home Chuyện Ngoài Phố, Khoa Học, Thực Nghiệm, Vụn vặt Ý KIẾN VỀ BẢN TIN “TIẾN SĨ LỮ PHÚC BÁ LÀ CHA ĐẺ CỦA GPS”.

Ý KIẾN VỀ BẢN TIN “TIẾN SĨ LỮ PHÚC BÁ LÀ CHA ĐẺ CỦA GPS”.

Ý KIẾN VỀ BẢN TIN “TIẾN SĨ LỮ PHÚC BÁ LÀ CHA ĐẺ CỦA GPS”.
Lê C. Thiêm.

(Nhân đọc bản tin “Cha đẻ của máy GPS là Cựu SQ/QL.VNCH”)

Theo nhiều tài liệu tra cứu, tôi không tìm thấy tên “Tiến Sĩ Lữ Phúc Bá” trong nhóm “cha đẻ” của Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) của Hoa Kỳ. Các tài liệu cho thấy chỉ có 3 người: Bradford Parkinson – người có nhiều công trạng nhất – Ivan Alexander Getting và Roger Lee Easton, Sr., là những người có công trong việc phát minh, thiết kế ra Hệ thống Định vị Toàn cầu.

Một điều nữa – có liên hệ, cũng là điều chứng minh – là khi tìm tiểu sử của Bradford Parkinson, hay Ivan A. Getting, hoặc Roger L. Easton, ngoài việc tài liệu đó viết về người nầy còn “đề cập” đến 2 người kia, đều được gọi là “cha đẻ” (từ ngữ tài liệu dùng) mà không có tên ông Lữ Phúc Bá.

Việc nói “không được quyền nổi danh vì lý do những công việc làm liên quan tới những bí mật quốc phòng” (như trong bài viết như thế) là lý luận “không ổn”. Rất nhiều người đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng, tên người phát minh, phát kiến, cha đẻ… của chương trình đó vẫn công bố, vinh danh một cách công khai.

Một điều khác, GPS do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thiết kế, xây dựng, vận hành và quản trị, không dính dáng gì đến NASA, nơi vinh danh Tiến Sĩ Lữ Phúc Bá – như trong bài đã viết, các phóng ảnh.

Như thế, việc phổ biến tin nầy cần phải xem lại.

Tin đưa ra công chúng thì phải chính xác. Ngày nay, khi tìm tài liệu để “minh xác” một chuyện gì không mấy khó, và tìm từ các nguồn tài liệu khả tín cũng không tốn kém hay khó khăn gì.

Các “cha đẻ” của GPS, xin vào Google, AskJeeves, Yahoo, ducducgo, Wikiwand,… tìm đọc thêm, ai cũng có thể làm được.

Tôi không có ý đả phá, công kích hay chống đối bản tin nói trên. Tuy nhiên, tin tức cần nên đúng, chính xác.

Liên hệ đến một tin “xêm xêm” tin nầy, xin chia xẻ cùng quý vị.

Cách đây vài thập niện, báo chí, email, tài liệu … bằng chữ Việt “rộ” lên một bản tin: CHA ĐẺ CỦA THẺ ATM LÀ MỘT NGƯỜI VIỆT. Không biết tin nầy muốn làm “vẻ vang dân Việt” về chuyện gì? (phát minh ra thẻ ATM hay khả năng “lòe” thiên hạ?).

Không những các tin nầy nêu tên người nầy (Đỗ Đức Cường) mà còn “vẽ” thêm nhiều chi tiết “trời ơi đất hỡi”, ngoài sức tưởng tượng (của tôi) về lý lịch người đó. Tôi đọc, dù không có điều gì vui mà tôi cũng không thể nhịn cười. Cười vì những người viết các bản tin đó có “máu tiếu lâm” trong huyết quản họ quá nhiều. Cười vì họ dám “lòe bịp” – hay coi thường – cả thế giới, khi khoa học kỹ thuật ngày nay đã đưa con người đi bằng những đôi hia 7 dặm trong lĩnh vực “thông tin” mà họ dám tung tin như vậy.

Người “cha đẻ” thẻ ATM gốc Việt “tưởng tượng” nếu đúng là người đó thì tôi biết khá rành: tên cha, cha làm gì, nghề kiếm tiền phụ của cha người là gì (đá gà, câu cá, nhứ chim…), ông ấy “cặp bồ” với bà nào; khi còn học sinh, người đó học ra sao (là học sinh xuất sắc hay học sinh thường) vì người đó học cùng trường (trung học đệ nhất cấp) ở một quận tại miền Trung, học sau tôi một lớp. Khi đó, học sinh Trung học còn ít, nhất là trường ở quân nên dễ biết nhau.

Tôi tin “tài bộ” người nầy không thể được như thế.

Sau khi xem tin nầy, tôi cũng đã tốn thời gian tìm hiểu “cha đẻ” của thẻ ATM là ai thì không có một cái tên “gốc mít” nào trong đó cả.

Vậy mà có rất nhiều người tin, nên chuyển tiếp (forward) tin đó đi khắp bạn bè. Rồi sau vài tháng, lại có người nào đó mới xem tin đó lần đầu, lại forward đi khắp nơi một lần nữa. Thế là tin “cha đẻ thẻ ATM là 1 người VN” bay đến tận … mây! Chán mớ đời!

Thêm một chuyện nữa: cách đây 16 năm, cộng đồng VN lại rộ lên tin “Tem của Bựu điện Mỹ có in hình lá cờ VNCH – cờ vàng 3 sọc đỏ”. Tin chuyển đi, rồi được forward túa xua. Rồi còn khuyên nhau “nên mua đi, để dành làm kỷ niệm”. Khi đó, lúc đọc tin nầy, tôi đã có viết một lời đính chính: “Đó là chuyện chơi”: Có một website của một “tay chơi nhà nghề” nào đó – cũng là 1 “sư” computer” lập ra để hướng dẫn làm chơi cho vui.
Sở dĩ tôi nhớ rõ năm 2005 vì năm đó tôi có đứa cháu ngoại gái mới sinh được 1 tuổi, trong bài đính chính, tôi có ghi địa chỉ website đó, hướng dẫn cách làm, rồi tôi lấy hình đứa cháu gái của tôi đưa vào làm mẫu cho “con term bưu điện Mỹ” đó, rồi trả lời cho vài người gởi đi tin đó ra cộng đồng. Vậy mà vài tháng sau, email lại tiếp tục trở lại chủ đề nầy. Trước kỳ dịch cúm Tàu, tin “tem bưu điện Mỹ in cờ VNCH” lại sống lại và chu du trên các diễn đàn Việt ngữ lần nữa.

Tóm lại, những tin có tính chất “quan trọng” như thế, cần phải xem lại thì hơn.

Trân trọng,

Lê Chánh Thiêm.

* * *

Dưới đây là một tài liệu liên quan đến một người trong các “cha đẻ” của GPS, dịch từ bản tin viết bằng Anh ngữ, gởi đến quý vị để biết thêm cho vui.

“CHA ĐẺ CỦA GPS” ĐƯỢC TRAO HUY CHƯƠNG DANH DỰ IEEE.
(“FATHER OF GPS” AWARDED IEEE MEDAL OF HONOR).
By Pablo Valerio
IoT Times
May 11, 2018

Lần tới khi bạn mở Google Maps để tìm đường đi, hãy nghĩ về một cựu paperboy có niềm đam mê với bản đồ, người đã lãnh đạo nhóm tạo ra GPS.

Tại lễ vinh danh của Viện Kỹ sư Điện và Điện tử (Institute of Electrical and Electronics Engineers, IEEE) hôm nay tại San Francisco, Bradford Parkinson, một Đại tá không quân đã nghỉ hưu, người đã dành cả cuộc đời của mình giữa bản đồ và hệ thống định vị, sẽ được trao Tặng Huân chương Danh dự IEEE 2018, “Vì những đóng góp căn bản và lãnh đạo trong việc phát triển thiết kế và thúc đẩy các ứng dụng ban đầu của Hệ thống định vị toàn cầu” (“For fundamental contributions to and leadership in developing the design and driving the early applications of the Global Positioning System”).

Trong thế giới ngày nay của các thiết bị được kết nối, chúng ta coi điều hướng vệ tinh, thường được gọi là GPS, là điều hiển nhiên. Chúng tôi sử dụng nó trên điện thoại thông minh hàng ngày, để có được vòng bi của chúng tôi khi chúng tôi lái xe đến một địa điểm mới, khi chúng tôi tìm kiếm một địa chỉ trên đường phố và khi chúng tôi gửi vị trí của chúng tôi cho tài xế Uber.

Nhiều thiết bị được kết nối khác dựa vào GPS cho nhiều chức năng, chẳng hạn như theo dõi hàng hóa, quản lý đội tàu, giám sát giao thông công cộng, v.v… Một số thiết bị cần GPS chỉ để có được thời gian chính xác mà không cần kết nối với mạng di động.

Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) hiện tại đã không tồn tại cho đến năm 1995, chỉ 22 năm trước, và kỹ sư đứng đầu dự án cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (DOD) là ông Parkinson.

Parkinson, người có công việc đầu tiên là cung cấp báo, có niềm đam mê với bản đồ. Ông đã sử dụng những bản đồ đó khi đi xuồng để điều hướng các hồ và suối của Minnesota, được hỗ trợ bởi một la bàn tay. Khi tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 1957 với bằng Cử nhân Khoa học Kỹ thuật, ông gia nhập Không quân để nghiên cứu các hệ thống định vị. Năm 1960, khi cấp trên của ông nhìn thấy tiềm năng kỹ thuật của ông, họ đã gửi ông đến Viện Công nghệ Massachusetts để theo đuổi nghiên cứu sau đại học. Ông trở thành một protegee của Charles Stark (Doc) Draper, cha đẻ của hàng hải quán tính, người đang giảng dạy tại MIT vào thời gian đó. Draper là kỹ sư trưởng phát triển các hệ thống máy tính cho chương trình Apollo của NASA.

“Sự đánh giá cao của tôi về lý thuyết điều khiển, dụng cụ quán tính và độ chính xác của điều hướng đều được Doc và phòng thí nghiệm của ông ấy thúc đẩy”, Parkinson nói. “Nếu không có nền tảng đó, rất khó có khả năng tôi sẽ tham gia vào GPS, tàu chiến hoặc cuối cùng là một giáo sư có nhiệm kỳ tại Stanford. Trong khi Học viện Hải quân là một trường kỹ thuật vững chắc tốt, tôi đã phải chuyển bánh răng khi tôi đến MIT.

Sau khi tốt nghiệp MIT năm 1961 với bằng MS về hàng không, Parkinson tiếp tục học tại Stanford, nơi, vào năm 1966, ông nhận bằng tiến sĩ về hàng không và vật lý thiên văn. Một trong những phát minh đầu tiên của ông là một cảm biến có thể cho biết vị trí của rotor so với trục mong muốn. Công nghệ này vẫn được sử dụng ngày nay bởi các hệ thống định vị quán tính.

Đó là vào năm 1972 khi con đường của ông trên định vị quán tính va chạm với các hệ thống vệ tinh. Gần đây, ông đã được thăng cấp đại tá khi nhận được một cuộc gọi từ một đại tá khác là một phần của hướng dẫn quán tính của Không quân “mafia”. Ông chuyển đến Los Angeles và gia nhập nhóm, một nhóm các kỹ sư không quân từ MIT. Sau đó, Parkinson yêu cầu làm việc trong chương trình Air Force 621B, nguồn gốc của GPS.

Ban đầu, ông không quan tâm và từ chối lời đề nghị vì chương trình được coi là hoàn toàn chết trong nước. Nhưng vị tướng ba sao đưa ra lời đề nghị nhấn mạnh, và thật khó để một đại tá hoàn toàn mới nói không với một vị tướng.
Vì vậy, Parkinson đã đồng ý với điều kiện ông được bổ nhiệm làm quản lý chương trình với toàn quyền. Ông tiếp quản 621B vào giữa năm 1973.

Phải mất hơn 20 năm để hệ thống GPS ban đầu đi vào hoạt động. Nhiều thách thức của họ liên quan đến việc khắc phục những hạn chế của công nghệ vào thời điểm đó, chẳng hạn như không có khả năng sửa đổi tín hiệu vô tuyến CDMA để cho phép cả tín hiệu dân sự và tín hiệu quân sự được bảo vệ, cũng như không có đồng hồ nguyên tử ánh sáng có thể xử lý bức xạ không gian trên vệ tinh.

Các đồng hồ nguyên tử trên các vệ tinh rất quan trọng để cho phép các thiết bị cầm tay nhỏ, nhận tín hiệu và tính toán độ trễ thời gian, cơ sở định vị GPS. Nhờ Roger Easton tại Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Hải quân và công việc của ông về đồng hồ nguyên tử không gian, giờ đây chúng ta có một máy thu GPS nhỏ như đồng hồ đeo tay.

Đó là lý do tại sao Parkinson không muốn danh hiệu “cha đẻ của GPS”. Ông nói rằng ông là người ủng hộ chính, kiến trúc sư và nhà phát triển, nhưng không phải là nhà phát minh.

Khi Bradford Parkinson nghỉ hưu từ Không quân vào năm 1978, ông tiếp tục công việc của mình về GPS từ khu vực tư nhân. Ông từng là phó chủ tịch của Rockwell International Space Systems và phó chủ tịch của Intermetrics.

Năm 1984, Parkinson được đề nghị một vị trí toàn thời gian tại Stanford với tư cách là giáo sư hàng không và phi hành gia, nơi ông tham gia dự án Gravity Probe B dựa trên vệ tinh để đo độ cong không thời gian gần Trái đất. Hệ thống này được phóng vào năm 2004 và xác nhận hiệu ứng trắc địa là do không-thời gian bị “cong” bởi khối lượng của Trái đất.

Ngoài Huy chương Danh dự IEEE, Parkinson đã nhận được nhiều giải thưởng khác, bao gồm giá Marconi uy tín và nắm giữ một số bằng sáng chế.

Năm 2003, ông nhận được giải thưởng Draper “Vì khái niệm và phát triển hệ thống định vị toàn cầu (GPS)”. Mối quan hệ của ông với Doc Draper đã trở nên trọn vẹn.

Ở tuổi 83, Parkinson là giáo sư danh dự và đã được gọi trở lại làm nhiệm vụ tích cực tại Đại học Stanford.

Nguồn: https://iot.eetimes.com/father-of-gps-awarded-ieee-medal…/

Đọc thêm: HUY CHƯƠNG DANH DỰ IEEE.

Huy chương Danh dự IEEE là sự công nhận cao nhất của Viện Kỹ sư Điện và Điện tử (Institute of Electrical and Electronics Engineers, IEEE). Nó đã được trao từ năm 1917, khi người nhận đầu tiên của nó là Thiếu tá Edwin H. Armstrong. Nó được trao cho một đóng góp đặc biệt hoặc một sự nghiệp phi thường trong các lĩnh vực IEEE quan tâm. Giải thưởng bao gồm một huy chương vàng, bản sao đồng, giấy chứng nhận và danh dự. Huân chương Danh dự chỉ có thể được trao cho một cá nhân.

Huy chương được tạo ra bởi Viện Kỹ sư Vô tuyến (Institute of Radio Engineers, IRE) với tư cách là Huân chương Danh dự IRE. Nó đã trở thành Huân chương Danh dự IEEE khi IRE sáp nhập với Viện Kỹ sư Điện Hoa Kỳ (American Institute of Electrical Engineers, AIEE) để thành lập IEEE vào năm 1963. Người ta đã quyết định rằng Huy chương Danh dự của IRE sẽ được trao là giải thưởng cao nhất của IEEE, trong khi Huy chương Edison sẽ trở thành huy chương chính của IEEE. Edward Field Sanford, Jr. đã thiết kế huy chương vào năm 1917.

Mười người có sự nghiệp đặc biệt trong kỹ thuật điện đã nhận được cả Huy chương IEEE Edison và Huy chương Danh dự IEEE, cụ thể là Edwin Howard Armstrong (1917), Ernst Alexanderson (1919), Mihajlo Pupin, Arthur E. Kennelly, Vladimir K. Zworykin (1951), John R. Pierce, Sidney Darlington, Nick Holonyak, Robert H. Dennard, Dave Forney và Kees Schouhamer Immink.

 

————————————————————————————-

AI HỌA KIỂU SÁNG TẠO RA MÁY ĐỊNH VỊ?
(GPS – GLOBAL POSITIONING SYSTEM)
Hiện nay nhiêu người đã sử dụng máy định vị GPS để đi đường, khỏi phải dùng bản đồ. Máy GPS giúp người ta đến các địa chỉ cần tìm như hàng ăn, cây xăng, cửa tiệm, … và tất nhiên là đến đúng ngay số nhà cần tìm.
Quân đội Mỹ đã sử dụng máy này để đột nhập vào ngôi nhà mà Bin Laden (Trùm khủngbố).

Một trong bốn người họa kiểu máy định vị (GPS) là Tiến Sĩ Lữ Phúc Bá. Ông là vị sĩ quan đầu tiên trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa có cấp bằng Tiến Sĩ Truyền Thông của Hoa Kỳ. Ông được Cục Truyền Tin/Quân Lực VNCH gửi đi tu nghiệp tại Mỹ và khi trở về được bổ nhiệm làm Giám Đốc Cơ Quan Quản Trị Truyền Thông (Communications Management Agency, CMA) sau này đổi tên thành Trung Tâm Điều hành Viễn Liên trực thuộc Phòng 6/Tổng Tham Mưu do Đại Tá Nguyễn Văn Thịnh (CA) là Giám Đốc. Trung tâm này có trách nhiệm bảo đảm và duy trì liên lạc viễn liên trên toàn cõi VN.

Vào khoảng năm 1970, ông được điều về Trung Tâm này tạm thời được Mỹ xây cất ngay cạnh P6/BTTM với mục đích chuẩn bị tiếp thu và tái phối trí các đài trong hệ thống viễn liên của Mỹ (ICS) trong kế hoạch Việt Nam Hóa. Sau năm 1972, các chuyên viên liên lạc truyền tin dân sự thay thế các cố vấn Mỹ trở vê nước, Trung Tâm Điều hành Viễn Liên hoàn toàn đảm trách cung cấp các mạch viễn liên cho quân đội và dân sự.

Sau Biến Cố tháng 30/4/1975, ông bị tập trung cải tạo. Nhưng sau Cộng Sản cho ông cùng một số nhân viên khác miễn tù cải tạo với danh nghĩa là chuyên viên và bị quản chế ngay trong Bộ Tổng Tham Mưu để làm cho hệ thống viễn liên tái hoat động. Sau đó vài năm ông được ra ngoài và đi vượt biên. Tới Mỹ, ông được đặc biệt giúp đỡ ghi danh học lại và sau đó được tuyển dụng vào làm tại NASA ở Houston, TX. Ông cũng được đặc biệt giúp đỡ bảo lãnh ngay vợ con qua Mỹ.

Hiện nay ông đã về hưu. Tôi là người phục vụ trực tiếp dưới quyền ông và đã gặp lại ông tại Houston năm 2010. Ông đưa cho tôi coi một số tưởng lục (award) về những công trình nghiên cứu khoa học của ông.

Có thể nói TS Lữ Phúc Bá là một trong những nhân tài Việt không được quyền nổi danh vì lý do những công việc làm liên quan tới những bí mật quốc phòng. Ông nói với tôi: “Moa là một trong bốn người họa kiểu máy này. Nhưng phải 10 năm sau, máy này mới được phép đưa ra cho dân sự sử dụng.”

Leave a Reply