home Tài Liệu, Văn Học Vài Suy Nghĩ về Tiếng Việt và Chữ Việt

Vài Suy Nghĩ về Tiếng Việt và Chữ Việt

1.

Tiếng nói gắn liền với cuộc sống của con người. Ngay từ khi lọt lòng, tiếng khóc đầu tiên được phát ra để biểu tỏ cảm nhận đầu tiên của con người về đời sống. Tùy theo kinh nghiệm diễn giải, cảm nhận ấy có thể là đói, lạnh, bất an, không thoải mái. Con người lớn dần và học nghe cùng với nói để giao tiếp với người khác, để biểu tỏ cảm nhận, cảm nghĩ, cảm tưởng của mình về thế giới quanh mình.

Trước khi có các phát minh khoa học để lưu giữ tiếng nói, người ta đã dùng các loại chữ viết như phương  tiện để ghi nhớ cho chính mình và để thông tin cho người khác. Chữ viết nguyên thủy mô phỏng môi trường xung quanh nơi con người sống: hoặc là những hình vẽ đơn sơ mô tả cành cây, hòn đá, dòng nước, con vật, hoặc có tính trừu tượng như vòng tròn chỉ mặt trời, mặt trăng, hoặc những vạch chữ thập chỉ ngôi sao. Xã hội phát triển, con người tiến đến việc thành lập những bảng mẫu tự căn bản và nghĩ ra cách lắp ghép những mẫu tự căn bản ấy với nhau. Trải qua thời gian thử nghiệm và sàng lọc, những cách lắp ghép này trở thành ngữ pháp, văn phạm với đặc trưng của từng địa phương, từng dân tộc. Chúng đã trở thành ngôn ngữ.

Chữ viết của mỗi dân tộc có thể khác nhau về hình thức tùy theo bảng mẫu tự căn bản. Chữ của người Arab giống hình ngọn lửa; chữ của người Thái, Miến, Miên, Lào giống hình con rắn, con sâu; chữ của người India giống hình dây leo, chữ của người Hoa giống hình hộp…Người Việt được cho là đã sáng chế ra loại chữ giống hình con nòng nọc mà người Hoa gọi là chữ khoa đẩu. Hán sử chép vào thời Chu Công Đán, sứ giả Việt Thường đã đem tặng nhà Chu chim bạch trĩ; nhà Chu phải tìm người phiên dịch đến chín lần mới hiểu được thông điệp của Việt Thường.

http://fs.chungta.com/File.ashx/14124E6776864C6D8FB32525A6F38DAA/image=pjpeg/57172bfefbe24231af20b234b5b058a8/Viet%20lai%20bai%20%20hich.jpg

Sự thông hiểu lẫn nhau là một điều rất quan trọng, nên ngôn ngữ giữ vai trò hàng đầu trong việc thiết lập giao tiếp. Khi một xã hội thu nhỏ phát triển đến mức bão hòa, con người cần mở rộng hơn thêm những mối quan hệ vì sự sống còn cũng như sự phát triển của chính xã hội ấy. Từ bản năng sơ khai dành giựt để thoả mãn nhu cầu của riêng mình gặp phải những va chạm hay đối kháng để bảo vệ nhu cầu của chính mình từ đối phương, con người tập thoả hiệp và trao đổi, nên ngôn ngữ càng ngày càng trở nên quan trọng. Việc học biết thêm một  tiếng nói khác ngoài loại thường quen dùng trở nên cần thiết cho việc sinh tồn. Dần dần từ ngôn ngữ con người có dịp so sánh những khác biệt giữa mình và người khác, nhìn ra những ưu và khuyết điểm của mỗi bên, và có khuynh hướng thay đổi cách sống của mình. Những thay đổi này trở thành văn hoá, văn minh của một xã hội, một dân tộc.

2.

Trở lại với Tiếng Việt và Chữ Việt, chúng ta phải công nhận một điều tiếng Việt đã có từ khi nước Việt lập quốc. Không còn những tài liệu nào lưu giữ đến nay để ta có thểbiết tiếng Việt đã thay đổi hay tiến hoá đến chừng mực nào so với thuở ban đầu. Đó là một điều đáng buồn riêng vì sau mấy ngàn năm tồn tại, chúng ta chỉ còn cái Hồn Việt, nhưng cái Da Việt đã thay đổi rất nhiều. Nhưng đó cũng là lẽ vô thường của vũ trụ, biết bao nền văn minh rực rỡ cũng đã lụi tàn mai một theo dòng thời gian.

Tiếng Việt là loại tiếng đơn âm hay ít ra trong vòng năm trăm năm gần đây đã tiến đến trình độ đơn âm, nghĩa là một âm chỉ một sự vật hay một đồ vật. Tiếng Việt ngày nay có sáu dấu giọng, làm cho tiết tấu trở nên phong phú và du dương hơn. Sự phân biệt sáu dấu giọng được biểu hiện qua Chữ viết Việt hiện nay, tuy thực tế tại các địa phương khác nhau, sự phân biệt này không hoàn toàn rõ ràng cho lắm. Vì lãnh thổ trải dài, nên tiếng nói có khác đôi chút ở các vùng trên cùng một đất nước. Sự khác biệt này thay đổi tùy theo lối phát âm hay nhấn giọng ở phần đầu, phần giữa và phần cuối của chữ. Người miền Bắc thường phát âm sai những phụ âm trước nguyên âm (trời_giời, nhời_lời, làm_nàm,trâu_châu); người miền Trung thường phát âm sai dấu các nguyên âm (c_c, hột gà_hột ghè,  anh_eng, nói_noái, chi_chi); người miền Nam thường phát âm sai các phụ âm cuối chữ (ràn_ràng, lan_lang). Tuy nhiên có những ngoại lệ xảy ra vì tình trạng di cư, nên có khi ta sẽ nghe thấy những sự sai khác không phù hợp với các nhận xét chung trên đây. Ví dụ người Rch Giá phát âm thành người Gch Dá, v nhà phát âm thành dìa nhà, con trâu trng phát âm thành con tâu tng, con bò phát âm thành còn bò.

Để ký âm Chữ Việt cũng thay đổi diện mạo rất nhiều theo thời gian. Chữ Việt cổ, ngày nay còn lại dấu vết trong các lối ký âm của người Mường, Thái chỉ còn rất rất ít người biết đọc và viết. Qua gần một ngàn năm người Hán cố tình đồng hoá, người Việt thời ấy đành phải chấp nhận dùng chữ Hán để ký âm. Tuy thế, vẫn không đáp ứng được tất cả các âm tiết nên đã có sự cải biến bằng cách ghép chữ Hán để biểu trưng nghĩa Việt, tạo thành chữ Nôm. Nhờ vậy mà kho tàng chữ Việt trở nên phong phú hơn. Cùng một nghĩa núi sông, ta có thể viết theo quốc ngữ hiện đại là núi sông, theo chữ Nôm là  và theo chữ Hán là  (sơn hà). Điều này đem lại một ưu thế cho Chữ Việt vì cùng một nội dung văn bản, chữ Việt có nhiều hơn một cách ký âm. Người biết chữ Nôm có thể đọc và hiểu được chữ Hán trong khi người biết chữ Hán có thể không hiểu được một văn bản chữ Nôm vềcả hai mặt ký âm và ngữ pháp.

Việc Latin hoá Chữ Việt làm cho tiếng Việt có thêm một ưu thế trong thời buổi khoa học phát triển. Với 26 mẫu tự căn bản, nó dễ nhớ hơn nhiều so với 214 bộ thủ căn bản của chữ Hán. Chữ Việt dễ dàng hội nhập vào môi trường tin học sau một số cải biến nguồn vào (input source) so với các nước Đông bắc Á có cùng chung một hệ ngôn ngữảnh hưởng Hán ngữ. Người Hoa đã bỏ rất nhiều công sức trong việc Latin hoá Hoa ngữ nhưng hệ thống Quốc Âm Phù Hiệu của họ vẫn không hoàn chỉnh được vì không giải quyết triệt để  được vấn đề đồng âm dị nghĩa dù họ đã có thêm ký hiệu cho 4 dấu giọng.

Việc tiêu chuẩn hóa Tiếng Việt  và Chữ Việt là một điều cần làm. Để đạt đến tiêu chuẩn chắc chắng chúng ta cần có các điều sau: chính xác và đẹp đẽ. Có những chữ được phần chính xác nhưng không được đẹp đẽ thanh tao khi đọc lên. Có những chữ đọc lên nghe rất hay nhưng không mô tả đúng sự vật hay hiện tượng. Vì vậy Tiếng Việt và Chữ Việt còn cần được chỉnh sửa rất nhiều trước khi đến được chỗ hoàn mỹ.

Ít ra cho đến năm 1975, Chữ Việt và Tiếng Việt đã đạt được một tiêu chuẩn có thể chấp nhận được. Từ sau 1975, Chữ Việt bước sang một khúc ngoặt quan trọng vì hai dòng văn học hải ngoại và nội địa không thể dung hợp với nhau. Dòng văn học nội địa du nhập khá nhiều từ ngữ từ Hoa Lục với ý nghĩa đôi khi khác hẳn hay trái ngược hẳn với dòng văn học hải ngoại xem như là tiếp nối của dòng văn học miền Nam trước 1975. Sự lẫn lộn trong cách sử dụng động từ, danh từ, tính từ và trạng từ của Tiếng Việt nội địa, sựdu nhập những tính từ có tính chất khoa trương (hoành tráng, vĩ đại, anh hùng), hay những động từ ghép giản lược (chỉnh chu) làm cho Tiếng Việt trong nước trở nên rỗng tuếch và đầy khuôn sáo đến mức gây khó chịu cho những người đã từng quen với dòng văn học trước 1975. Từ sau nghị quyết 36 nhằm tấn công các cộng đồng Việt hải ngoại, dòng văn học nội địa đang lan rộng khắp các kênh truyền hình tiếng Việt ở hải ngoại với loại ngôn ngữ kỳ quặc khó hiểu. Người nói chỉ lập lại như một con vẹt vì nghe người khác nói, chứkhông hiểu rõ mình đang nói gì. Tiếng Việt từ đó mất dần sức sống, chữ không đủ để chuyên chở ý tưởng vì người nói không cảm thông được với đều mình muốn diễn tả. Chữ nhưnhững bộ áo quần may sẵn không thích hợp, vừa vặn với ý người muốn biểu đạt thì làm sao tạo được sự đồng cảm ở những người khác?

Vì sao lớp trẻ càng ngày càng ưa chuộng văn hoá nước ngoài? Vì họ không nhìn được cái hay cái đẹp trong văn hoá dân tộc, trong ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Những người lớn tuổi sau khi sang được các nước tạm dung hặc bận rộn về sinh kế, hoặc nóng lòng phục quốc, hoặc có nhiều việc quan trọng khác cần làm, nên đã quên việc duy trì tiếng nói và chữ viết Việt, và phát triển để tiếng nói và chữ viết không bị mai một. Vì “còn tiếng còn văn còn nước Việt, có trời có đất có dân Nam”

Rất mong được sự góp sức chung lòng của tất cả người Việt trên khắp năm châu.

pnt

 

Leave a Reply