưởng sô vanh bành trướng trong nhận định phiến diện, thiếu căn cứ khoa học trên của các nhà nghiên cứu Trung Quốc.

oOo

Năm 1987, các tác giả Phạm Minh Huyền, Nguyễn Văn Huyên và Trịnh Sinh trong cuốn “ Trống đồng Đông Sơn” đã giới thiệu 144 chiếc trống đồng Đông Sơn, cùng đề cập đến một số trống đồng Đông Sơn phát hiện được ở các nước Đông Nam Á. Công phu hơn cả là công trình nghiên cứu tập thể của Viện Khảo cổ học do GS Phạm Huy Thông chủ trì “ Trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam” bằng hai ngôn ngữ Anh- Việt xuất bản năm 1990, đã giới thiệu 118 trống lớn, 6 trống minh khí với đầy đủ bản vẽ và ảnh. Đây có thể coi là công trình công bố một cách đầy đủ, cập nhất về trống đồng Đông Sơn lúc bấy giờ.

Trên cơ sở nguồn tư liệu đó, nhiều vấn đề về trống đồng Đông Sơn được đề cập đến, nhất là vấn đề phân loại trống đồng.

Trống Sông Đà- một loại trống đồng Đông Sơn, hiện vật thuộc quyền quản lý của Bảo tàng Guimet (Pháp).

Về kiểu dáng trống đồng Đông Sơn phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho là có 2 dạng trống đồng. Một dạng là trống thấp lùn, một dạng là trống cao gầy. Nhưng mối quan hệ giữa hai dạng kiểu dáng này thì chưa được sáng tỏ. Sự diễn biến của trống trước hết được thể hiện trên mặt trống.  Loại trống sớm như Ngọc Lũ, Cổ Loa, Hoàng Hạ có mặt trống nhỏ hơn tang trống. trống càng muộn, mặt trống càng rộng ra, loại muộn nhất mặt trống tràn ra ngoài tang trống. Những loại trống sớm trên mặt trống chưa có các nhóm tượng cóc, loại trống muộn trên mặt trống có gắn tượng cóc ngồi theo chiều ngược kim đồng hồ, có loại là tượng cóc đơn, có loại là tượng cóc cõng nhau.

Hoa văn trang trí thân trống đồng Ngọc Lũ.

Đó là về kiểu dáng, còn về hoa văn trang trí trên mặt, tang và thân trống cũng có những diễn biến nhất định. Trước hết những trống sớm, hoa văn trang trí phong phú, ngoài các loại hoa văn kỹ hà như văn vòng tròn đồng tâm, vòng tròn đơn, vòng tròn kép, vòng tròn tiếp tuyến, văn răng cưa, văn răng lược, hồi văn … còn có các vành hoa văn về động vật như chim bay, chim đứng rình mồi, hưu nai chạy, bò u, cá sấu…Đặc biệt là hoa văn tả cảnh sinh hoạt của con người lúc bấy giờ như cảnh giã gạo đôi, cảnh đánh trống, đánh chiêng, cảnh trẻ em chơi trồng nụ trồng hoa, cảnh nhảy múa, cảnh đua thuyền, cảnh thuyền chiến v.v…

Hoa văn trang trí tang trống đồng Ngọc Lũ.

Những hoa  văn này được khắc vẽ rất hiện thực sinh động. Những trống muộn có xu hướng giảm dần hoa văn và ngày càng cách điệu. Cảnh người hóa trang nhảy múa trông giống như cờ lau bay, không rõ hình người. và một số trống đã không còn các vành hươu, nai xuất hiện. Ngay cả vành tả cảnh sinh hoạt trên mặt trống cũng không còn, mà chỉ còn hoa văn kỹ hà cùng một vành có 4 hoặc 6 con chim bay theo chiều ngược kim đồng hồ, tang trống không còn vành thuyền chiến hoặc đua thuyền. Hoa văn kỹ hà cũng trang trí theo một quy trình chặt chẽ, trống nào đã trang trí văn răng lược thì không có văn răng cưa, hoặc trái lại đã có văn răng cưa thì không có văn răng lược; không bao giờ trang trí lẫn lộn văn răng lược và văn răng cưa với nhau.

Hình họa trang trí mặt trống đồng Hoàng Hạ.

Trên cơ sở diễn biến của kiểu dáng và hoa văn trang trí, các nhà khảo cổ học nước ta phân loại trống đồng Đông Sơn thành các loại hình có niên đại sớm muộn khác nhau. Trong đó, nhóm trống Ngọc Lũ đẹp nhất, có niên đại sớm nhất. Nhóm trống muộn nhất có kích thước nhỏ, chế tạo thô thiển, hoa văn trang trí cực kỳ đơn giản, thường chỉ có văn mặt trời. Tiêu biểu cho loại này là trống Thượng Nông, trống Đào Xá, trống Tùng Lâm.

Giữa hai nhóm trống đó là nhóm trống có kích thước tương đối nhỏ, hoa văn đơn giản chỉ còn vành hoa văn chim bay. Nhóm này có số lượng tương đối lớn, tiêu biểu là trống Định Công, trống Quảng Thắng, trống Bình Đà.  Nhóm trống này có kích thước tương đối lớn. Mặt trống hơi chườm ra ngoài tang trống và có khối lượng cóc trên mặt trống, hoa văn trang trí trên mặt trống được cách điệu cao như kiểu cờ bay; tiêu biểu là trống Hữu Chung, trống Lạc Long, trống Phú Phương…

Qua các phân tích trên, chúng ta có thể thấy rõ: từ trong hàng ngàn, hàng vạn trống đồng phân bổ trên một vùng rộng lớn của Đông Nam Á, các nhà khảo cổ đã nhận biết ra được trống đồng loại 1 HeGer. Rồi trên cơ sở phân tích kiểu dáng và phong cách hoa văn trang trí cùng trang phục của các hình người trang trí trên trống đồng loại I Heger đã nhận ra sự khác biệt của trống đồng Đông Sơn khác với trống đồng loại I Heger của tộc Điền Vân Nam, Trung Quốc. Từ đó đi đến xác định trống đồng Đông Sơn là di vật tiêu biểu của người Việt cổ thời dựng nước đầu tiên của dân tộc.

Hoa văn trang trí trống đồng Hoàng Hạ.

Trong quá trình phát triển hàng mấy trăm năm, trống đồng Đông Sơn có diễn biến nhất định về kiểu dáng cũng như hoa văn trang trí, nhưng vẫn giữ được kiểu dáng và các loại hoa văn cơ bản. Đó chính là những đặc trưng cơ bản của truyền thống văn hóa Việt cổ mà ngày nay chúng ta vẫn còn bắt gặp trong các đường trang trí trên váy Mường, trên các nhạc cụ của người Việt v.v…

Có thể nói trống đồng Đông Sơn được nhận thức là tinh hoa của cuộc sống Đông Sơn. Nó phản ánh trí tuệ, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Đông Sơn. Chính vì thế có thể xem trống đồng Đông Sơn là hiện vật tiêu biểu của văn minh Đông Sơn, cũng là văn minh Việt Nam thưở dựng nước.

Minh Vượng (Sưu tầm & tổng hợp)

Leave a Reply